“Đường băng” mới đã mở

Với nỗ lực của các thế hệ người cầm bút, nền văn học Việt Nam hiện đại đã tạo nên nhiều thành tựu, ghi dấu ấn riêng trong hành trình phát triển của đất nước, dân tộc.

Tân hội viên Hội Nhà văn kỳ vọng những chính sách mới trong phát triển văn học. (Ảnh HẢI MIÊN)
Tân hội viên Hội Nhà văn kỳ vọng những chính sách mới trong phát triển văn học. (Ảnh HẢI MIÊN)

Dẫu vậy, thực tế đời sống những năm gần đây cho thấy, văn học đang rất cần luồng sinh khí mới để bứt phá, tạo được dấu ấn riêng xứng đáng trong đời sống xã hội, đồng thời góp phần quảng bá và khẳng định vị thế quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Phát triển chưa tương xứng

Trong suốt 81 năm qua, kể từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) ngày 2/9/1945, nền văn học Việt Nam hiện đại hình thành và phát triển đồng hành với vận mệnh dân tộc. Trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, văn học trở thành tiếng nói tinh thần mạnh mẽ, hun đúc ý chí đấu tranh, khắc họa sâu sắc hình ảnh con người Việt Nam kiên cường, anh dũng vượt qua thử thách cam go của lịch sử. Tác phẩm của các nhà văn, nhà thơ như Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Tuân, Nam Cao, Nguyễn Huy Tưởng, Chế Lan Viên, Nguyễn Khoa Điềm, Lê Anh Xuân, Hữu Thỉnh, Phạm Tiến Duật, Chính Hữu… mang giá trị nghệ thuật sâu sắc, có sức lan tỏa mạnh mẽ, cổ vũ các tầng lớp nhân dân, tạo động lực tinh thần, góp phần vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc.

Sau năm 1975, nhất là từ công cuộc Đổi mới năm 1986, văn học Việt Nam bước vào giai đoạn vận động mạnh mẽ hơn, thể hiện ở sự đa dạng, phong phú về đề tài, cảm hứng cũng như phương thức biểu đạt. Không chỉ tập trung phản ánh hiện thực chiến tranh và các vấn đề hậu chiến, văn học dần mở rộng biên độ khám phá đời sống cá nhân, những vấn đề thế sự, đạo đức, thân phận con người trong xã hội không ngừng vận động và biến chuyển mạnh mẽ, với những góc tiếp cận mới mẻ, với phong cách sáng tạo đa dạng. Nhiều tên tuổi đã được khẳng định ở giai đoạn trước tiếp tục có những sáng tạo đột phá về nội dung tư tưởng và bút pháp thể hiện, như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Lê Lựu... Cùng với đó, nhiều tác giả mới xuất hiện, ghi dấu ấn như Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Triều Hải, Phan Thị Vàng Anh,… Đáng chú ý, các nhà văn Việt Nam thể hiện tâm thế sẵn sàng tiếp nhận những tinh hoa thế giới, không ngừng nâng cao tính chuyên nghiệp, ý thức sâu sắc về bản sắc dân tộc, tôn vinh những giá trị nhân văn. Những sự thay đổi tích cực này giúp văn học tiệm cận hơn với các khuynh hướng chung của văn học thế giới và từng bước khẳng định được tiếng nói trên diễn đàn quốc tế.

Một trong những nỗ lực nổi bật của văn học Việt Nam trong những thập niên gần đây là việc dịch và quảng bá các tác phẩm văn học tiêu biểu, giới thiệu với bạn bè quốc tế. Từ những tác phẩm kinh điển như Truyện Kiều (Nguyễn Du) được dịch ra khoảng 20 ngôn ngữ, đến Nhật ký trong tù (Hồ Chí Minh) được dịch ra hơn 30 ngôn ngữ, Dế Mèn phiêu lưu ký (Tô Hoài) được dịch ra hơn 40 ngôn ngữ… Cùng với sự mở cửa, ngày càng có nhiều tác phẩm văn học Việt Nam bước ra thế giới như Đất rừng phương Nam (Đoàn Giỏi), Tướng về hưu (Nguyễn Huy Thiệp), Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ (Nguyễn Nhật Ánh), Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ (Nguyễn Ngọc Thuần), Cánh đồng bất tận (Nguyễn Ngọc Tư),… Cùng với đó, nhiều tác giả Việt Nam đã được vinh danh ở những giải thưởng văn học uy tín của thế giới.

