Mở rộng vùng rau an toàn Thủ đô

Xây dựng cơ chế chính sách phát triển các vùng chuyên canh rau an toàn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm cơ hội tiếp cận nguồn thực phẩm sạch của người dân. Tuy nhiên, để thay đổi phương thức sản xuất, kinh doanh của người dân, đòi hỏi sự nỗ lực của nhiều ngành, nhiều cấp, sự liên kết giữa các tỉnh, thành phố cũng như sự nhập cuộc nhanh nhạy của các nhà đầu tư.

Người sản xuất đang trông đợi các hình thức khuyến khích, hỗ trợ áp dụng quy trình kỹ thuật sản xuất an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP… Ảnh: Hoàng Hà
Người sản xuất đang trông đợi các hình thức khuyến khích, hỗ trợ áp dụng quy trình kỹ thuật sản xuất an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP… Ảnh: Hoàng Hà

Quy hoạch chậm và rối

Quyết định số 5391/QÐ-BNN-TT, ngày 26-12-2016 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) được ban hành nhằm xây dựng quy hoạch vùng sản xuất rau an toàn (RAT) cung cấp cho TP Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Theo đó, tính riêng TP Hà Nội đã quy hoạch khoảng 22 nghìn đến 26 nghìn ha đất nông nghiệp để sản xuất RAT tại chín tỉnh, thành phố thường xuyên cung cấp rau cho TP Hà Nội, gồm: Vĩnh Phúc (2.500 ha), Hà Nam (915 ha), Hưng Yên (710 ha), Bắc Giang (3.000 ha), Bắc Ninh (2.035 ha), Sơn La (460 ha), Hòa Bình (5.000 ha), Lào Cai (600 ha), Hà Nội (6.940 ha). Ðịnh hướng đến năm 2030 vùng cung cấp rau cho TP Hà Nội tại các tỉnh trong vùng quy hoạch đạt khoảng 106.000 - 125.000 ha.

Quy hoạch đã tính toán đến bình diện của từng vùng, và người sản xuất kỳ vọng được hỗ trợ, khuyến khích áp dụng quy trình kỹ thuật sản xuất an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP… để tạo ra sản phẩm chất lượng bảo đảm an toàn thực phẩm (ATTP); khuyến khích DN và Hợp tác xã (HTX) liên kết với người dân. Song sau ba năm, trên thực tế việc thực hiện QÐ 5391 chưa hề có tiến triển. Trong khi các tỉnh, thành phố còn chưa có động thái phối hợp triển khai QÐ này, thì lại đến thời điểm Luật Quy hoạch có hiệu lực. Vậy là kể từ ngày 1-1-2019, các địa phương không còn thực hiện theo quyết định của Bộ NN&PTNT, thay vào đó, tự lên phương án quy hoạch vùng RAT cho mình, ông Nguyễn Như Cường, Cục trưởng Trồng trọt (Bộ NN&PTNT) - đơn vị được giao chủ trì, tham mưu cho bộ hướng dẫn các địa phương trong vùng quy hoạch triển khai thực hiện phương án quy hoạch, cho biết.

Ở góc độ chuyên gia nông nghiệp, ông Hoàng Trọng Thủy cho rằng, việc quy hoạch vùng sản xuất RAT vô cùng phức tạp và phải tính toán nhiều vấn đề. Cách thức để Bộ NN&PTNT quy hoạch cho các tỉnh, thành phố rất khó thành công vì mang tính áp đặt, chủ quan. Thêm nữa, đất đai là do nông hộ quản lý, việc trồng cây gì để cung cấp ra thị trường còn phụ thuộc nguồn lao động của hộ dân đó, cộng với nguồn đầu tư, hỗ trợ và phối hợp của các HTX nông nghiệp. Mấu chốt của vấn đề vẫn phải trông vào quyết tâm hành động của các địa phương.

Mở rộng vùng rau an toàn Thủ đô -0
Rất khó kiểm soát chất lượng rau được bán tràn lan trên thị trường. 

Phát triển vùng chuyên canh - cách nào?

Quay trở lại với quy hoạch vùng RAT ở Hà Nội. Vào năm 2012, UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định 17/2012/QÐ-UBND về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển nông nghiệp TP Hà Nội đến năm 2020, định hướng năm 2030. Cũng trong năm này, UBND thành phố Hà Nội ban hành Công văn số 7260/UBND-KH&ÐT chấp thuận phê duyệt quy hoạch vùng sản xuất rau quả an toàn đến năm 2020 ở một số xã, thị trấn khu vực ngoại thành. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn vướng mắc ở khâu thực thi.

