Mở rộng vùng rau an toàn Thủ đô

Xây dựng cơ chế chính sách phát triển các vùng chuyên canh rau an toàn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm cơ hội tiếp cận nguồn thực phẩm sạch của người dân. Tuy nhiên, để thay đổi phương thức sản xuất, kinh doanh của người dân, đòi hỏi sự nỗ lực của nhiều ngành, nhiều cấp, sự liên kết giữa các tỉnh, thành phố cũng như sự nhập cuộc nhanh nhạy của các nhà đầu tư.

Người sản xuất đang trông đợi các hình thức khuyến khích, hỗ trợ áp dụng quy trình kỹ thuật sản xuất an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP… Ảnh: Hoàng Hà
Người sản xuất đang trông đợi các hình thức khuyến khích, hỗ trợ áp dụng quy trình kỹ thuật sản xuất an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP… Ảnh: Hoàng Hà

Quy hoạch chậm và rối

Quyết định số 5391/QÐ-BNN-TT, ngày 26-12-2016 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) được ban hành nhằm xây dựng quy hoạch vùng sản xuất rau an toàn (RAT) cung cấp cho TP Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Theo đó, tính riêng TP Hà Nội đã quy hoạch khoảng 22 nghìn đến 26 nghìn ha đất nông nghiệp để sản xuất RAT tại chín tỉnh, thành phố thường xuyên cung cấp rau cho TP Hà Nội, gồm: Vĩnh Phúc (2.500 ha), Hà Nam (915 ha), Hưng Yên (710 ha), Bắc Giang (3.000 ha), Bắc Ninh (2.035 ha), Sơn La (460 ha), Hòa Bình (5.000 ha), Lào Cai (600 ha), Hà Nội (6.940 ha). Ðịnh hướng đến năm 2030 vùng cung cấp rau cho TP Hà Nội tại các tỉnh trong vùng quy hoạch đạt khoảng 106.000 - 125.000 ha.

Quy hoạch đã tính toán đến bình diện của từng vùng, và người sản xuất kỳ vọng được hỗ trợ, khuyến khích áp dụng quy trình kỹ thuật sản xuất an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP… để tạo ra sản phẩm chất lượng bảo đảm an toàn thực phẩm (ATTP); khuyến khích DN và Hợp tác xã (HTX) liên kết với người dân. Song sau ba năm, trên thực tế việc thực hiện QÐ 5391 chưa hề có tiến triển. Trong khi các tỉnh, thành phố còn chưa có động thái phối hợp triển khai QÐ này, thì lại đến thời điểm Luật Quy hoạch có hiệu lực. Vậy là kể từ ngày 1-1-2019, các địa phương không còn thực hiện theo quyết định của Bộ NN&PTNT, thay vào đó, tự lên phương án quy hoạch vùng RAT cho mình, ông Nguyễn Như Cường, Cục trưởng Trồng trọt (Bộ NN&PTNT) - đơn vị được giao chủ trì, tham mưu cho bộ hướng dẫn các địa phương trong vùng quy hoạch triển khai thực hiện phương án quy hoạch, cho biết.

Ở góc độ chuyên gia nông nghiệp, ông Hoàng Trọng Thủy cho rằng, việc quy hoạch vùng sản xuất RAT vô cùng phức tạp và phải tính toán nhiều vấn đề. Cách thức để Bộ NN&PTNT quy hoạch cho các tỉnh, thành phố rất khó thành công vì mang tính áp đặt, chủ quan. Thêm nữa, đất đai là do nông hộ quản lý, việc trồng cây gì để cung cấp ra thị trường còn phụ thuộc nguồn lao động của hộ dân đó, cộng với nguồn đầu tư, hỗ trợ và phối hợp của các HTX nông nghiệp. Mấu chốt của vấn đề vẫn phải trông vào quyết tâm hành động của các địa phương.

Mở rộng vùng rau an toàn Thủ đô -0
Rất khó kiểm soát chất lượng rau được bán tràn lan trên thị trường. 