Theo Cục Xuất bản, In và Phát hành (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), mỗi năm, có hàng trăm nhà xuất bản, đơn vị phát hành sách tham gia đàm phán bản quyền, giao lưu văn hóa, cập nhật xu hướng xuất bản và đặc biệt là quảng bá quốc tế. Tuy nhiên con số này vẫn còn khiêm tốn so với tiềm năng. Thực tế cho thấy, phần lớn các dự án dịch thuật thời gian qua vẫn dựa vào nỗ lực cá nhân hoặc các chương trình hợp tác nhỏ lẻ, thiếu một chiến lược quốc gia mang tính dài hơi, bền vững. Việc triển khai từ góc độ của hội nghề nghiệp gặp khó khăn về cơ chế, chính sách, nguồn lực tài chính cũng như đội ngũ dịch thuật.

Ở góc độ của người sáng tác, rất cần một cơ chế hỗ trợ mang tính hệ thống và bền vững. Lâu nay, các trại sáng tác, giải thưởng, chương trình hỗ trợ dù vẫn được tổ chức thường niên nhưng có lúc, có nơi chưa thật sự hiệu quả, bị phân tán, cào bằng, thiếu tính liên thông; vẫn còn tình trạng “phong trào hóa”, thiếu đầu tư chiều sâu, do đó chưa tạo được động lực đủ mạnh để khuyến khích những tìm tòi sáng tạo dài hạn. Bên cạnh đó, thị trường sách trong nước còn nhiều bất cập: sự lấn át của sách ngoại nhập, vấn đề sách lậu, vi phạm bản quyền, nhuận bút thấp… cùng với sự cạnh tranh gay gắt của các loại hình giải trí mới cũng khiến không ít người viết thấy chạnh lòng, thiếu động lực.

Bước tạo đà đầu tiên

Mới đây, Nghị định số 350/2025/NĐ-CP của Chính phủ Quy định về khuyến khích phát triển văn học (Nghị định 350), ban hành ngày 30/12/2025, được giới sáng tác cũng như những người làm công tác quản lý văn hóa vui mừng đón nhận. Bởi lần đầu tiên lĩnh vực văn học có một nghị định riêng, bao quát toàn bộ các hoạt động từ sáng tác, lý luận phê bình, dịch thuật đến tổ chức trại sáng tác, cuộc thi, giải thưởng và quảng bá tác phẩm trong và ngoài nước. Nghị định xác định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc tạo điều kiện, hỗ trợ và khuyến khích phát triển văn học như một bộ phận quan trọng của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Điểm mới đáng chú ý của Nghị định 350 là việc mở rộng không gian tham gia của các nguồn lực xã hội, thể hiện bằng việc khuyến khích doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư, tài trợ cho các hoạt động văn học; đồng thời nhấn mạnh vai trò phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước và các hội nghề nghiệp. Đây là bước đi quan trọng, giúp khắc phục tình trạng trông chờ vào nguồn bao cấp trong đầu tư cho văn học, tạo điều kiện để xã hội hóa nguồn lực nhưng vẫn bảo đảm định hướng giá trị. Quan trọng hơn, Nghị định 350 khẳng định vị thế của văn học trong chiến lược phát triển văn hóa quốc gia. Đây cũng là niềm mong mỏi lâu nay của giới sáng tác, khi văn học thường xuyên được nhắc đến trong việc góp phần xây dựng “nền tảng tinh thần của xã hội” nhưng chính sách đầu tư chưa tương xứng, thậm chí còn bị xem nhẹ.

