Giải pháp thí điểm mô hình "đô thị bọt biển"

Qua quá trình nghiên cứu thực tiễn, nhiều chuyên gia chỉ ra: Mô hình "đô thị nước" đang trở thành một trong những giải pháp bền vững.

Thành phố Cần Thơ được quy hoạch phát triển đô thị xanh.
Thành phố Cần Thơ được quy hoạch phát triển đô thị xanh.

Tích hợp hạ tầng xanh và tư duy sinh thái

Cụ thể, mô hình này được xây dựng trên sự kết hợp giữa hạ tầng xanh và tư duy sinh thái để giúp đô thị hấp thụ, giữ lại và tái sử dụng nước mưa. Trong mô hình này, cơ quan chức năng hướng đến quy hoạch tích hợp giữa kỹ thuật và tự nhiên. Theo đó, hệ thống hạ tầng sẽ có khả năng hấp thu nước, chứa nước và thoát nước.

Tuy vậy, theo PGS,TS Nguyễn Hồng Tiến, nguyên Cục trưởng Hạ tầng kỹ thuật (Bộ Xây dựng), qua bối cảnh quản lý thoát nước, chống ngập của các đô thị trong nước và qua kinh nghiệm triển khai mô hình "đô thị bọt biển" trên thế giới, khi triển khai mô hình tại Việt Nam có thể sẽ gặp một số khó khăn: Chưa có cơ sở pháp lý để triển khai lồng ghép mô hình "đô thị bọt biển" trong quy hoạch đô thị; thiếu quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật để quy hoạch, xây dựng và triển khai các giải pháp cụ thể cũng như các công tác liên quan đến việc thẩm tra, thẩm định; chưa có hướng dẫn, quy trình triển khai mô hình "đô thị bọt biển" từ bước lập quy hoạch, lập dự án và triển khai thi công, đánh giá cụ thể; áp lực khan hiếm đất đai ở các đô thị lớn dẫn đến thiếu không gian xanh để phát triển mô hình; cơ quan quản lý chuyên môn ở địa phương, đơn vị tư vấn, thiết kế địa phương chưa có kinh nghiệm trong việc áp dụng các giải pháp "đô thị bọt biển"; thiếu cơ sở dữ liệu về kiểm soát bề mặt đô thị, hạn chế trong khả năng chia sẻ dữ liệu, kinh nghiệm của các địa phương với nhau…

Ông Tiến kiến nghị: Thực hiện thí điểm mô hình "đô thị bọt biển" với quy mô khác nhau ở các đô thị lựa chọn theo phân vùng khí hậu Việt Nam và các cấp đô thị, từ loại III trở lên để bước đầu đánh giá hiệu quả, hình thành quy trình lập và thẩm định quy hoạch, dự án. Trên cơ sở đánh giá, xây dựng và cập nhật quy chuẩn Quy hoạch xây dựng 01:2021/BXD, xây dựng hướng dẫn kỹ thuật quốc gia về "đô thị bọt biển"; bảo đảm căn cứ pháp lý cao nhất từ cấp trung ương thông qua nội dung "đô thị bọt biển" gắn với Chương trình mục tiêu quốc gia về ứng phó với biến đổi khí hậu.

Ngoài ra, cần thí điểm và xây dựng cơ chế hỗ trợ kỹ thuật và tài chính để bảo đảm sự đồng thuận của cộng đồng dân cư, doanh nghiệp khi tham gia mô hình; xây dựng dữ liệu dùng chung về quy hoạch "đô thị bọt biển", dự án "đô thị bọt biển", dữ liệu hỗ trợ phân tích kiểm soát khả năng thấm của bề mặt đô thị.

Nâng tầm tư duy quản trị phát triển đô thị

Nhìn vào hệ thống đô thị ở Việt Nam, có thể thấy, bên cạnh những thành tựu nổi bật về quy mô, chất lượng và hạ tầng, hệ thống đô thị Việt Nam vẫn đang phải đối mặt hàng loạt thách thức như tốc độ đô thị hóa nhanh nhưng thiếu đồng đều, bền vững, áp lực về hạ tầng kỹ thuật, môi trường và nhà ở quá cao. Ông Antonie Mougenot, chuyên gia Phát triển đô thị (Cơ quan Phát triển Pháp) cho rằng: Nhiều đô thị Việt Nam hiện vẫn dựa vào dữ liệu khí hậu cũ, điều này không còn phù hợp trước biến động thời tiết cực đoan. Khả năng chống chịu bắt đầu từ quy hoạch, và quy hoạch phải bắt đầu từ nhận diện rủi ro.

