Giữ rừng, giữ sinh kế bền vững

Những ngày đầu năm 2026, nắng như dịu lại khi chúng tôi lạc bước dưới những vòm xanh ngắt của rừng ngập mặn lớn nhất Việt Nam. Với hơn 102.000ha rừng và đất rừng ngập mặn, Cà Mau không chỉ sở hữu một hệ sinh thái đặc thù, mà còn nắm giữ “vận mệnh” sinh kế của hàng chục nghìn hộ dân.

Tham gia thị trường tín chỉ carbon, Cà Mau ước tính có nguồn thu khoảng hơn 3.500 tỷ đồng mỗi năm từ “kho báu xanh”.
Tham gia thị trường tín chỉ carbon, Cà Mau ước tính có nguồn thu khoảng hơn 3.500 tỷ đồng mỗi năm từ “kho báu xanh”.

Cộng sinh dưới tán rừng ngập mặn

Trong căn nhà sàn ven rạch nhỏ tại ấp Tắc Biển (xã Phan Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau), lão nông Trần Minh Trí chậm rãi nhấp chén trà, mắt nhìn ra vuông tôm rộng 15ha của gia đình. Hơn 30 năm gắn bó với màu xanh này, ông hiểu rõ hơn ai hết giá trị của sự cộng sinh. Ông Trí cho biết: “Tôm-rừng là cách nuôi thuận thiên, để con tôm tự tìm thức ăn dưới rễ đước. Dù năng suất không ào ạt như nuôi công nghiệp, nhưng mỗi năm, các sản phẩm “sạch tinh khiết” từ tôm, cua, cá dưới tán rừng mang về cho gia đình tôi từ 400 đến 700 triệu đồng”.

Tại miệt rừng ngập mặn Cà Mau, mô hình nuôi tôm sinh thái như gia đình ông Trí được phủ rộng. Trong số này, có khoảng 31.000ha với gần 6.000 hộ nuôi đã đạt được các chứng nhận qu. ốc tế danh giá như: Naturland, ASC hay EU… Những con tôm này sở hữu tấm “hộ chiếu xanh” để đường hoàng xuất ngoại sang hơn 90 quốc gia và vùng lãnh thổ, góp phần giúp Cà Mau thu về tổng kim ngạch xuất khẩu tôm hơn hai tỷ USD mỗi năm. Đáng nói, các doanh nghiệp sẵn sàng trả giá cao hơn từ 10-15% so tôm thông thường, để thu mua những sản phẩm gắn liền với trách nhiệm giữ rừng.

Theo Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Cà Mau - Phan Minh Chí, sự thay đổi tư duy từ “phá” sang “giữ rừng để làm giàu” đã biến mỗi người dân vùng mặn trở thành một “kiểm lâm viên” mẫn cán. “Bà con hiểu rằng, rừng tạo nơi trú ngụ, thức ăn cho tôm, mất rừng là mất tôm, mất luôn nồi cơm của con cháu mình. Do vậy, người dân ra sức trồng và bảo vệ rừng. Đây cũng chính là một vòng tròn cộng sinh đẹp đang ngày đêm che chở cho xóm làng trước sóng gió và sạt lở dữ dội” - ông Chí chia sẻ.

Tiềm năng carbon xanh

Nhưng giá trị của rừng ngập mặn Cà Mau không dừng lại ở con tôm hay thân gỗ. Ẩn sâu trong hệ thống rễ chằng chịt và lớp đất trầm tích dày đặc là một “cỗ máy” đang lặng lẽ làm mát trái đất: Carbon xanh (Blue Carbon).

Tại các xã Viên An và Đất Mũi, những “Bản đồ Carbon” đầu tiên đã hình thành với sự hỗ trợ của WWF-Việt Nam. Từng cây đước, cây mắm được định danh và theo dõi kỹ lưỡng bằng công nghệ số. Ví như cây đước mang mã số 1588, cao 15m, chu vi thân hơn 60cm, được tính toán đã tích lũy trong mình hơn 136kg carbon; hay cây nhỏ hơn mang mã 1585 cũng âm thầm lưu trữ gần 30kg carbon.

Theo Giám đốc Sở Công thương Cà Mau - Nguyễn Chí Thiện, đây chính là tấm vé thông hành để Cà Mau bước vào thị trường tín chỉ carbon quốc tế khắt khe. Với mức giá giao dịch thế giới trung bình từ 5-10 USD/tín chỉ (một tấn CO2 xác minh thành công được quy đổi ra một tín chỉ carbon), khả năng hấp thụ carbon của rừng Cà Mau có thể mang về nguồn thu ít nhất 150 triệu USD (tương đương hơn 3.500 tỷ đồng) mỗi năm.