Tuy nhiên, để Nghị định 350 thật sự phát huy hiệu quả, cần có những giải pháp triển khai đồng bộ và linh hoạt. Trước hết, vai trò điều phối của cơ quan quản lý nhà nước là rất quan trọng, nhằm bảo đảm các chương trình hỗ trợ đúng trọng tâm, trọng điểm, không dàn trải, hình thức. Việc xây dựng các quỹ sáng tác, chương trình đặt hàng tác phẩm theo chủ đề lớn của đất nước, gắn với những vấn đề đương đại, được xem là một hướng đi cần thiết. Khi người viết được tạo điều kiện để “sống được với nghề” sẽ tạo thêm động lực nuôi bền niềm đam mê sáng tạo.

Cùng với đó, vai trò của các hội nghề nghiệp, nhất là Hội Nhà văn Việt Nam và các hội văn học nghệ thuật địa phương, cần được phát huy mạnh mẽ hơn. Các hội là nơi tập hợp, tạo môi trường sinh hoạt, trao đổi về nghề nghiệp, bảo vệ quyền lợi hội viên, đồng thời cũng cần trở thành cầu nối giữa người sáng tác với chính sách, thị trường và công chúng. Việc tổ chức các trại sáng tác theo hướng chuyên sâu, chọn lọc, được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao chất lượng tác phẩm, nhất là đối với đội ngũ tác giả trẻ.

Một trụ cột không thể thiếu trong chiến lược phát triển văn học thời gian tới là dịch thuật và quảng bá quốc tế. Nghị định 350 đã mở ra cơ sở pháp lý để Nhà nước hỗ trợ trực tiếp cho hoạt động này, song việc triển khai cần gắn với tầm nhìn dài hạn. Cụ thể ngành chức năng cùng với hội nghề nghiệp cần xây dựng một chương trình dịch thuật quốc gia, lựa chọn có trọng điểm những tác phẩm tiêu biểu để đầu tư dịch và quảng bá. Bên cạnh đó, việc đào tạo đội ngũ dịch giả chuyên nghiệp, huy động được lực lượng người Việt trẻ đang học tập, sinh sống ở nước ngoài tâm huyết, có khả năng làm việc trực tiếp với các nhà xuất bản quốc tế là yếu tố then chốt để nâng cao chất lượng bản dịch và khả năng tiếp cận thị trường toàn cầu.

Trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ, việc ứng dụng công nghệ cũng được xem là một hướng đi quan trọng để mở rộng không gian tiếp cận của văn học. Các nền tảng xuất bản số, thư viện điện tử, chương trình giao lưu trực tuyến với tác giả, độc giả quốc tế không chỉ giúp quảng bá tác phẩm, mà còn tạo điều kiện để văn học Việt Nam tham gia sâu hơn vào dòng chảy văn hóa toàn cầu. Nếu được đầu tư đúng mức, đây có thể trở thành “đường băng” mới để văn học Việt Nam cất cánh trong kỷ nguyên số ■

Nghị định 350 đã đặt viên gạch đầu tiên cho việc xây dựng một hệ sinh thái văn học có sự đồng hành của Nhà nước, giới cầm bút và xã hội. Khi hành lang pháp lý đã được khơi mở thông thoáng, vấn đề còn lại là sự vào cuộc nghiêm túc, sáng tạo và trách nhiệm của các chủ thể liên quan. Làm tốt được điều đó, văn học Việt Nam không chỉ tiếp tục hoàn thành sứ mệnh phản ánh và dẫn dắt, bồi đắp đời sống tinh thần xã hội, mà còn có thể khẳng định vị thế xứng đáng trên bản đồ văn học thế giới trong những thập niên tới.