Nhiều chuyên gia cũng nhận xét: Không có đô thị nào có thể hết ngập tuyệt đối. Bởi thế, các đô thị cần tăng cường khả năng quản lý ngập ở mức an toàn và tăng khả năng phục hồi. Thay vì cố gắng thoát nước càng nhanh càng tốt, cần thiết kế đô thị có khả năng giữ nước tạm thời: Công viên trũng, quảng trường thấp, bãi đỗ xe kiêm hồ điều hòa, đường lát vật liệu thấm nước. Để hiện thực hóa tư duy "sống cùng nước", các đô thị cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, từ quy hoạch tổng thể đến quản lý chi tiết. Trước hết, quy hoạch các khu đô thị mới phải tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc phân lưu vực tiêu thoát nước. Việc san nền, nâng cốt cần được xem xét kỹ, tránh tình trạng khu vực mới cao hơn khu dân cư hiện hữu. Đồng thời, tỷ lệ diện tích dành cho cây xanh, mặt nước cần được bảo đảm theo đúng tiêu chuẩn, không cắt giảm để tăng diện tích xây dựng.

Bà Trần Thu Hằng, Vụ trưởng Quy hoạch-Kiến trúc, Bộ Xây dựng, chia sẻ: "Chất lượng sống đô thị không chỉ được đo bằng thu nhập hay tiện ích vật chất, mà còn thể hiện ở môi trường sống an toàn, trong lành, văn minh, nhân văn và sáng tạo. Muốn đạt được điều đó, chúng ta phải chuyển từ "quản lý phát triển" sang "quản trị phát triển"; từ "quy hoạch theo cung ứng" sang "quy hoạch theo nhu cầu và giá trị sống". Nếu không có tầm nhìn quy hoạch tốt và cơ chế quản trị hiệu quả, quá trình đô thị hóa có thể dẫn đến phân mảnh, mất bản sắc, thiếu bền vững, điều mà nhiều quốc gia đang phải trả giá" ■

Bộ Xây dựng đang lấy ý kiến đối với Dự thảo Nghị định hướng dẫn về phân loại đô thị. Tại dự thảo, Bộ Xây dựng đã đề xuất quy định về phát triển đô thị ứng phó với biến đổi khí hậu bao gồm các quy định: Yêu cầu về phát triển đô thị ứng phó với biến đổi khí hậu; nội dung thích ứng với biến đổi khí hậu trong phát triển đô thị; nội dung giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong phát triển đô thị; giám sát việc thực hiện phát triển đô thị ứng phó với biến đổi khí hậu.

Đề cập đến tình trạng ngập lụt tại các đô thị miền trung, ông Phạm Doãn Khánh, Phó Trưởng phòng Hợp tác quốc tế, Cục Quản lý đê điều và Phòng chống thiên tai (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), đề xuất: Cần nâng cấp hệ thống thoát nước, tăng diện tích thấm nước, phát triển không gian xanh, quản lý chặt sử dụng đất và đẩy mạnh công tác cảnh báo sớm và giáo dục cộng đồng.

Có thể bạn quan tâm

Kỹ sư phần mềm là đối tượng dễ bị ảnh hưởng bởi AI. Nguồn: FPT

Thuê trí tuệ - Lằn ranh đỏ

Trong lịch sử kinh tế, có một thứ vẫn luôn được coi là tài sản không thể chia, không thể mua, không thể bị tước đi: Trí tuệ của con người. Thời điểm Agentic AI (trí tuệ nhân tạo tự chủ) bùng nổ, điều đó không còn đúng nữa.

Trại huấn luyện của tác giả Linh Phan dành cho cá nhân muốn phát triển “công ty một người”. Nguồn: Vietnam Solo Expert

Mỗi cá nhân không còn nhỏ bé

Công nghệ có thể giúp một người vận hành như doanh nghiệp. Nhưng chỉ con người đủ trưởng thành mới có thể biến công nghệ thành tài sản, thay vì biến mình thành một cỗ máy sản xuất nhiều hơn.

Dự án cầu Nhật Tân (Hà Nội) không chỉ là công trình trọng điểm sử dụng hiệu quả vốn vay ODA từ Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA), mà còn được coi là biểu tượng thể hiện tình hữu nghị Việt-Nhật. (Ảnh: Thành Đạt)

Nâng tầm tín nhiệm quốc gia

Hội nghị lần thứ II Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã thông qua Kết luận số 18-KL/TW, trong đó có đề cập tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030.

Ông Nguyễn Quốc Phương (ảnh bên), Cục trưởng Cục Quản lý nợ và Kinh tế đối ngoại (Bộ Tài chính)

Cải cách tư duy quản lý, mở rộng dư địa huy động vốn

“Được kỳ vọng sẽ tháo gỡ những “nút thắt” kéo dài trong triển khai các dự án ODA và vay ưu đãi, Nghị định số 119/2026/NĐ-CP của Chính phủ (Nghị định 119) có rất nhiều điểm mới đáng chú ý, tác động tích cực đến tiến độ triển khai cũng như định hướng huy động vốn trong giai đoạn đặc biệt quan trọng hiện nay”.