Phát triển vùng chuyên canh - cách nào?

Quay trở lại với quy hoạch vùng RAT ở Hà Nội. Vào năm 2012, UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định 17/2012/QÐ-UBND về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển nông nghiệp TP Hà Nội đến năm 2020, định hướng năm 2030. Cũng trong năm này, UBND thành phố Hà Nội ban hành Công văn số 7260/UBND-KH&ÐT chấp thuận phê duyệt quy hoạch vùng sản xuất rau quả an toàn đến năm 2020 ở một số xã, thị trấn khu vực ngoại thành. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn vướng mắc ở khâu thực thi.

Mới đây, UBND thành phố Hà Nội tiếp tục ban hành Kế hoạch số 137/KH-UBND ngày 3-7-2020 về việc "Duy trì, mở rộng phát triển sản xuất và tiêu thụ RAT thành phố Hà Nội giai đoạn 2021-2025". Theo đó thành phố chỉ đạo ngành nông nghiệp mở rộng thêm từ 3.000-4.000 ha sản xuất RAT, với giá trị sản xuất đạt từ 300-500 triệu đồng/ha/năm. Ðồng thời, tăng cường kiểm soát 30-40 mô hình chuỗi cung cấp RAT và 100% sản phẩm có thể truy xuất được nguồn gốc xuất xứ, bảo đảm ATTP. Với phần diện tích sản xuất rau không chuyên canh, nhỏ lẻ, manh mún, xen kẹt, thành phố chỉ đạo quản lý và hướng dẫn thực hiện theo đúng quy trình sản xuất an toàn.

Tuy nhiên, cần phải nhắc đến thực tế, với 5.044 ha sản xuất tập trung, sản lượng rau xanh do địa bàn Hà Nội sản xuất mới đạt hơn 700.000 tấn/năm, đáp ứng khoảng 65% nhu cầu của người tiêu dùng Thủ đô, phần còn lại do các địa phương khác chuyển về. Như vậy, sẽ không thể thiếu sự phối hợp quy hoạch những vùng rau "vệ tinh" quanh Hà Nội để bảo đảm tốt hơn về nguồn rau. Theo GS, TS Nguyễn Hồng Sơn, Giám đốc Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam, ở các tỉnh quanh Hà Nội đều đã có những quy hoạch, kế hoạch của riêng họ. Song hạn chế của các vùng chuyên canh hiện nay là sản xuất vẫn trên nền tảng nhỏ lẻ, chưa tính nhiều đến tham gia chuỗi liên kết, kể cả liên kết giữa các tỉnh, thành phố. Giải bài toán khó này, cần thu hút nguồn lực để phát triển các vùng chuyên canh đúng nghĩa, đạt cả về chất lượng và sản lượng. "Các tỉnh phát triển RAT, để không chỉ cung cấp cho nội tại tỉnh đó, mà còn bán cho đô thị đông dân như Hà Nội", ông Sơn nhấn mạnh.

Theo Sở NN&PTNT Hà Nội, hiện nay thành phố đã có kết nối, hợp tác về sản xuất, tiêu thụ nông sản với nhiều tỉnh. Riêng Hà Nam đã quy hoạch 20 vùng chuyển đổi trồng rau, quả chất lượng cao để cung cấp cho thị trường Hà Nội.

Ðể sự liên kết sản xuất và tiêu thụ đạt hiệu quả cao, ông Hoàng Trọng Thủy kiến nghị: "Hiện nay Luật Ðất đai chưa rõ chính sách về tập trung, tích tụ đất đai, nên người dân không muốn cho thuê đất, DN thì không muốn đầu tư. Bởi thế cần chỉnh Luật Ðất đai theo hướng rõ ràng hơn về tích tụ đất đai, để người dân tin và mạnh dạn đứng ra đầu tư".

