Giữ bản sắc phải từ người giữ lửa

Nhân ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam (19/4), nhìn lại chặng đường bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số (DTTS) có thể thấy, để di sản thật sự “sống” bền lâu, vẫn cần thêm những chính sách sát thực tiễn và sự tiếp sức đúng chỗ cho nghệ nhân.

Cần có chính sách động viên kịp thời những chủ thể đang nắm giữ và lan tỏa bản sắc văn hóa.
Cần có chính sách động viên kịp thời những chủ thể đang nắm giữ và lan tỏa bản sắc văn hóa.

Tại “Hội nghị toàn quốc triển khai công tác văn hóa dân tộc và tuyên dương già làng, trưởng bản, nghệ nhân, người có uy tín” vừa tổ chức tại Làng Văn hóa, Du lịch các Dân tộc Việt Nam (Hà Nội), bức tranh văn hóa dân tộc hiện lên với cả gam sáng lẫn những khoảng trăn trở.

Nguy cơ mai một vẫn cao

Giai đoạn 2021-2025, công tác văn hóa dân tộc được triển khai trong nền tảng chính sách ngày càng rõ hơn. Phát biểu tại hội nghị, Thứ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Trịnh Thị Thủy khẳng định, công tác văn hóa dân tộc thời gian qua đã đạt nhiều kết quả quan trọng, nhiều giá trị văn hóa truyền thống được khôi phục, lan tỏa và từng bước đi vào đời sống đương đại. Đáng chú ý hơn, tư duy phát triển đã chuyển từ “bảo tồn đơn thuần” sang “bảo tồn gắn với phát triển”, từng bước khai thác giá trị văn hóa để tạo sinh kế, nâng cao đời sống cho người dân.

Nhưng cùng với ghi nhận ấy, Thứ trưởng cũng thẳng thắn chỉ ra những khoảng trống khi nhiều giá trị di sản vẫn đang có nguy cơ mai một cao. Nguồn lực đầu tư cho công tác bảo tồn, phát huy di sản ở nhiều địa phương còn khó khăn, hạn hẹp. Đội ngũ nhân lực tại chỗ để triển khai các nhiệm vụ này vẫn còn nhiều bất cập. Bà nhấn mạnh, những vấn đề ấy cần được nhận diện từ thực tiễn cơ sở, từ chính tiếng nói của cộng đồng, nghệ nhân, địa phương để đề xuất giải pháp trọng tâm, trọng điểm, thiết thực hơn trong giai đoạn tới.

Ở góc độ nghiên cứu và tổng kết thực tiễn, PGS, TS Phạm Lan Oanh, Phó Viện trưởng Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam cho rằng, qua việc triển khai 35 nhiệm vụ gắn với đồng bào dân tộc thiểu số, điều dễ nhận thấy là bà con ngày càng tự tin hơn khi giới thiệu di sản văn hóa của dân tộc mình với cộng đồng bên ngoài. Tuy nhiên, theo PGS, TS Phạm Lan Oanh, chính trong quá trình thực hiện cũng bộc lộ những “nút thắt” rất rõ. Đó là nghịch lý về cơ chế tài chính, khi định mức thuê khoán và chi trả hiện nay còn chưa phù hợp với đặc thù bồi dưỡng nghệ nhân, phục hồi nghề truyền thống. Đó là nguy cơ “sân khấu hóa”, khi quá coi trọng hình ảnh phục vụ quảng bá có thể làm phai nhạt tính thiêng, tính nguyên bản của di sản. Và điều trăn trở nhất là sự đứt gãy thế hệ kế cận. Bà chia sẻ, có những nghệ nhân 90 tuổi nắm rất vững vốn di sản, nhưng lớp 70-80 tuổi còn chưa học được một nửa, thì việc kết nối trọn vẹn với lớp trẻ 20-40 tuổi lại càng khó hơn.

Hãy lắng nghe nghệ nhân từ những kiến nghị rất thật!