Có thể bạn quan tâm

Chương trình nghệ thuật đặc biệt Xuân Quê hương 2026. Ảnh: An Đăng

Nối vòng tay lớn, phát huy nguồn lực kiều bào

Trong giai đoạn phát triển mới, việc ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW là yêu cầu khách quan, đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về người Việt Nam ở nước ngoài và công tác người Việt Nam ở nước ngoài.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và đại diện cộng đồng người Việt Nam tại Canada. Ảnh: Thống Nhất

Tầm nhìn chiến lược trong giai đoạn phát triển mới

Nhất quán tinh thần đoàn kết trong đường lối chiến lược về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW - văn kiện chính trị quan trọng thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược của Đảng trong giai đoạn phát triển mới.

TS Trần Hải Linh.

Hun đúc sức mạnh đại đoàn kết vì khát vọng chung

Thực tế minh chứng, đại đoàn kết không thể chỉ được thể hiện bằng khẩu hiệu mà phải được cụ thể hóa bằng cơ chế tham gia, đối thoại, phản biện, ghi nhận và sử dụng thực chất những đóng góp của kiều bào. Đó là khẳng định của TS Trần Hải Linh, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nhân và Đầu tư Việt Nam-Hàn Quốc, Chủ tịch sáng lập Hội Chuyên gia, Trí thức Việt Nam-Hàn Quốc, khi trả lời phỏng vấn Nhân Dân cuối tuần.

Trại hè "Việt Nam 2026 - tôn vinh tiếng Việt gắn kết cộng đồng" được tổ chức dành riêng cho con em kiều bào ở xa Tổ quốc. Ảnh: UBNVNONN

Giữ tiếng Việt - Giữ một con đường trở về quê hương

Dù ở Tokyo, Paris, Seoul, Bangkok, Vientiane hay bất cứ nơi nào trên thế giới, khi một người trẻ tự hào nói hai tiếng Việt Nam, chúng ta biết rằng quê hương vẫn đang hiện diện trong trái tim các em. Bởi vậy, gìn giữ tiếng Việt không đơn thuần là gìn giữ sự tồn tại của một ngôn ngữ, mà đó là giữ một con đường trở về quê hương.

Cộng đồng người Việt tại Nga - nhịp cầu vững chắc nối tình hữu nghị Việt-Nga. Ảnh: Tâm Hằng

Chất xúc tác khơi lên tiềm lực kiều bào

Hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ hướng về quê hương, mà nhờ sự gắn kết của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, có thể cùng hơn 100 triệu người Việt Nam trong nước tạo thành một mạng lưới chung của trí tuệ, khát vọng và hành động.

Nghị quyết số 23-NQ/TW mang tới những định hướng quan trọng và rất mới về giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và tăng cường gắn kết với quê hương. Ảnh: Xuân Giao

Xây những nhịp cầu mang văn hóa Việt Nam ra thế giới

Bên cạnh câu hỏi quen thuộc “Kiều bào có thể đóng góp gì cho đất nước?”, chúng ta cần đặt thêm một câu hỏi quan trọng không kém: “Đất nước có thể tạo điều kiện ra sao để kiều bào phát huy tốt nhất khả năng đóng góp của mình?”. Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt đối với một cộng đồng đông đảo, đa dạng và có lịch sử hình thành rất khác nhau như người Việt Nam ở nước ngoài.

Minh họa: PHAN DUY THANH

Thách thức trong kỷ nguyên dữ liệu

Trong thời đại mà mỗi phần trăm thành tích đều được đo đạc và tối ưu bằng dữ liệu, thế giới đã bước sang cuộc đua mới, nơi cảm biến và những con số có thể quyết định ranh giới thắng thua.

Vận động viên Hoàng Quý Phước là trường hợp hiếm hoi thuộc chương trình thí điểm khoa học đặc thù.

Khoảng trống còn thiếu

Muốn chinh phục mục tiêu giành từ năm đến bảy Huy chương vàng ASIAD, và phấn đấu có thành tích ổn định ở các kỳ Olympic, thể thao Việt Nam cần nhanh chóng ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào công tác đào tạo và huấn luyện vận động viên. Tuy nhiên, đây vẫn đang là mắt xích yếu nhất, đồng thời là bài toán lớn đầy thách thức ở thời điểm hiện tại.