Thêm nữa, theo các chuyên gia, rất cần đến sự phối hợp nhịp nhàng của các địa phương và quyết tâm cao của chính người dân, các HTX nông nghiệp, là chủ thể trong quy hoạch ở các địa phương, nếu không sẽ rất khó kiểm soát về chất lượng khi rau được đưa về Hà Nội. Ðồng thời cũng cần tạo cơ chế để những vùng đã được quy hoạch hoặc đã giải phóng mặt bằng có thể xây dựng đạt hiệu quả.

Ông Lê Ngọc Khanh, Chủ tịch hội Cơ khí nông nghiệp Việt Nam, nêu ý kiến: Nhà nước tiếp tục điều chỉnh, hoàn thiện quy trình kỹ thuật sản xuất RAT; ứng dụng cơ giới hóa phù hợp sản xuất rau (máy xới tay, máy phun thuốc, hệ thống tưới tiết kiệm...); áp dụng các biện pháp kỹ thuật có hiệu quả cao (nhà lưới, phủ bạt, khay gieo hạt...); ứng dụng các chế phẩm sinh học trong canh tác (phân hữu cơ vi sinh, thuốc bảo vệ thực vật sinh học...); nghiên cứu khai thác thiên địch để phòng, chống sâu bệnh hại, hạn chế tối đa việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật.

Một vấn đề khác, để RAT có chỗ đứng trên thị trường, cần những cơ chế, chính sách khuyến khích của nhà nước, đồng thời kết nối để người trồng rau và DN tiêu thụ rau gặp được nhau. Bà Phạm Thị Lý, Giám đốc HTX Nông nghiệp hữu cơ Tiên Dương (huyện Ðông Anh) đề xuất: Ðiều cần làm là tạo điều kiện để các HTX liên kết với các chuỗi cung ứng nông sản, siêu thị, giúp RAT không còn bị đánh đồng với rau trôi nổi.

Với một thành phố đông dân thứ nhì cả nước như Hà Nội, nhu cầu tiêu thụ RAT của hơn tám triệu người dân vô cùng lớn. Bởi thế, việc triển khai các kế hoạch phát triển vùng, liên kết các tỉnh rất cần sự vận động của người nông dân, các HTX, DN… đã đến lúc RAT dần tìm được thị phần của mình.

Dự báo đến năm 2025, nhu cầu rau xanh tại Hà Nội khoảng 1.205.000 tấn, trong đó, Hà Nội tự sản xuất 799.200 tấn, còn lại 405.800 tấn được cung cấp từ các tỉnh khác. Ðến năm 2030, nhu cầu tăng lên là 1.315.000 tấn. Năng lực sản xuất tại Hà Nội đạt 867.500 tấn, các tỉnh khác cung cấp 447.500 tấn.

Tổ chức chuyên đề: Lưu Hương, Nguyễn Văn Học, Lê Ðức Nghĩa.

Có thể bạn quan tâm

Trên hành trình hướng đến mục tiêu xanh, thanh niên đang từng bước trở thành chủ thể trực tiếp của phát triển.Ảnh: AGriS

THẾ HỆ NET ZERO - lực lượng quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia

Chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững không còn là những lựa chọn mang tính khuyến khích, mà đã trở thành điều kiện để mỗi quốc gia duy trì sức cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu nhiều biến động. Trong cuộc đua ấy, quốc gia nào chuẩn bị tốt hơn nguồn nhân lực cho nền kinh tế xanh sẽ có lợi thế cạnh tranh trong nhiều thập niên tới.

Với lợi thế công nghệ, thanh niên ngày nay hoàn toàn có thể tham gia hiện đại hóa nông nghiệp. Ảnh: TTXVN

Hiện thực hóa khát vọng bằng hành động

LTS - Từ những chiến dịch tình nguyện vì môi trường, các dự án khởi nghiệp xanh đến những sáng kiến công nghệ phục vụ cộng đồng, thanh niên Việt Nam đang ngày càng hiện diện rõ nét trong hành trình hiện thực hóa mục tiêu phát thải ròng bằng “0”. Đằng sau những chuyển động ấy là vai trò kết nối, dẫn dắt của tổ chức Đoàn cùng tinh thần dấn thân của một thế hệ trẻ sẵn sàng biến khát vọng cống hiến thành những hành động cụ thể. Góc nhìn từ cán bộ Đoàn và các bạn trẻ tiêu biểu cho thấy: Net Zero không còn là một mục tiêu vĩ mô, mà đang được hiện thực hóa từ chính những việc làm gần gũi mỗi ngày.