Thực tế, chi phí vốn của cả nền kinh tế đang ở mức cao, làm giảm năng lực cạnh tranh, hạn chế khả năng đầu tư của doanh nghiệp, do đó bài toán hạ chi phí vốn đã trở nên cấp thiết.

Chìa khóa để hạ chi phí vốn cho nền kinh tế

Xếp hạng tín nhiệm quốc gia phản ánh khả năng trả nợ và mức độ rủi ro của một quốc gia. Xếp hạng tín nhiệm càng cao, chi phí vay vốn của Chính phủ, của doanh nghiệp quốc gia đó càng thấp, khả năng tiếp cận nhà đầu tư quốc tế càng lớn và ngược lại.

Cuộc sống của người dân châu Phi luôn phải đối mặt áp lực lớn cả về chính trị và xã hội, thậm chí sự bất bình đẳng do tình trạng “sống dựa” vào vay nợ của các quốc gia ở khu vực này.

Nhận diện vòng xoáy nợ nần trên toàn cầu

Khi đối mặt khủng hoảng cán cân thanh toán, tức không đủ khả năng chi trả cho nhập khẩu hay thanh toán nợ nước ngoài, các quốc gia thường tìm đến Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) hoặc những phương thức xử lý nợ mới.

Nhiều chương trình kết nối của CSIP đã hỗ trợ cộng đồng làm thiện nguyện chia sẻ bài học kinh nghiệm. (Nguồn: CSIP)

Chuyển dịch từ tự phát sang chú trọng bền vững

Nhìn một cách tổng thể, hoạt động thiện nguyện tại Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt quan trọng, từ những hành động mang tính tự phát, đang dần trở thành một nguồn lực xã hội có khả năng đóng góp vào các mục tiêu phát triển dài hạn.

Sự sụt giảm nguồn tài trợ đang mang đến những hệ lụy to lớn cho hệ thống cứu trợ nhân đạo toàn cầu.

Cân bằng phương trình bất khả thi

Chưa bao giờ, thế giới đối diện nhu cầu cứu trợ nhân đạo lớn như hiện tại. Nhưng có lẽ cũng chưa bao giờ, nguồn tài trợ dành cho những hoạt động nhân đạo lại “eo hẹp” như lúc này.

Góc tập huấn sơ cứu - Góc “đắt hàng” nhất trong khuôn khổ Lễ phát động Tháng Nhân đạo năm 2026 cấp quốc gia tại Cung Thể thao Quần Ngựa (Hà Nội).

80 năm - Hành trình Nhân ái vì cộng đồng

Tháng Nhân đạo 2026 gắn với dấu mốc kỷ niệm 80 năm thành lập Hội Chữ thập đỏ Việt Nam và 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người sáng lập và là Chủ tịch danh dự đầu tiên của Hội.

Cán bộ kỹ thuật lấy mẫu cho quá trình nghiên cứu chiết tách. (Nguồn: Viện Công nghệ xạ hiếm)

Nền tảng của công nghiệp xanh

Trong bối cảnh toàn cầu hóa cũng như cam kết lịch sử đưa mức phát thải ròng về “0”, đất hiếm nổi lên như một nhóm vật liệu chiến lược mang tính quyết định, không thể thay thế.

Ông Trần Bình Trọng, Cục trưởng Địa chất và Khoáng sản Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Chế biến sâu và nâng tầm công nghệ

Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Bình Trọng, Cục trưởng Địa chất và Khoáng sản Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Môi trường, chia sẻ: Trong quá trình cấp phép đầu tư, khai thác đất hiếm phải bảo đảm không chỉ dừng ở khai thác thô mà luôn gắn với chế biến sâu và chuyển giao, nâng tầm công nghệ.

Nếu không được kiểm soát, gánh nặng môi trường do khai thác khoáng sản có thể đè nặng lên vai của cộng đồng dân cư. (Ảnh Hoàng Tuân)

Gia cố “màng lọc” bảo vệ môi trường

Việc tồn tại nhiều điểm khai thác khoáng sản thiếu bền vững, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi sinh đòi hỏi công tác quản lý phải xem xét nghiêm túc, từ đó tìm ra giải pháp phù hợp trong khai thác, tách chế đất hiếm.

Ông Phạm Hùng Cát (trái) chia sẻ nỗi lo lắng khi môi trường bị đe dọa. (Ảnh NAM NGUYỄN)

Bài toán lãng phí kép từ một vụ vi phạm

Từng là một công trường khai thác sôi động, nhưng hiện giờ, khu mỏ đất hiếm thuộc thôn Yên Sơn, xã Xuân Ái (tỉnh Lào Cai) trở nên im lìm. Nhà xưởng bị bỏ hoang, máy móc hoen gỉ, tồn tại nguy cơ đe dọa môi trường nước trong khu vực.