Mới đây, UBND thành phố Hà Nội tiếp tục ban hành Kế hoạch số 137/KH-UBND ngày 3-7-2020 về việc "Duy trì, mở rộng phát triển sản xuất và tiêu thụ RAT thành phố Hà Nội giai đoạn 2021-2025". Theo đó thành phố chỉ đạo ngành nông nghiệp mở rộng thêm từ 3.000-4.000 ha sản xuất RAT, với giá trị sản xuất đạt từ 300-500 triệu đồng/ha/năm. Ðồng thời, tăng cường kiểm soát 30-40 mô hình chuỗi cung cấp RAT và 100% sản phẩm có thể truy xuất được nguồn gốc xuất xứ, bảo đảm ATTP. Với phần diện tích sản xuất rau không chuyên canh, nhỏ lẻ, manh mún, xen kẹt, thành phố chỉ đạo quản lý và hướng dẫn thực hiện theo đúng quy trình sản xuất an toàn.

Tuy nhiên, cần phải nhắc đến thực tế, với 5.044 ha sản xuất tập trung, sản lượng rau xanh do địa bàn Hà Nội sản xuất mới đạt hơn 700.000 tấn/năm, đáp ứng khoảng 65% nhu cầu của người tiêu dùng Thủ đô, phần còn lại do các địa phương khác chuyển về. Như vậy, sẽ không thể thiếu sự phối hợp quy hoạch những vùng rau "vệ tinh" quanh Hà Nội để bảo đảm tốt hơn về nguồn rau. Theo GS, TS Nguyễn Hồng Sơn, Giám đốc Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam, ở các tỉnh quanh Hà Nội đều đã có những quy hoạch, kế hoạch của riêng họ. Song hạn chế của các vùng chuyên canh hiện nay là sản xuất vẫn trên nền tảng nhỏ lẻ, chưa tính nhiều đến tham gia chuỗi liên kết, kể cả liên kết giữa các tỉnh, thành phố. Giải bài toán khó này, cần thu hút nguồn lực để phát triển các vùng chuyên canh đúng nghĩa, đạt cả về chất lượng và sản lượng. "Các tỉnh phát triển RAT, để không chỉ cung cấp cho nội tại tỉnh đó, mà còn bán cho đô thị đông dân như Hà Nội", ông Sơn nhấn mạnh.

Theo Sở NN&PTNT Hà Nội, hiện nay thành phố đã có kết nối, hợp tác về sản xuất, tiêu thụ nông sản với nhiều tỉnh. Riêng Hà Nam đã quy hoạch 20 vùng chuyển đổi trồng rau, quả chất lượng cao để cung cấp cho thị trường Hà Nội.

Ðể sự liên kết sản xuất và tiêu thụ đạt hiệu quả cao, ông Hoàng Trọng Thủy kiến nghị: "Hiện nay Luật Ðất đai chưa rõ chính sách về tập trung, tích tụ đất đai, nên người dân không muốn cho thuê đất, DN thì không muốn đầu tư. Bởi thế cần chỉnh Luật Ðất đai theo hướng rõ ràng hơn về tích tụ đất đai, để người dân tin và mạnh dạn đứng ra đầu tư".

Thêm nữa, theo các chuyên gia, rất cần đến sự phối hợp nhịp nhàng của các địa phương và quyết tâm cao của chính người dân, các HTX nông nghiệp, là chủ thể trong quy hoạch ở các địa phương, nếu không sẽ rất khó kiểm soát về chất lượng khi rau được đưa về Hà Nội. Ðồng thời cũng cần tạo cơ chế để những vùng đã được quy hoạch hoặc đã giải phóng mặt bằng có thể xây dựng đạt hiệu quả.

Ông Lê Ngọc Khanh, Chủ tịch hội Cơ khí nông nghiệp Việt Nam, nêu ý kiến: Nhà nước tiếp tục điều chỉnh, hoàn thiện quy trình kỹ thuật sản xuất RAT; ứng dụng cơ giới hóa phù hợp sản xuất rau (máy xới tay, máy phun thuốc, hệ thống tưới tiết kiệm...); áp dụng các biện pháp kỹ thuật có hiệu quả cao (nhà lưới, phủ bạt, khay gieo hạt...); ứng dụng các chế phẩm sinh học trong canh tác (phân hữu cơ vi sinh, thuốc bảo vệ thực vật sinh học...); nghiên cứu khai thác thiên địch để phòng, chống sâu bệnh hại, hạn chế tối đa việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật.