Dự án Hải Lưu Ngược đã kết hợp truyền thông văn hóa với công nghệ thực tế tăng cường để tuyên truyền bảo vệ môi trường.

Bền vững bắt đầu từ ý tưởng, thực thi

Hành trình chuyển dịch xanh của một quốc gia không thể đơm hoa kết trái, nếu chỉ dừng lại ở những tiếng hô hào hay các bản đề xuất nằm trên giấy. Phát triển bền vững đòi hỏi tư duy hành động thực chất, được bảo chứng bằng năng lực thực thi bài bản.

Những cánh đồng mía bất tận khiến Trần Nguyễn Huy Ninh ngỡ ngàng, thay đổi hoàn toàn cái nhìn về nông nghiệp hiện đại. Ảnh: AgriS

Hãy hình dung về một nền nông nghiệp rất khác!

Tôi sinh ra trong một gia đình làm nông nghiệp truyền thống tại Đà Lạt, vì vậy hình ảnh đầu tiên trong ký ức tôi về nghề nông là những buổi sáng bắt đầu từ rất sớm, những mùa vụ phụ thuộc nhiều vào thời tiết và nỗi lo thường trực về giá cả, sâu bệnh, năng suất…

Hiện nay, không ít cơ hội đang mở ra để các bạn trẻ tiếp cận những nguồn vốn cho các ý tưởng xanh. Trong ảnh: Hội thảo “Kết nối những nhà đổi mới nổi bật cho các hành động bền vững” (P4G) do Mạng lưới Thanh niên Hành động vì Khí hậu YNet Việt Nam, Đại học Công nghệ Đan Mạch (DTU) tổ chức.

Đứng chân trên bản đồ nghề nghiệp mới

Khi các doanh nghiệp phải thay đổi để đáp ứng những tiêu chuẩn xanh ngày càng khắt khe của thị trường toàn cầu, một “bản đồ nghề nghiệp” mới cũng dần hình thành. Với thanh niên, đó là cơ hội để khởi nghiệp, để đổi mới sáng tạo và trực tiếp góp phần hiện thực hóa mục tiêu Net Zero của đất nước.

Người dân quét giấy tờ gốc, xác thực bản sao điện tử tại Kiosk thông minh, chi nhánh số 1, Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Tháo bỏ những rào cản vô hình

Mối quan hệ giữa Nhà nước và người dân là một yếu tố mang tính nền tảng đối với hành trình phát triển của mọi quốc gia. Cải cách thủ tục hành chính dựa trên các thành tựu khoa học-công nghệ, vì thế, được xem như minh chứng cho nỗ lực thay đổi từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ, đặt người dân vào vị trí trung tâm của các chính sách.

Anh Lê Minh Thiện (phải) hỗ trợ ông Nguyễn Xuân Bình làm thủ tục ủy quyền lương hưu. Ảnh: Thành Đạt

Đưa hệ thống chạm tới nhóm người yếu thế

Mới đây, Hà Nội đã hoàn thành 100% mục tiêu của chiến dịch liên ngành bảo đảm chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội không bị gián đoạn. Kết quả này có được là nhờ hoạt động của Tổ hành chính công xung kích, với những công chức không quản nắng mưa, gõ cửa từng nhà.

Người dân Ấn Độ liên kết số Aadhaar của mình với tài khoản ngân hàng để phục vụ thanh toán trực tuyến.