Đây là nguồn lực không nhỏ để Cà Mau có thêm kinh phí tái đầu tư, nuôi dưỡng rừng và xây dựng các công trình chắn sóng thuận thiên và nâng cao đời sống cộng đồng. Khi cơ chế này được khơi thông, nông dân miệt rừng Cà Mau có thêm nguồn thu nhập chính đáng từ việc “bán không khí sạch” ngay dưới tán rừng già.

Tuy nhiên, hành trình đánh thức “kho báu xanh” tại Cà Mau đang phải chạy đua với sự khắc nghiệt của thiên nhiên. Mỗi năm, “tài sản” tạo ra tín chỉ carbon của Cà Mau bị “bốc hơi” khoảng 300ha rừng do sạt lở ven biển. Để bảo vệ “nhà máy sản xuất carbon” này, những giải pháp “mềm” thuận thiên như kè xơ dừa bọc vỏ hàu đang được triển khai tại Đất Mũi. Giải pháp này không chỉ chắn sóng mà còn tạo giá thể cho hạt mắm bám rễ, để rồi những mầm xanh lại vươn lên mạnh mẽ ngay nơi đầu sóng ngọn gió…!

Để màu xanh thực sự hóa “vàng”

Theo Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lê Văn Sử, trong giai đoạn mới, để tiềm năng tín chỉ carbon thực sự trở thành nguồn lực kinh tế mạnh mẽ cho Cà Mau, cần có những cú huých quyết liệt và đồng bộ, mà trước hết là hoàn thiện hành lang pháp lý và công cụ đánh giá. Trung ương cần sớm ban hành khung pháp lý cụ thể về thương mại hóa tín chỉ carbon rừng ngập mặn. Đồng thời, cần thống nhất phương trình tính toán sinh khối và hoàn thiện Sổ tay hướng dẫn kỹ thuật để bảo đảm tính minh bạch, nhất quán theo tiêu chuẩn quốc tế.

Tiếp đó là số hóa và hiện đại hóa quản lý rừng: Tiếp tục ứng dụng công nghệ viễn thám, GIS và dữ liệu số để giám sát tài nguyên rừng và sạt lở. Cơ sở dữ liệu carbon cần được tích hợp đồng bộ vào Hệ thống quản lý tài nguyên rừng quốc gia (FRMS) để phục vụ công tác đo đạc, báo cáo và thẩm định. “Song hành đó là hỗ trợ sinh kế và cơ chế đầu tư. Cần có chính sách hỗ trợ trồng mới rừng, đặc biệt là rừng sản xuất đã khoán cho dân. Khuyến khích mô hình “tôm-rừng” gắn với chứng nhận quốc tế để bảo đảm người dân sống khỏe dưới tán rừng” - ông Sử đề xuất.

Hoàng hôn buông xuống rừng đước mênh mông, nơi có dòng nước đặc quánh phù sa chảy ra biển lớn. Trong ánh chiều tà, những nông dân như ông Trí tiếp tục mùa bội thu tôm sinh thái dưới tán rừng. Những nông dân như ông Trí có thể chưa rõ về những thuật ngữ phức tạp như “Net Zero”, tín chỉ carbon. Nhưng họ hiểu rõ, giữ được màu xanh của rừng là giữ được sinh kế bền vững cho mai sau ■

Theo số liệu từ Viện Nghiên cứu Sinh thái và Môi trường rừng (thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam), hệ sinh thái rừng ngập mặn Cà Mau đang hấp thụ và “làm sạch” hơn 30 triệu tấn CO2 mỗi năm, đứng đầu cả nước và chiếm phần lớn trong tổng trữ lượng hơn 80 triệu tấn CO2 toàn quốc.

Có thể bạn quan tâm

Nhiều chương trình kết nối của CSIP đã hỗ trợ cộng đồng làm thiện nguyện chia sẻ bài học kinh nghiệm. (Nguồn: CSIP)

Chuyển dịch từ tự phát sang chú trọng bền vững

Nhìn một cách tổng thể, hoạt động thiện nguyện tại Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt quan trọng, từ những hành động mang tính tự phát, đang dần trở thành một nguồn lực xã hội có khả năng đóng góp vào các mục tiêu phát triển dài hạn.

Sự sụt giảm nguồn tài trợ đang mang đến những hệ lụy to lớn cho hệ thống cứu trợ nhân đạo toàn cầu.

