Tại “Hội nghị toàn quốc triển khai công tác văn hóa dân tộc và tuyên dương già làng, trưởng bản, nghệ nhân, người có uy tín” vừa tổ chức tại Làng Văn hóa, Du lịch các Dân tộc Việt Nam (Hà Nội), bức tranh văn hóa dân tộc hiện lên với cả gam sáng lẫn những khoảng trăn trở.
Nguy cơ mai một vẫn cao
Giai đoạn 2021-2025, công tác văn hóa dân tộc được triển khai trong nền tảng chính sách ngày càng rõ hơn. Phát biểu tại hội nghị, Thứ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Trịnh Thị Thủy khẳng định, công tác văn hóa dân tộc thời gian qua đã đạt nhiều kết quả quan trọng, nhiều giá trị văn hóa truyền thống được khôi phục, lan tỏa và từng bước đi vào đời sống đương đại. Đáng chú ý hơn, tư duy phát triển đã chuyển từ “bảo tồn đơn thuần” sang “bảo tồn gắn với phát triển”, từng bước khai thác giá trị văn hóa để tạo sinh kế, nâng cao đời sống cho người dân.
Nhưng cùng với ghi nhận ấy, Thứ trưởng cũng thẳng thắn chỉ ra những khoảng trống khi nhiều giá trị di sản vẫn đang có nguy cơ mai một cao. Nguồn lực đầu tư cho công tác bảo tồn, phát huy di sản ở nhiều địa phương còn khó khăn, hạn hẹp. Đội ngũ nhân lực tại chỗ để triển khai các nhiệm vụ này vẫn còn nhiều bất cập. Bà nhấn mạnh, những vấn đề ấy cần được nhận diện từ thực tiễn cơ sở, từ chính tiếng nói của cộng đồng, nghệ nhân, địa phương để đề xuất giải pháp trọng tâm, trọng điểm, thiết thực hơn trong giai đoạn tới.
Ở góc độ nghiên cứu và tổng kết thực tiễn, PGS, TS Phạm Lan Oanh, Phó Viện trưởng Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam cho rằng, qua việc triển khai 35 nhiệm vụ gắn với đồng bào dân tộc thiểu số, điều dễ nhận thấy là bà con ngày càng tự tin hơn khi giới thiệu di sản văn hóa của dân tộc mình với cộng đồng bên ngoài. Tuy nhiên, theo PGS, TS Phạm Lan Oanh, chính trong quá trình thực hiện cũng bộc lộ những “nút thắt” rất rõ. Đó là nghịch lý về cơ chế tài chính, khi định mức thuê khoán và chi trả hiện nay còn chưa phù hợp với đặc thù bồi dưỡng nghệ nhân, phục hồi nghề truyền thống. Đó là nguy cơ “sân khấu hóa”, khi quá coi trọng hình ảnh phục vụ quảng bá có thể làm phai nhạt tính thiêng, tính nguyên bản của di sản. Và điều trăn trở nhất là sự đứt gãy thế hệ kế cận. Bà chia sẻ, có những nghệ nhân 90 tuổi nắm rất vững vốn di sản, nhưng lớp 70-80 tuổi còn chưa học được một nửa, thì việc kết nối trọn vẹn với lớp trẻ 20-40 tuổi lại càng khó hơn.
Hãy lắng nghe nghệ nhân từ những kiến nghị rất thật!