Một vấn đề khác, để RAT có chỗ đứng trên thị trường, cần những cơ chế, chính sách khuyến khích của nhà nước, đồng thời kết nối để người trồng rau và DN tiêu thụ rau gặp được nhau. Bà Phạm Thị Lý, Giám đốc HTX Nông nghiệp hữu cơ Tiên Dương (huyện Ðông Anh) đề xuất: Ðiều cần làm là tạo điều kiện để các HTX liên kết với các chuỗi cung ứng nông sản, siêu thị, giúp RAT không còn bị đánh đồng với rau trôi nổi.

Với một thành phố đông dân thứ nhì cả nước như Hà Nội, nhu cầu tiêu thụ RAT của hơn tám triệu người dân vô cùng lớn. Bởi thế, việc triển khai các kế hoạch phát triển vùng, liên kết các tỉnh rất cần sự vận động của người nông dân, các HTX, DN… đã đến lúc RAT dần tìm được thị phần của mình.

Dự báo đến năm 2025, nhu cầu rau xanh tại Hà Nội khoảng 1.205.000 tấn, trong đó, Hà Nội tự sản xuất 799.200 tấn, còn lại 405.800 tấn được cung cấp từ các tỉnh khác. Ðến năm 2030, nhu cầu tăng lên là 1.315.000 tấn. Năng lực sản xuất tại Hà Nội đạt 867.500 tấn, các tỉnh khác cung cấp 447.500 tấn.

Tổ chức chuyên đề: Lưu Hương, Nguyễn Văn Học, Lê Ðức Nghĩa.

Có thể bạn quan tâm

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.

Diễn giả Nguyễn Quốc Vương trong một lần chia sẻ về văn hóa đọc với các em học sinh. Ảnh: NVCC

Như mạch nước kiên trì lan tỏa

Năm nay đánh dấu 10 năm tôi theo đuổi con đường khuyến đọc. Trong 10 năm đó, tất cả công việc của tôi đều tập trung vào hoạt động khuyến đọc bao gồm viết, đọc, nói (diễn thuyết). Và thật sự, con đường này vẫn vô cùng gian nan.

Không ít bạn trẻ lướt mạng thay vì đọc sâu. Ảnh: VĂN HỌC

Dừng lại, suy ngẫm và chuyển hóa

Khi sự chú ý liên tục bị phân tán bởi các luồng thông tin ngắn, phản hồi tức thời, việc dành thời gian cho một cuốn sách, ý tưởng hay quá trình suy tư ngày càng trở nên khó khăn.

Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương Bằng

Nông nghiệp với ngã rẽ chuyển đổi tư duy

Biến đổi khí hậu cùng với các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, sản xuất xanh và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chuẩn bắt buộc, để nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải chuyển đổi tư duy sản xuất, tập trung vào chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng.

Châu thổ Cửu Long.

Kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Trước câu hỏi, đâu là mô hình tăng trưởng phù hợp để vừa phát huy những lợi thế sẵn có vừa giữ gìn bản sắc văn hóa sông nước vùng châu thổ Cửu Long? Nhân Dân cuối tuần đã ghi lại những ý kiến trao đổi của lãnh đạo các địa phương.

Hàng loạt công trình hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia được đầu tư xây dựng, góp phần kiến tạo động lực để vùng Đồng bằng sông Cửu Long cất cánh. Trong ảnh: Thi công cao tốc trục ngang Châu Đốc - Trần Đề. Ảnh: Phương Bằng

Vận hội vươn mình trước làn sóng đầu tư

Sau nhiều thập niên là “vùng trũng” về hạ tầng giao thông và thu hút đầu tư, Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước vận hội mới. Những tuyến cao tốc, trục dọc, đường ngang, đường vành đai ven biển, ven biên giới, nhiều cầu lớn vượt sông dần nên hình hài... góp phần vào việc thu hẹp khoảng cách kinh tế một cách nhanh chóng và tạo đà tăng trưởng mạnh mẽ.

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Du lịch trải nghiệm (Experiential travel) hay còn có cái tên khác là du lịch hòa nhập (Immersive travel) đã và đang hiện diện ngày càng rõ ràng hơn trong nhiều loại hình sản phẩm khác nhau ở Việt Nam, với một điểm chung: Yếu tố trải nghiệm luôn được ưu tiên ở vị trí số một.