Cân bằng phương trình bất khả thi

Chưa bao giờ, thế giới đối diện nhu cầu cứu trợ nhân đạo lớn như hiện tại. Nhưng có lẽ cũng chưa bao giờ, nguồn tài trợ dành cho những hoạt động nhân đạo lại “eo hẹp” như lúc này.

Góc tập huấn sơ cứu - Góc “đắt hàng” nhất trong khuôn khổ Lễ phát động Tháng Nhân đạo năm 2026 cấp quốc gia tại Cung Thể thao Quần Ngựa (Hà Nội).

80 năm - Hành trình Nhân ái vì cộng đồng

Tháng Nhân đạo 2026 gắn với dấu mốc kỷ niệm 80 năm thành lập Hội Chữ thập đỏ Việt Nam và 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người sáng lập và là Chủ tịch danh dự đầu tiên của Hội.

Cán bộ kỹ thuật lấy mẫu cho quá trình nghiên cứu chiết tách. (Nguồn: Viện Công nghệ xạ hiếm)

Nền tảng của công nghiệp xanh

Trong bối cảnh toàn cầu hóa cũng như cam kết lịch sử đưa mức phát thải ròng về “0”, đất hiếm nổi lên như một nhóm vật liệu chiến lược mang tính quyết định, không thể thay thế.

Ông Trần Bình Trọng, Cục trưởng Địa chất và Khoáng sản Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Chế biến sâu và nâng tầm công nghệ

Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Bình Trọng, Cục trưởng Địa chất và Khoáng sản Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Môi trường, chia sẻ: Trong quá trình cấp phép đầu tư, khai thác đất hiếm phải bảo đảm không chỉ dừng ở khai thác thô mà luôn gắn với chế biến sâu và chuyển giao, nâng tầm công nghệ.

Nếu không được kiểm soát, gánh nặng môi trường do khai thác khoáng sản có thể đè nặng lên vai của cộng đồng dân cư. (Ảnh Hoàng Tuân)

Gia cố “màng lọc” bảo vệ môi trường

Việc tồn tại nhiều điểm khai thác khoáng sản thiếu bền vững, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi sinh đòi hỏi công tác quản lý phải xem xét nghiêm túc, từ đó tìm ra giải pháp phù hợp trong khai thác, tách chế đất hiếm.

Ông Phạm Hùng Cát (trái) chia sẻ nỗi lo lắng khi môi trường bị đe dọa. (Ảnh NAM NGUYỄN)

Bài toán lãng phí kép từ một vụ vi phạm

Từng là một công trường khai thác sôi động, nhưng hiện giờ, khu mỏ đất hiếm thuộc thôn Yên Sơn, xã Xuân Ái (tỉnh Lào Cai) trở nên im lìm. Nhà xưởng bị bỏ hoang, máy móc hoen gỉ, tồn tại nguy cơ đe dọa môi trường nước trong khu vực.

Một dự án khai thác đất hiếm tại bang Alaska (Mỹ).

Điều quan trọng nhất không phải là trữ lượng

Sở hữu tiềm năng đất hiếm đứng thứ hai thế giới, Việt Nam đang nắm trong tay một lợi thế địa kinh tế quan trọng. Tuy nhiên, khoảng cách từ trữ lượng dưới lòng đất đến một ngành công nghiệp mang lại giá trị thực tiễn là một chặng đường dài.

LS Eco Energy (Hàn Quốc) công bố kế hoạch đầu tư hạ tầng tinh luyện đất hiếm tại Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 12/2025. Nguồn LS Eco Energy

Tận dụng lợi thế chuỗi cung ứng

Với tiềm năng sẵn có, Việt Nam không chỉ cần khai thác đất hiếm một cách thông minh, mà còn cần xây dựng chuỗi cung ứng minh bạch, tận dụng được các lợi thế về tài nguyên.

Mô hình dự án đường sắt tốc độ cao Hà Nội- Quảng Ninh, với tổng mức đầu tư hơn 5,6 tỷ USD vừa chính thức khởi công tại Quảng Ninh. Ảnh có sử dụng đồ họa AI

ĐỘT PHÁ VỀ KẾT NỐI HẠ TẦNG CHIẾN LƯỢC

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, nhiều nghệ sĩ trẻ cùng ekip đã chủ động có các đàm phán đa tầng trong chuyển quyền sử dụng có điều kiện, nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi của mình. Ảnh minh họa: KHIẾU MINH

Lấp đầy những khoảng trống ý thức

Bên cạnh Luật Sở hữu trí tuệ, được ban hành lần đầu vào cuối năm 2005, có hiệu lực từ ngày 1/7/2006 và đến nay, đã qua nhiều lần sửa đổi để phù hợp với diễn tiến của xã hội, Việt Nam hiện có một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật khá đầy đủ liên quan việc bảo vệ quyền tác giả và các quyền liên quan quyền tác giả.