Một dự án khai thác đất hiếm tại bang Alaska (Mỹ).

Điều quan trọng nhất không phải là trữ lượng

Sở hữu tiềm năng đất hiếm đứng thứ hai thế giới, Việt Nam đang nắm trong tay một lợi thế địa kinh tế quan trọng. Tuy nhiên, khoảng cách từ trữ lượng dưới lòng đất đến một ngành công nghiệp mang lại giá trị thực tiễn là một chặng đường dài.

LS Eco Energy (Hàn Quốc) công bố kế hoạch đầu tư hạ tầng tinh luyện đất hiếm tại Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 12/2025. Nguồn LS Eco Energy

Tận dụng lợi thế chuỗi cung ứng

Với tiềm năng sẵn có, Việt Nam không chỉ cần khai thác đất hiếm một cách thông minh, mà còn cần xây dựng chuỗi cung ứng minh bạch, tận dụng được các lợi thế về tài nguyên.

Mô hình dự án đường sắt tốc độ cao Hà Nội- Quảng Ninh, với tổng mức đầu tư hơn 5,6 tỷ USD vừa chính thức khởi công tại Quảng Ninh. Ảnh có sử dụng đồ họa AI

ĐỘT PHÁ VỀ KẾT NỐI HẠ TẦNG CHIẾN LƯỢC

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, nhiều nghệ sĩ trẻ cùng ekip đã chủ động có các đàm phán đa tầng trong chuyển quyền sử dụng có điều kiện, nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi của mình. Ảnh minh họa: KHIẾU MINH

Lấp đầy những khoảng trống ý thức

Bên cạnh Luật Sở hữu trí tuệ, được ban hành lần đầu vào cuối năm 2005, có hiệu lực từ ngày 1/7/2006 và đến nay, đã qua nhiều lần sửa đổi để phù hợp với diễn tiến của xã hội, Việt Nam hiện có một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật khá đầy đủ liên quan việc bảo vệ quyền tác giả và các quyền liên quan quyền tác giả.

Khoảng cách công nghệ giữa đường sắt hiện hữu và đường sắt tốc độ cao là rất lớn, vì vậy Việt Nam cần chuẩn bị tốt việc đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu tiến tới làm chủ công nghệ. Nguồn VNR

Định hình mạng lưới vận tải quốc gia

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức và tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Lớp học nâng cao trình độ về đường sắt tốc độ cao ngành Thi công và Bảo dưỡng công trình.

Mở rộng hợp tác trong đào tạo nguồn nhân lực mới

Một nhiệm vụ mang tính chiến lược, đóng vai trò then chốt trong xây dựng và vận hành đường sắt tốc độ cao, là phải đi trước một bước để đào tạo nguồn nhân lực có đủ năng lực, trình độ tiếp nhận, vận hành, khai thác, bảo trì và từng bước làm chủ các công nghệ tiên tiến, hiện đại đang được áp dụng với đường sắt tốc độ cao.

Ông Nguyễn Quốc Vượng, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR).

Bài toán về tầm nhìn và khả năng làm chủ công nghệ

Được xác định là lĩnh vực ưu tiên chiến lược, hợp tác phát triển đường sắt, nhất là đường sắt tốc độ cao, của Việt Nam không chỉ là câu chuyện của một công trình hạ tầng, mà là bài toán lớn đặt ra yêu cầu làm chủ công nghệ, đào tạo nhân lực và năng lực nội sinh.

Hành khách xếp hàng lên chuyến tàu G8389 tại nhà ga ở thành phố Nam Kinh (Trung Quốc). (Ảnh Tân Hoa xã)

Kinh nghiệm của Trung Quốc - Quốc gia “đi sau, về trước”

Không chỉ hiện thực hóa được mục tiêu “đi sau, về trước”, nhờ có sự đầu tư bài bản, mà hiện Trung Quốc còn đang “dẫn đầu thế giới” trong phát triển hệ thống đường sắt tốc độ cao. Đây là thành công góp phần quan trọng vào những kỳ tích tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội ở quốc gia này.

Khi Luật Sở hữu trí tuệ và quyền hình ảnh của người sáng tạo được thực thi đầy đủ, các tác giả làm việc trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật mới ở Việt Nam sẽ tích cực chủ động tham gia đăng ký bản quyền tác giả hơn nữa. (Trong ảnh: Vở múa đương đại Nón của biên đạo Vũ Ngọc Khải. Ảnh Đại Ngô)

Chuyển dịch tư duy về sở hữu trí tuệ

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam (Nghị quyết 80) đặt mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp 7% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vào năm 2030 và trở thành trụ cột kinh tế với 9% GDP vào năm 2045.