Chuyên gia Dương Đức Thủy

“Chúng ta đã có máy, nhưng lại để trong kho!”

Đó là câu mà chuyên gia Dương Đức Thủy thốt lên trong cuộc trả lời phỏng vấn Nhân Dân cuối tuần. Bởi, vấn đề của điền kinh Việt Nam không chỉ là thiếu thiết bị, mà là thiếu cả thói quen dùng dữ liệu và tư duy chuyên nghiệp, từ nhà quản lý đến chính vận động viên.

Hệ thống SportVU tạo ra cuộc cách mạng ở nhiều môn thể thao tại Mỹ.

Từ tên lửa đến vạch ba điểm

Từ những năm 2005, hai nhà khoa học Israel với chuyên môn theo dõi tên lửa, Gal Oz và Miky Tamir, đã mang phương pháp định vị vật thể trong môi trường biến động đến với thể thao.

Nguyễn Thanh Nhàn ăn mừng bàn thắng mang về Huy chương vàng SEA Games 33, với chiếc "áo yếm" Catapult bên trong.

Cất cánh trên đường băng công nghệ

Thể thao không còn thuần túy là trò chơi của con người, khi những ứng dụng khoa học công nghệ đã đi sâu vào từng ngõ ngách, giúp các chuyên gia “số hóa” năng lực vận động viên bằng hồ sơ vận động chi tiết, từ đó nâng hiệu quả tập luyện và thi đấu.

Công nghệ TrackMan thay đổi hoàn toàn tư duy huấn luyện, sang áp dụng khoa học dữ liệu. Ảnh: Thành Đạt

Bệ phóng cho những “cỗ máy” bắn bóng

Dù sở hữu hệ thống sân tập, thi đấu tiêu chuẩn, cùng số lượng người chơi tăng nhanh, golf Việt Nam vẫn gặp nhiều thách thức trong quá trình đào tạo vận động viên đỉnh cao.

Cầu Trần Hưng Đạo (Hà Nội), công trình hạ tầng trọng điểm, được đẩy nhanh tiến độ từ các chính sách khơi thông nguồn lực đất đai theo Luật Đất đai năm 2024. Ảnh: Thành Đạt

Thể chế hóa chủ trương, mở đường cho phát triển

Trong giai đoạn phát triển mới, việc sửa đổi Luật Đất đai năm 2024 hướng tới thể chế hóa và hiện thực hóa tinh thần xuyên suốt trong Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.

Dự án Luật Đất đai (sửa đổi) được kỳ vọng sẽ khơi thông nguồn lực đất đai và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, tổ chức, doanh nghiệp. Ảnh: Thành Đạt

Định vị vai trò mới trong phát triển đất nước

Khi mục tiêu phát triển thay đổi, từ vai trò đến tư duy quản lý, cách thức sử dụng đất đai cũng phải thay đổi. Đây được xác định là nhiệm vụ quan trọng, đã được Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan chỉ rõ.

Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức lấy ý kiến góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi). Ảnh: Hữu Hùng

Hoàn thiện cơ chế, tháo gỡ triệt để vướng mắc phát sinh

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của cơ quan chịu trách nhiệm soạn thảo, cơ quan thẩm định, các chuyên gia, luật sư đối với nội dung dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), nhằm đẩy nhanh tiến trình thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng, tạo môi trường đầu tư minh bạch hơn, dư địa khai thác hiệu quả hơn nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế-xã hội và tiếp tục tháo gỡ triệt để vướng mắc phát sinh trong quá trình thực thi.

Cơ sở dữ liệu đất đai và cơ sở dữ liệu công chứng có chức năng khác nhau nhưng bổ trợ cho nhau.