Những trăn trở ấy trở nên cụ thể hơn qua lời kể của các nghệ nhân đang trực tiếp gìn giữ bản sắc văn hóa mỗi ngày. Đã có nhiều năm gắn bó với Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam Nghệ nhân H’Hoa Niê Kso, dân tộc Ê Đê (Đắk Lắk) rất tự hào khi được giới thiệu văn hóa mẫu hệ đến với đông đảo người dân cũng như du khách ở khắp mọi miền. Nhưng đi cùng tình yêu ấy là những nỗi lo rất thật. H’Hoa Niê Ksor mong mô hình trải nghiệm văn hóa cho học sinh, sinh viên không chỉ dừng lại ở Làng mà cần được tổ chức nhiều hơn ngay tại các địa phương để tăng sức lan tỏa. Chị cũng cho biết nhân lực tại Làng hiện còn mỏng, một dàn chiêng đúng nghĩa cần ít nhất 12 nam giới, trong khi nhiều nghệ nhân hiện phải kiêm nhiệm 2-3 việc nên khó biểu diễn đúng bài bản. Theo chị, nếu muốn bảo tồn lâu dài thì cần thêm kinh phí để mở các lớp truyền dạy cồng chiêng, điệu múa tại chỗ, thay vì chỉ trông vào lòng nhiệt tình của nghệ nhân. Bên cạnh đó, nghệ nhân có nguyện vọng được tạo điều kiện nghỉ dài ngày hơn trong những kỳ phép cho những người ở xa.

Với nghệ nhân Mà Thị Hiến, người dân tộc Tày (Thái Nguyên) rất vui khi được tham gia các hoạt động dân ca dân vũ, đan lát, biểu diễn hát Then, đàn Tính, truyền dạy điệu múa bát truyền thống tại Làng. Nhưng niềm vui ấy luôn đi kèm nỗi lo đời sống. Chị thẳng thắn cho biết, mức hỗ trợ hiện tại 4,8 triệu đồng/tháng vẫn còn hơi thấp, không đủ bảo đảm cuộc sống nếu không có thêm nguồn thu khác. Nhiều chị em muốn xuống Làng hoạt động nhưng nghe thu nhập như vậy thì cũng ngại, khiến việc tuyển thêm người rất khó.

Bộ Dân tộc và Tôn giáo vừa ban công bố danh sách tỉnh vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030. Theo đó, cả nước có 15 tỉnh, thành phố được xác định là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, gồm: Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lào Cai, Phú Thọ, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thanh Hóa, Quảng Ngãi, Gia Lai, Lâm Đồng, Đắk Lắk và TP Cần Thơ. Trong khi đó, danh sách các địa phương được xác định là tỉnh miền núi gồm 12 tỉnh: Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ngãi, Gia Lai, Lâm Đồng và Đắk Lắk.

Còn ở các địa phương, như nghệ nhân Tráng Mìn Hồ (dân tộc Pu Péo) ở xã Đồng Văn (Tuyên Quang), nỗi lo lớn nhất của ông là nguy cơ mai một cả tiếng nói lẫn phong tục. Ông cho biết lớp trẻ bây giờ đi học từ sớm, quen nói tiếng phổ thông, chỉ về nhà mới nói tiếng dân tộc nên biết rất ít. Với một cộng đồng chỉ còn vài chục hộ, việc mất tiếng nói cũng đồng nghĩa với mất một lớp bản sắc quan trọng. Bởi thế, điều ông mong mỏi nhất là có sự phối hợp giữa ngành văn hóa và trường học để lớp trẻ được học tiếng mẹ đẻ, biết phong tục, biết trang phục dân tộc mình một cách bài bản hơn.

Góp ý về chính sách, PGS, TS Phạm Lan Oanh đề xuất cần có cơ chế đặc thù cho bảo tồn, khác với các cơ chế đang áp cho lĩnh vực biểu diễn hay đầu tư xây dựng. Trao quyền nhiều hơn cho già làng, trưởng bản, nghệ nhân. Cùng với đó là phát triển bảo tồn động gắn với chuyển đổi số, xây dựng thương hiệu cho sản phẩm văn hóa và tăng cường phối hợp thực chất giữa các cấp, các ngành.