Du khách trải nghiệm làm rối nước tại thôn Bàn Thạch (tên nôm là thôn Rạch), phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: LƯƠNG VĂN PHƯƠNG

Thước đo mới cho giá trị điểm đến

Là một xu hướng mới tại Việt Nam, đặc biệt từ sau đại dịch Covid-19, du lịch trải nghiệm khuyến khích du khách tối đa hóa các giá trị nhận lại từ điểm đến bằng cách hòa mình kết nối và trở thành một phần của đời sống, văn hóa địa phương, thay vì chỉ đóng vai trò quan sát, nhìn ngắm hời hợt.

Du khách học cách làm món đồ uống độc đáo cà-phê trứng của Hà Nội. (Nguồn ảnh: Dine With Locals)

Cách để “bán” câu chuyện cuộc sống

Truyền thống lịch sử lâu đời cùng địa lý đa dạng và nền văn hóa giàu bản sắc là nền tảng, điểm tựa để Việt Nam phát triển du lịch bền vững với phong phú yếu tố trải nghiệm. Chung quanh chủ đề này, Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia và người trực tiếp làm công tác quản lý, vận hành dịch vụ/ mô hình du lịch trải nghiệm ở Việt Nam.

Khách du lịch tham gia các hoạt động trải nghiệm trong tour Về làng học thêu tay. Ảnh: DÃ LIÊN

Tạo sức hút và năng lực cạnh tranh mới

Mô hình trải nghiệm làng nghề ở Hà Nội đã có từ lâu, như ở làng gốm Bát Tràng, song phần lớn đều dừng ở mức đơn giản, nặng tính “cưỡi ngựa xem hoa”, hoặc như một gia vị cho hoạt động tham quan. Thời gian gần đây, nhiều làng nghề đã đổi mới cách làm, từ đó tạo nên sức hút và năng lực cạnh tranh mới.

Trước mắt anh Phương Nam, Côn Đảo mở ra biết bao nhịp sống xanh, nguyên sơ, trong trẻo. Ảnh: MINH LÊ

Những “điểm chạm” nguyên sơ, trong trẻo

Côn Đảo lâu nay thường được nhắc đến như một vùng đất chứa đựng ký ức lịch sử bi tráng của dân tộc, với hệ thống nhà tù của thực dân và đế quốc cùng những trang sử đấu tranh của các chiến sĩ cách mạng. Nhưng đối với nhiều du khách, sau những “điểm chạm” vào thiên nhiên ở nơi này, Côn Đảo còn là biết bao nhịp xanh, nguyên sơ, trong trẻo.

Bên cạnh gia đình luôn là khoảng thời gian chất lượng để vun trồng một thế hệ hạnh phúc. Ảnh: UNICEF Việt Nam

Hôm nay, tôi đã lắng nghe con mình chưa?

Trong nhiều cuộc tiếp xúc với phụ huynh, rất nhiều cha mẹ chia sẻ với tôi một nguyện vọng rất thật: “Mong con được hạnh phúc”. Song, khi được hỏi: “Hạnh phúc là gì?”, nhiều người lại ngập ngừng.

Bà Nguyễn Phạm Duy Trang.

An toàn là nền móng của hạnh phúc!

Mùa hè không chỉ là khoảng thời gian nghỉ ngơi, vui chơi của trẻ em, mà còn là thời điểm đặt ra nhiều nỗi lo về an toàn, sức khỏe tinh thần và môi trường phát triển của các em trong bối cảnh xã hội hiện đại.

Ước mơ trở thành phi hành gia của bạn Nguyễn Lê Hà Vy, lớp 5B, Trường tiểu học Phúc Tân.

Ðiều chúng em mong muốn!

Trong guồng quay hối hả của cuộc sống hiện đại, nhiều khi những mong mỏi của trẻ em chưa được lắng nghe, chưa được thấu cảm trọn vẹn. Cần lắm những diễn đàn, những kênh kết nối để trẻ em được cất tiếng nói.

Ảnh sử dụng đồ hoạ AI.

Agentic AI - Cơ hội không chia đều cho tất cả

Năm 2026, Agentic AI nổi lên như hiện tượng công nghệ định hình lại cách thế giới làm việc. Bài toán đặt ra cho Việt Nam không còn là "có nên ứng dụng", mà phải "làm thế nào để bắt kịp và làm chủ" trong bối cảnh công nghệ đang tái định nghĩa năng suất, lao động và lợi thế cạnh tranh.