Hai mặt của tấm huy chương

Ở Estonia, hầu hết thủ tục từ khai sinh cho con đến kê đơn thuốc, được thực hiện trong vài cú chạm. Còn tại Ấn Độ, một cụ bà có thể bị máy định danh từ chối phát gạo trợ cấp vì dấu vân tay đã mòn. Hai hình ảnh trái ngược ấy cùng gợi mở một số vấn đề mà Việt Nam cần nắm vững khi bước vào nền hành chính số.

Dù triển khai dịch vụ công trực tuyến, người dân vẫn phải mất nhiều lượt đi lại trực tiếp mới hoàn tất khâu nộp hồ sơ.

Gỡ khó cho tuyến cơ sở

Việc đẩy mạnh chuyển đổi số và triển khai dịch vụ công trực tuyến thời gian qua đã đạt được những thành tựu bước đầu rất đáng ghi nhận. Tuy nhiên, thực tiễn vận hành tại một số địa phương sau khi sáp nhập đơn vị hành chính vẫn thể hiện sự thiếu đồng bộ về dữ liệu chuyên ngành và hạ tầng kỹ thuật.

Ông Bùi Dương, Giám đốc Chi nhánh Trung tâm Phục vụ hành chính công số 1 Thành phố Hà Nội.

Mỗi dữ liệu chỉ khai một lần, mỗi kết quả sử dụng nhiều lần

Xoay quanh nỗ lực thu hẹp khoảng cách giữa một thủ tục được đưa lên môi trường số và một thủ tục thật sự giảm được thời gian cũng như chi phí cho người dân, doanh nghiệp, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với ông Bùi Dương, Giám đốc Chi nhánh Trung tâm Phục vụ hành chính công số 1 Thành phố Hà Nội.

Chuyển đổi số chỉ thành công khi người dân cảm nhận được nền hành chính đơn giản hơn, minh bạch hơn và phục vụ tốt hơn. Ảnh: Thành Đạt

Thiết lập nền hành chính với tư duy số

Năm 2026 đánh dấu bước chuyển quan trọng của nền hành chính Việt Nam khi mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đi vào vận hành đầy đủ, đồng thời dịch vụ công trực tuyến cấp tỉnh, cấp xã được tập trung trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây không chỉ là sự thay đổi về hạ tầng công nghệ, mà còn là phép thử đối với năng lực cải cách bộ máy và tư duy quản trị.

Hạn hán kỷ lục cấp 4 tại Ninh Thuận (cũ) do chịu ảnh hưởng của đợt El Nino hồi năm 2020. Ảnh: Thành Đạt

Bước chuyển tư duy ứng phó siêu El Nino

El Nino đã hình thành và được dự báo tiếp tục mạnh lên trong nửa cuối năm 2026, tiếp nối sang đầu năm 2027, làm gia tăng nguy cơ nắng nóng kéo dài, thiếu hụt lượng mưa theo mùa, suy giảm nguồn nước, dẫn đến hạn hán và xâm nhập mặn nghiêm trọng. 

Ông Hoàng Đức Cường, Phó Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường).

Chuyển từ “dự báo hiện tượng” sang “cảnh báo tác động”

Chỉ trong vài tháng đầu năm 2026, trạng thái đại dương và khí quyển vùng xích đạo Thái Bình Dương đã đảo chiều đột ngột sang pha El Nino. Với xác suất kéo dài xuyên qua năm 2027 lên tới trên 95%, đợt thiên tai này đang đặt ra những thách thức phi truyền thống đối với an ninh năng lượng, sản xuất nông nghiệp và an ninh nguồn nước quốc gia. Nhân Dân cuối tuần có cuộc trao đổi sâu với ông Hoàng Đức Cường, Phó Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) về bước chuyển tư duy chiến lược: Dùng kịch bản rủi ro và dự báo tác động để bảo vệ các động lực tăng trưởng kinh tế.

Lực lượng chức năng và đoàn thể xã Đất Mới (tỉnh Cà Mau) hỗ trợ giúp dân khắc phục hậu quả sau sạt lở đất.