Thành quả của công tác văn hóa dân tộc sẽ không chỉ nằm ở những báo cáo đẹp, mà ở việc bao nhiêu người trẻ còn muốn học tiếng nói của dân tộc mình, còn thấy tự hào khi mặc trang phục truyền thống. Muốn vậy, chính sách phải sát hơn với đời sống, đầu tư phải trúng hơn với nhu cầu, và đặc biệt, người giữ văn hóa phải được tiếp sức xứng đáng.

Có thể bạn quan tâm

Người đi sau đoàn

Chuyến xe hôm ấy khởi hành muộn, lý do cũng chẳng có gì lạ. Một đứa trẻ chuẩn bị đi thì bỗng dưng đau bụng (mà cơn đau kiểu ấy của trẻ thì nó đến một cách thường xuyên nhưng cũng đầy bất ngờ). Chẳng ai lường trước được. Lại nữa, một người mẹ bỗng dưng quên đồ của con. Đứa trẻ 5 tuổi không thể thiếu bất cứ cái gì mà người phụ nữ chu đáo đã dày công chuẩn bị. Thế là chuyến đi ra khỏi thành phố trễ nửa tiếng.

Từ những nếp gấp của thời gian

Từ những nếp gấp của thời gian

“Nếp gấp của chiều”, tập thơ của Thy Nguyên (NXB Văn học, 2026) nên được đọc như một trường lực hơn là một chuỗi bài lẻ. Ở đó, thời gian không trôi mà dồn lớp; không mang độ dài mà mang độ dày của thân phận. Ký ức không nằm lại mà liên tục trồi lên. Và cái tôi, thay vì đóng khép, luôn mở ra nhiều “tọa độ”.

Huế là địa danh thu hút nhiều du khách quay lại nhờ sự kết hợp giữa di sản cổ kính, ẩm thực phong phú và các hoạt động trải nghiệm mới mẻ.

Chờ xung lực mới cho du lịch Việt Nam

Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 263/NQ-CP ngày 7/9 của Chính phủ và Chương trình hành động của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ra ngày 10/9 đang tạo nên một khung hành động khá rõ cho du lịch Việt Nam.

Những điểm nhấn đón tiết thu

Những điểm nhấn đón tiết thu

Cuối tuần qua và cho đến hết tháng 9, khắp nơi diễn ra những ngày khởi động và khai mạc lễ hội. Một mặt, đó là việc mở rộng không gian, kết nối di sản, thúc đẩy sáng tạo cùng du lịch văn hóa. Mặt khác, đây là khoảng thời gian chính thức bước vào mùa lễ hội của thời tiết thu - đông.

Buổi công chiếu phim concert của SOOBIN.

Concert bước vào rạp chiếu

Ngày 10/9, bộ phim concert “All-Rounder” của ca sĩ SOOBIN ra rạp, nối dài danh sách các concert được chuyển thể thành tác phẩm điện ảnh, cho thấy dư địa phát triển đáng chú ý của dòng phim concert trong bối cảnh thị trường biểu diễn tăng trưởng mạnh thời gian qua.

Hồ Gươm nhìn từ phía sông Hồng. Ảnh: KHIẾU MINH

Quy hoạch Hồ Gươm phải tôn trọng ký ức lịch sử

Các chuyên gia, du khách nước ngoài khi đến Hà Nội đều nói rằng: Ở nhiều nơi trên thế giới, một cái hồ ở giữa thành phố không hiếm nhưng một không gian chứa đựng ký ức, qua nhiều giai đoạn phát triển, đánh dấu nhiều khía cạnh lịch sử văn hóa... thì không phải nơi nào cũng có được.

Phim “Hộ linh tráng sĩ” được đầu tư công phu nhưng kịch bản và dàn dựng vẫn nhận nhiều góp ý.