Bảo đảm an toàn pháp lý trong giao dịch đất đai

Nội dung Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã cơ bản thể chế hóa đầy đủ các chủ trương lớn của Đảng về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, vẫn có một số vấn đề cần tiếp tục được rà soát, làm rõ, nhất là trong quy trình giao dịch đất đai.

Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã có nhiều điểm mới về hình thức bồi thường, chất lượng và địa điểm tái định cư cho người bị thu hồi đất. Trong ảnh: Người dân bị thu hồi đất phục vụ mở đường ở Đê La Thành về tái định cư tại Khu CT3 Nghĩa Đô, TP Hà Nội. Ảnh: HIẾU MINH

Minh bạch giá đất và phương án phục hồi sinh kế

Đã có nhiều điểm mới về hình thức bồi thường, chất lượng và địa điểm tái định cư, suất tái định cư tối thiểu cũng như cơ chế xác định giá bồi thường. Song, để bảo đảm tốt hơn quyền lợi của cả chủ đầu tư lẫn người có đất bị thu hồi và hạn chế vướng mắc trong giải phóng mặt bằng, Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) vẫn cần tiếp tục hoàn thiện một số quy định về vấn đề minh bạch giá đất và phương án phục hồi sinh kế.

Học phần Trải nghiệm hoạt động mỹ thuật của sinh viên Khoa Sư phạm Mỹ thuật, Trường đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương hiện được tích hợp đa dạng các hình thức đánh giá, khuyến khích sự sáng tạo của sinh viên. Nguồn ảnh: NUAE-Khoa Sư phạm Mỹ thuật.

Thúc đẩy tích hợp và tiếp cận liên ngành

Việc các cơ sở giáo dục đẩy mạnh chuyển đổi số, khai thác học liệu số, tăng cường thực hành, trải nghiệm đồng thời phối hợp với các tổ chức, cá nhân triển khai đa dạng các hoạt động giáo dục nghệ thuật trong và ngoài nhà trường, khuyến khích học sinh sáng tạo, cảm thụ và phát huy giá trị văn hóa truyền thống thể hiện rõ tinh thần đổi mới giáo dục nghệ thuật ở nước ta.

Giảng viên và sinh viên Khoa Nghệ thuật, Trường đại học Sư phạm Hà Nội tham gia Chương trình văn nghệ chào mừng “80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam”, tháng 1/2026.

Dịch chuyển phương pháp, chú trọng nguồn lực

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số nhà nghiên cứu, giảng viên, giáo viên bậc phổ thông về cách thức đổi mới giáo dục nghệ thuật, mức độ ứng dụng công nghệ trong giảng dạy và học tập, giúp cả thầy và trò vừa phát huy được tinh thần sáng tạo, nâng cao nhận thức thẩm mỹ, vừa góp phần bảo tồn, nhân lên giá trị nghệ thuật truyền thống của dân tộc.

Học sinh Trường tiểu học Phương Mai, Thành phố Hà Nội, tham dự Chương trình giao lưu Giáo dục kỹ năng tham gia giao thông an toàn cấp tiểu học năm học 2025-2026.

Để học sinh được sống trong âm nhạc

Giờ đây, chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi học sinh có thể tiếp cận vô số ca khúc, thể loại và xu hướng âm nhạc của Việt Nam cũng như thế giới. Nhưng nghe nhiều không đồng nghĩa với biết nghe; tiếp xúc âm nhạc thường xuyên cũng chưa chắc tạo nên năng lực cảm thụ âm nhạc. Bởi vậy, bên cạnh việc trang bị kiến thức, tăng cường các hoạt động trải nghiệm cần được xem là một nội dung quan trọng của giáo dục âm nhạc trong nhà trường.