Thiên tai đi qua, tình người ở lại

Dải đất cực nam Tổ quốc có ba bề sóng vỗ. Bên cạnh sự trù phú của tài nguyên biển và rừng ngập mặn, nơi đây cũng là một trong những vùng đất chịu nhiều tổn thương do biến đổi khí hậu. Vào mùa mưa bão, những thiên tai dị thường liên tiếp ập đến, đe dọa trực tiếp đến cuộc sống của người dân.

Các chiến sĩ thuộc Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Ninh Thuận (cũ), nay là tỉnh Khánh Hòa, mang nước sạch đến cho người dân thôn Tà Nôi. Ảnh: Thành Đạt.

Ưu tiên bảo đảm an ninh nguồn nước

Dưới tác động của El Nino, các chuyên gia khuyến nghị: Các cấp ngành, địa phương cần ưu tiên giải pháp bảo đảm an ninh nguồn nước cho các vùng có nguy cơ thiếu nước.

Những thách thức rất lớn đang chờ đợi các vòng đàm phán khí hậu sắp diễn ra.

Thế giới sau hồi chuông báo động

Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) vừa xác nhận: El Nino đã hình thành và có khả năng gia tăng cường độ trong những tháng tới. Trong bối cảnh nhiều mô hình khí hậu dự báo hiện tượng này có thể phát triển tới mức Siêu El Nino, Liên hợp quốc đã kêu gọi các quốc gia khẩn trương triển khai các biện pháp ứng phó nhằm hạn chế thiệt hại.

Các bạn trẻ tương tác với màn hình ở kios tìm hiểu thông tin về Văn Miếu-Quốc Tử Giám. Ảnh: Đại Dương

Cần một “nhạc trưởng”

Mọi lĩnh vực của đời sống văn hóa đang chuyển động theo chiều hướng tích cực nhờ ứng dụng các công nghệ hiện đại. Trong hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam, việc triển khai Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và có hiệu lực kể từ ngày ký, ngày 2/12/2021, đã cho thấy rất rõ một thực tiễn: Công nghệ đã giúp mở rộng tầm nhìn về di sản.

Đồ án tốt nghiệp thiết kế bao bì và đồ chơi 3D mang tên Thanh Cầm của sinh viên Bùi Khánh Linh, Trường đại học Sư phạm nghệ thuật Trung ương, lấy cảm hứng từ trang phục truyền thống. Nguồn ảnh: NUAE Photography Club

Đồng bộ giữa yêu cầu bảo tồn và số hóa

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số nhà quản lý, nhà nghiên cứu và đại diện đơn vị công nghệ tham gia số hóa di tích, di sản văn hóa về tác động xã hội của thành quả ban đầu trong công tác số hóa di sản văn hóa, cũng như những khả thể trong kiến thiết một nền tảng dữ liệu lớn về di sản văn hóa Việt Nam.

Lâu đài Shuri trước khi bị hỏa hoạn. Nguồn: CC BY-SA 4.0

Phương thức tiếp cận linh hoạt và hiệu quả

Trước những tác động của thời gian, biến đổi khí hậu, thiên tai và quá trình đô thị hóa, việc số hóa di sản đã và đang trở thành một xu hướng được nhiều quốc gia quan tâm như một giải pháp hỗ trợ công tác bảo tồn, nghiên cứu và quảng bá di sản.

Các triển lãm, trưng bày phát huy giá trị của lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II thu hút sự quan tâm của công chúng. Nguồn: NAC2

Những cánh cửa đang ngày càng rộng mở

Hàng loạt triển lãm được thiết kế hiện đại, hình ảnh phong phú, tài liệu văn bản được chuyển ngữ tiếng Việt bên cạnh ngoại ngữ phổ biến là tiếng Anh, được trình hiện cả trong không gian vật lý và trực tuyến. Cùng đó, việc số hóa thúc đẩy công tác truyền thông của các Trung tâm lưu trữ quốc gia đã và đang góp phần quan trọng làm rộng mở hơn bao giờ hết lối về lịch sử cho công chúng hôm nay, nhất là lớp trẻ.