Cơ hội cho phim cổ trang

Phim cổ trang đang mở ra một không gian để điện ảnh Việt Nam tìm về lịch sử, văn hóa và những lớp ký ức của dân tộc. Nhưng để những chất liệu ấy thật sự hiện diện trên màn ảnh, cần nhiều hơn một ý tưởng hay hay một câu chuyện hấp dẫn. Đó là quá trình nghiên cứu, phục dựng, sáng tạo, sản xuất và đưa tác phẩm đến với công chúng.

Cần tăng cường các mô hình kết nối tủ sách quân và dân để xây dựng văn hóa đọc ở các địa bàn cơ sở.

Rất nhiều cách hay để áp dụng trong xã hội

Chuyên đề “Từ trang sách đến sức mạnh tinh thần người lính” đăng trên Thời Nay số 1732 đã nhận được sự quan tâm của nhiều bạn đọc. Qua thực tế bồi đắp văn hóa đọc trong môi trường quân đội, các ý kiến cho rằng, có thể tìm hiểu, vận dụng ở trường học, cơ quan, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội. Bên cạnh việc xây dựng các tủ sách hay phòng đọc, quan trọng hơn là cách tổ chức cho việc đọc trở thành thói quen, để mỗi cuốn sách đến tay nhiều người đọc.

Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh trong buổi giao lưu, tặng chữ ký bạn đọc tại Hà Nội.

Khi nghề viết trở thành một cách sống

Nguyễn Nhật Ánh nhiều năm qua cũng sống khá lặng lẽ. Ông kín đáo, gần như để tác phẩm làm công việc của nó. Nhưng chính sự lặng lẽ ấy lại khiến một điều trở nên rõ hơn: Giá trị của một nhà văn rốt cuộc không chỉ nằm ở mức độ xuất hiện của họ trong đời sống công chúng, mà quan trọng hơn ở những gì họ để lại trong đời sống của người đọc.

Thử nghiệm vở diễn đầu tiên của dàn khí nhạc bản địa Đông Nam Á

Thử nghiệm vở diễn đầu tiên của dàn khí nhạc bản địa Đông Nam Á

Từ tháng 9, Dàn khí nhạc bản địa Đông Nam Á S.E.A Sound trình diễn thử nghiệm vở diễn đầu tiên mang tên “Thức“ tại Alluvium Centre (đường Đinh Tiên Hoàng, Ninh Bình). Khán giả có thể đăng ký thưởng thức miễn phí qua fanpage của dàn nhạc. “Thức“ là một trải nghiệm âm nhạc hoàn toàn mới, khí nhạc bản địa nhưng không hòa tấu dân ca, không hòa âm phối khí, không lời.

Những câu thơ “nợ màu nhớ nhung”

Những câu thơ “nợ màu nhớ nhung”

Nhà thơ Trương Minh Hiếu vừa cho xuất bản tập thơ lục bát “Thả gió qua sông” (NXB Văn học). Tôi tò mò: “Thả gió qua sông” là gì và Hiếu muốn nói gì với việc thả gió qua sông?

GS Anthony Burke thảo luận trực tiếp với nhà thiết kế Vũ Thảo của Kilomet 109, đại diện Trúc Chỉ và đại diện Vụn Art.

Thiết kế Việt lan tỏa trên kênh truyền hình Australia

1. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và bùng nổ công nghệ, câu hỏi “Thiết kế để làm gì?” không còn gói gọn trong tính thẩm mỹ hay công năng đơn thuần. Câu trả lời vừa được khắc họa qua lăng kính của GS, kiến trúc sư Anthony Burke (Australia) cùng một số nghệ sĩ, nhà sáng tạo Việt Nam.