Học sinh Trường THCS Lê Ngọc Hân tham gia triển lãm tranh và giao lưu với các bác, các chú thương binh tại Trung tâm Điều dưỡng thương binh ở tỉnh Ninh Bình. Ảnh: Lê Ngọc

Xây dựng môi trường khuyến khích sự sáng tạo

Giáo dục nghệ thuật ở bậc phổ thông hiện nay là con đường quan trọng để phát triển cảm xúc, khả năng quan sát, tư duy sáng tạo và phát triển nhân cách của học sinh. Trong đó, môn Mĩ thuật góp phần giúp học sinh biết cảm thụ cái đẹp, biết biểu đạt suy nghĩ và cảm xúc của mình, biết sáng tạo và làm cho môi trường sống chung quanh trở nên đẹp hơn.

Cấu trúc mô hình SMART - MUSIC, một phương pháp giáo dục âm nhạc có thể phù hợp với học sinh có nhu cầu giáo dục đặc biệt.

Ứng dụng công nghệ trong giáo dục đặc biệt

Việc ứng dụng công nghệ số trong dạy học âm nhạc cho học sinh có nhu cầu giáo dục đặc biệt mở ra khả năng tăng cường tính trực quan, linh hoạt và cá nhân hóa quá trình học tập. Những đặc điểm khác biệt về khả năng chú ý, giao tiếp, ghi nhớ và tốc độ tiếp thu của học sinh tự kỷ hoặc khuyết tật trí tuệ đặt ra yêu cầu lựa chọn nội dung, phương pháp và học liệu phù hợp với từng cá nhân.

Xây dựng trường học hạnh phúc không chỉ là một khẩu hiệu. Trong ảnh: Cô và trò Trường THPT Việt Đức. Ảnh: Thành Đạt

Đổi mới bắt đầu từ người thầy

Năm học 2026-2027 được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt kỳ vọng trở thành một năm học “hoàn toàn khác”, với những chuyển biến thực chất trong chất lượng giáo dục và đời sống nhà giáo.

Phát triển nghề nghiệp thông qua các lớp đào tạo, tập huấn hiệu quả sẽ giúp giáo viên vững bước trên hành trình nghề nghiệp. Trong ảnh: Lớp đào tạo kỹ năng đặt câu hỏi trong môn Ngữ văn tại Trường THCS Nguyễn Du (Hà Nội).

Mọi cải cách đều phải xuất phát từ lớp học

Một chương trình có thể được thiết kế rất hiện đại, một nền tảng số có thể được giới thiệu với nhiều tính năng, một chủ trương có thể đúng về tầm nhìn, nhưng khi bước qua cánh cửa lớp học, chất lượng của đổi mới vẫn phụ thuộc vào người giáo viên. Liệu họ có hiểu chủ trương, tin vào ý nghĩa của nó, có đủ năng lực, thời gian và quyền chủ động để hiện thực hóa nó hay không?

TS Vũ Minh Đức - Cục trưởng Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo).

Hành lang pháp lý bảo vệ người thầy

Năm học 2026-2027 đánh dấu một cột mốc đặc biệt, khi Luật Nhà giáo chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2026. Lần đầu trong lịch sử giáo dục Việt Nam, vị thế, quyền lợi và trách nhiệm của người thầy được thể chế hóa bằng một đạo luật riêng. Để làm rõ những chính sách mới mang tính đột phá - từ tiền lương, phụ cấp, tuyển dụng đến bảo vệ quyền hành nghề của giáo viên, phóng viên Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với TS Vũ Minh Đức - Cục trưởng Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo) chung quanh vấn đề này.

Khoảnh khắc cô Vũ Minh Trang, giáo viên chủ nhiệm lớp 6C Trường THCS Nguyễn Du “khoe” những thành quả đáng trân trọng nhất của mỗi giáo viên. Ảnh: Thành Đạt

Khoảng trống sau mỗi tiết dạy

Trên thực tế, nhiều giáo viên cho biết họ có thể hoàn thành tốt các công việc chuyên môn, từ soạn giáo án đến đứng lớp nhiều tiết. Song, điều khiến họ cảm thấy áp lực hơn cả là việc phải xử lý những vấn đề “ngoài giờ”. Chăm sóc sức khỏe tinh thần cho đội ngũ giáo viên đang được đặt ra cấp bách.