Đội ngũ chuyên gia, kỹ sư của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và đối tác trao đổi về kỹ thuật quét 3D tại Điện Thái Hòa. Ảnh: Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế

Cơ hội lớn cho kinh tế số

Cả nước hiện có 357 bảo vật quốc gia, 153 di tích quốc gia đặc biệt, 6 di sản văn hóa, 2 di sản thiên nhiên, 1 di sản hỗn hợp, 11 di sản tư liệu và 17 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh ở cấp độ thế giới hoặc khu vực. Bên cạnh công tác bảo vệ và phát huy giá trị của các di sản, di tích, hiện vật đặc biệt quý giá này ở định dạng vật lý, việc số hóa một cách bài bản sẽ đem lại rất nhiều lợi ích về văn hóa và kinh tế.

Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ thuộc nhóm nhanh nhất thế giới. Nguồn: HAI

TỪ ÁP LỰC AN SINH ĐẾN NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN

Khi con người khỏe mạnh hơn và tiếp tục cống hiến lâu hơn, chính khái niệm về tuổi già cũng đang được viết lại. Từ những chuyển động của kinh tế, chính sách đến sự thay đổi trong mỗi gia đình, thế giới đang bước vào một kỷ nguyên dân số mới, nơi giá trị của một quốc gia không chỉ được đo bằng quy mô dân số, mà còn bằng khả năng phát huy nguồn vốn con người ở mọi lứa tuổi.

Thế hệ người cao tuổi hôm nay có sức khỏe và khả năng tham gia các hoạt động kinh tế-xã hội tốt hơn trước. Nguồn: HAI

Viết lại mệnh đề dân số

Thành tựu y tế cùng xu hướng giảm sinh đang tạo nên một cuộc biến đổi nhân khẩu học sâu sắc nhất lịch sử: Già hóa dân số toàn cầu. Đã đến lúc không thể nhìn nhận cục diện này như một bài toán an sinh thuần túy, mà cần chuyển hóa thành động lực đổi mới mô hình phát triển, khơi thông nguồn vốn con người và kiến tạo tương lai bền vững.

Những gia đình bốn thế hệ ngày càng nhiều trong xã hội. Ảnh: HẢI NAM

Để một ngày được già đi trong tự chủ

Chúng ta vẫn quen nói đến già hóa dân số bằng những con số: Tỷ lệ người cao tuổi tăng lên, mức sinh giảm xuống, tuổi thọ ngày càng kéo dài. Nhưng sau những biểu đồ và dự báo ấy là một thay đổi âm thầm hơn rất nhiều: Cấu trúc của mỗi gia đình đang được viết lại.

Một người thợ cao niên đang cần mẫn làm việc, hình ảnh dễ thấy tại Nhật Bản. Ảnh: NYT

Cách thế giới khai thác nền kinh tế bạc

Nhật Bản kéo dài tuổi lao động đến 70 và khuyến khích các doanh nghiệp tuyển dụng người già, còn Trung Quốc muốn thu hút hàng chục nghìn tỷ nhân dân tệ (NDT) từ túi tiền của thế hệ cao niên. Hai chiến lược khác nhau cho cùng một bài toán kinh tế bạc: Làm sao để duy trì tăng trưởng, khi dân số ngày càng già đi?

Ông Trần Viết Lưu

Tuổi thọ tăng, cơ hội cũng phải tăng!

Việt Nam hiện có hơn 17 triệu người cao tuổi. Khi tuổi thọ trung bình tăng nhanh, nhóm dân số này cần được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển kinh tế-xã hội thay vì gánh nặng an sinh. Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Viết Lưu - Phó Chánh Văn phòng Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam khẳng định: Thay đổi nhận thức của xã hội chính là bước đi tiên quyết cho quá trình chuyển đổi này.