Những trăn trở ấy trở nên cụ thể hơn qua lời kể của các nghệ nhân đang trực tiếp gìn giữ bản sắc văn hóa mỗi ngày. Đã có nhiều năm gắn bó với Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam Nghệ nhân H’Hoa Niê Kso, dân tộc Ê Đê (Đắk Lắk) rất tự hào khi được giới thiệu văn hóa mẫu hệ đến với đông đảo người dân cũng như du khách ở khắp mọi miền. Nhưng đi cùng tình yêu ấy là những nỗi lo rất thật. H’Hoa Niê Ksor mong mô hình trải nghiệm văn hóa cho học sinh, sinh viên không chỉ dừng lại ở Làng mà cần được tổ chức nhiều hơn ngay tại các địa phương để tăng sức lan tỏa. Chị cũng cho biết nhân lực tại Làng hiện còn mỏng, một dàn chiêng đúng nghĩa cần ít nhất 12 nam giới, trong khi nhiều nghệ nhân hiện phải kiêm nhiệm 2-3 việc nên khó biểu diễn đúng bài bản. Theo chị, nếu muốn bảo tồn lâu dài thì cần thêm kinh phí để mở các lớp truyền dạy cồng chiêng, điệu múa tại chỗ, thay vì chỉ trông vào lòng nhiệt tình của nghệ nhân. Bên cạnh đó, nghệ nhân có nguyện vọng được tạo điều kiện nghỉ dài ngày hơn trong những kỳ phép cho những người ở xa.
Với nghệ nhân Mà Thị Hiến, người dân tộc Tày (Thái Nguyên) rất vui khi được tham gia các hoạt động dân ca dân vũ, đan lát, biểu diễn hát Then, đàn Tính, truyền dạy điệu múa bát truyền thống tại Làng. Nhưng niềm vui ấy luôn đi kèm nỗi lo đời sống. Chị thẳng thắn cho biết, mức hỗ trợ hiện tại 4,8 triệu đồng/tháng vẫn còn hơi thấp, không đủ bảo đảm cuộc sống nếu không có thêm nguồn thu khác. Nhiều chị em muốn xuống Làng hoạt động nhưng nghe thu nhập như vậy thì cũng ngại, khiến việc tuyển thêm người rất khó.
Bộ Dân tộc và Tôn giáo vừa ban công bố danh sách tỉnh vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030. Theo đó, cả nước có 15 tỉnh, thành phố được xác định là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, gồm: Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lào Cai, Phú Thọ, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thanh Hóa, Quảng Ngãi, Gia Lai, Lâm Đồng, Đắk Lắk và TP Cần Thơ. Trong khi đó, danh sách các địa phương được xác định là tỉnh miền núi gồm 12 tỉnh: Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ngãi, Gia Lai, Lâm Đồng và Đắk Lắk.
Còn ở các địa phương, như nghệ nhân Tráng Mìn Hồ (dân tộc Pu Péo) ở xã Đồng Văn (Tuyên Quang), nỗi lo lớn nhất của ông là nguy cơ mai một cả tiếng nói lẫn phong tục. Ông cho biết lớp trẻ bây giờ đi học từ sớm, quen nói tiếng phổ thông, chỉ về nhà mới nói tiếng dân tộc nên biết rất ít. Với một cộng đồng chỉ còn vài chục hộ, việc mất tiếng nói cũng đồng nghĩa với mất một lớp bản sắc quan trọng. Bởi thế, điều ông mong mỏi nhất là có sự phối hợp giữa ngành văn hóa và trường học để lớp trẻ được học tiếng mẹ đẻ, biết phong tục, biết trang phục dân tộc mình một cách bài bản hơn.
Góp ý về chính sách, PGS, TS Phạm Lan Oanh đề xuất cần có cơ chế đặc thù cho bảo tồn, khác với các cơ chế đang áp cho lĩnh vực biểu diễn hay đầu tư xây dựng. Trao quyền nhiều hơn cho già làng, trưởng bản, nghệ nhân. Cùng với đó là phát triển bảo tồn động gắn với chuyển đổi số, xây dựng thương hiệu cho sản phẩm văn hóa và tăng cường phối hợp thực chất giữa các cấp, các ngành.
Thành quả của công tác văn hóa dân tộc sẽ không chỉ nằm ở những báo cáo đẹp, mà ở việc bao nhiêu người trẻ còn muốn học tiếng nói của dân tộc mình, còn thấy tự hào khi mặc trang phục truyền thống. Muốn vậy, chính sách phải sát hơn với đời sống, đầu tư phải trúng hơn với nhu cầu, và đặc biệt, người giữ văn hóa phải được tiếp sức xứng đáng.