Khoảng cách công nghệ giữa đường sắt hiện hữu và đường sắt tốc độ cao là rất lớn, vì vậy Việt Nam cần chuẩn bị tốt việc đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu tiến tới làm chủ công nghệ. Nguồn VNR

Định hình mạng lưới vận tải quốc gia

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức và tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Lớp học nâng cao trình độ về đường sắt tốc độ cao ngành Thi công và Bảo dưỡng công trình.

Mở rộng hợp tác trong đào tạo nguồn nhân lực mới

Một nhiệm vụ mang tính chiến lược, đóng vai trò then chốt trong xây dựng và vận hành đường sắt tốc độ cao, là phải đi trước một bước để đào tạo nguồn nhân lực có đủ năng lực, trình độ tiếp nhận, vận hành, khai thác, bảo trì và từng bước làm chủ các công nghệ tiên tiến, hiện đại đang được áp dụng với đường sắt tốc độ cao.

Ông Nguyễn Quốc Vượng, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR).

Bài toán về tầm nhìn và khả năng làm chủ công nghệ

Được xác định là lĩnh vực ưu tiên chiến lược, hợp tác phát triển đường sắt, nhất là đường sắt tốc độ cao, của Việt Nam không chỉ là câu chuyện của một công trình hạ tầng, mà là bài toán lớn đặt ra yêu cầu làm chủ công nghệ, đào tạo nhân lực và năng lực nội sinh.

Hành khách xếp hàng lên chuyến tàu G8389 tại nhà ga ở thành phố Nam Kinh (Trung Quốc). (Ảnh Tân Hoa xã)

Kinh nghiệm của Trung Quốc - Quốc gia “đi sau, về trước”

Không chỉ hiện thực hóa được mục tiêu “đi sau, về trước”, nhờ có sự đầu tư bài bản, mà hiện Trung Quốc còn đang “dẫn đầu thế giới” trong phát triển hệ thống đường sắt tốc độ cao. Đây là thành công góp phần quan trọng vào những kỳ tích tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội ở quốc gia này.

Khi Luật Sở hữu trí tuệ và quyền hình ảnh của người sáng tạo được thực thi đầy đủ, các tác giả làm việc trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật mới ở Việt Nam sẽ tích cực chủ động tham gia đăng ký bản quyền tác giả hơn nữa. (Trong ảnh: Vở múa đương đại Nón của biên đạo Vũ Ngọc Khải. Ảnh Đại Ngô)

Chuyển dịch tư duy về sở hữu trí tuệ

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam (Nghị quyết 80) đặt mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp 7% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vào năm 2030 và trở thành trụ cột kinh tế với 9% GDP vào năm 2045.

Bà Phạm Thị Kim Oanh.

Đồng hành để hỗ trợ giới sáng tạo một cách tốt nhất

Nhân Dân cuối tuần có cuộc trao đổi với bà Phạm Thị Kim Oanh, Phó Cục trưởng Bản quyền tác giả, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, về những nỗ lực của cơ quan quản lý nhà nước trong việc đồng hành, khuyến khích các tổ chức, cá nhân chủ động nâng cao hơn nữa ý thức về bảo vệ quyền tác giả và các quyền liên quan quyền tác giả.

Đồi chè Mộc Châu. (Ảnh Huỳnh Văn Truyền)

Chủ động mở những lối đi

Nhiếp ảnh là một trong những lĩnh vực sáng tác mà việc vi phạm bản quyền xảy ra khá thường xuyên, ở nhiều phương thức, cấp độ khác nhau.

Ngành công nghệ cần đặt an toàn của trẻ em vào khâu thiết kế sản phẩm, thay vì coi đó là phần việc xử lý sau cùng. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Đồng hành để bảo vệ

Internet từ lâu đã trở thành một phần tất yếu của cuộc sống, kể cả với trẻ em. Tuy nhiên, mức độ hiện diện cao ấy không đồng nghĩa với việc thế hệ trẻ có đủ năng lực để tự bảo vệ mình.

Trung ương Đoàn luôn chủ động tạo ra các không gian cởi mở để kịp thời lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của trẻ em.

Lắng nghe đúng, hành động trúng

Trong thời đại kỷ nguyên số, không gian mạng không còn là một công cụ hỗ trợ, mà đã trở thành một môi trường sống song hành với đời sống của trẻ em.