Đồng bào đón Tết Độc lập tại Làng Văn hóa, Du lịch các dân tộc Việt Nam. Ảnh: ANH QUÂN

Lan tỏa sức mạnh nội sinh văn hóa

Một tuần đón Tết Độc lập vừa đi qua, để lại nhiều thông tin quan trọng về các hoạt động văn nghệ tại nhiều nơi trên mọi miền đất nước, vừa góp phần đưa di sản và lan tỏa niềm tự hào dân tộc trong thế hệ trẻ, vừa thu hút bạn bè quốc tế đến du lịch, tham quan.

Cụ già đầu ngõ

Cụ già đầu ngõ

Bà già ngồi trước ngõ gần như suốt ngày. Sáng cũng thấy bà, chiều cũng thấy bà, có hôm tôi đi về quá mười giờ đêm vẫn thấy cái dáng nhỏ thó ấy ngồi trên chiếc ghế nhựa thấp, trước mặt là túi len, lúc nào bà cũng đan len. Tôi vẫn nghĩ nó là thói quen luôn chân luôn tay của lớp người thế hệ trước.

Các liveshow tầm trung thường rất khó để có doanh thu từ tiền bán vé và trông chờ phần lớn ở nhà tài trợ.

Nghệ sĩ Việt chật vật làm liveshow

Ở Việt Nam, để thực hiện một liveshow tầm trung trong một sân khấu ngoài trời hoặc nhà hát khoảng 600-1.000 chỗ ngồi thì tổng kinh phí đầu tư của nghệ sĩ hay nhà sản xuất dao động khoảng 3 đến 5 tỷ đồng. Đây là con số gần như là thách thức với bất kỳ nghệ sĩ nào nếu như không có nhà tài trợ hay nhãn hàng đồng hành.

Đại sứ Đỗ Hùng Việt, Trưởng Phái đoàn thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc, phát biểu giới thiệu nghị quyết.

Việt Nam khởi xướng Thập kỷ quốc tế về Văn hóa

Ngày 4/9, Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 80 đã thông qua Nghị quyết phát động “Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững”, tuyên bố giai đoạn 2027-2036 là Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững.

Nghệ sĩ Phạm Hồng Định (đứng đầu hàng) hướng dẫn các chị em văn nghệ cơ sở trong một chương trình tập huấn.

Giữ lửa văn nghệ trong nhân dân

Không chọn ánh đèn sân khấu làm nơi duy nhất để gửi gắm đam mê, biên đạo múa Phạm Hồng Định - Trưởng phòng Nghiệp vụ Văn hóa, Trung tâm Văn hóa tỉnh Ninh Bình lại dành nhiều tâm huyết cho những chuyến đi về cơ sở. Ở đó, chị gặp những người dân yêu văn nghệ, những câu lạc bộ say mê nghệ thuật truyền thống và những lớp học giản dị nhưng đầy ắp niềm vui.

Hồn Tổ quốc khắc nên hình đất nước

Hồn Tổ quốc khắc nên hình đất nước

Sau 30 phút ngồi cabin cáp treo, chúng tôi lên tới “nóc nhà Đông Dương”. Ngắm nhìn và chụp ảnh mãn nguyện, chúng tôi lục tục giục nhau “xuống núi”. Ông Kim Lãm, người “tổ chức” nhóm lên đỉnh Phan Xi Phăng, xua tay vội vã: “Hôm nay là thứ 6. Điều đặc biệt sắp xảy ra”…

Lễ nhảy lửa đã được đông đảo du khách, người dân các địa phương tìm đến chiêm ngưỡng. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Gần nửa thế kỷ tận hiến cho văn hóa sơn cước

Những gì TS Trần Hữu Sơn nói, với tôi, đó hầu hết là những câu chuyện riêng có, lạ lùng mà cảm động về tấm lòng son sắt với di sản văn hóa vùng cao của một chuyên gia uy tín, từng phụ trách ngành văn hóa tỉnh Lào Cai, nguyên Phó Chủ tịch Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam, người được Chính phủ Cộng hòa Pháp trao tặng Huân chương Hiệp sĩ Cành cọ Hàn lâm trong lĩnh vực giáo dục, khoa học và văn hóa nghệ thuật.