Dẫu vậy, thực tế đời sống những năm gần đây cho thấy, văn học đang rất cần luồng sinh khí mới để bứt phá, tạo được dấu ấn riêng xứng đáng trong đời sống xã hội, đồng thời góp phần quảng bá và khẳng định vị thế quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Phát triển chưa tương xứng
Trong suốt 81 năm qua, kể từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) ngày 2/9/1945, nền văn học Việt Nam hiện đại hình thành và phát triển đồng hành với vận mệnh dân tộc. Trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, văn học trở thành tiếng nói tinh thần mạnh mẽ, hun đúc ý chí đấu tranh, khắc họa sâu sắc hình ảnh con người Việt Nam kiên cường, anh dũng vượt qua thử thách cam go của lịch sử. Tác phẩm của các nhà văn, nhà thơ như Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Tuân, Nam Cao, Nguyễn Huy Tưởng, Chế Lan Viên, Nguyễn Khoa Điềm, Lê Anh Xuân, Hữu Thỉnh, Phạm Tiến Duật, Chính Hữu… mang giá trị nghệ thuật sâu sắc, có sức lan tỏa mạnh mẽ, cổ vũ các tầng lớp nhân dân, tạo động lực tinh thần, góp phần vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc.
Sau năm 1975, nhất là từ công cuộc Đổi mới năm 1986, văn học Việt Nam bước vào giai đoạn vận động mạnh mẽ hơn, thể hiện ở sự đa dạng, phong phú về đề tài, cảm hứng cũng như phương thức biểu đạt. Không chỉ tập trung phản ánh hiện thực chiến tranh và các vấn đề hậu chiến, văn học dần mở rộng biên độ khám phá đời sống cá nhân, những vấn đề thế sự, đạo đức, thân phận con người trong xã hội không ngừng vận động và biến chuyển mạnh mẽ, với những góc tiếp cận mới mẻ, với phong cách sáng tạo đa dạng. Nhiều tên tuổi đã được khẳng định ở giai đoạn trước tiếp tục có những sáng tạo đột phá về nội dung tư tưởng và bút pháp thể hiện, như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Lê Lựu... Cùng với đó, nhiều tác giả mới xuất hiện, ghi dấu ấn như Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Triều Hải, Phan Thị Vàng Anh,… Đáng chú ý, các nhà văn Việt Nam thể hiện tâm thế sẵn sàng tiếp nhận những tinh hoa thế giới, không ngừng nâng cao tính chuyên nghiệp, ý thức sâu sắc về bản sắc dân tộc, tôn vinh những giá trị nhân văn. Những sự thay đổi tích cực này giúp văn học tiệm cận hơn với các khuynh hướng chung của văn học thế giới và từng bước khẳng định được tiếng nói trên diễn đàn quốc tế.
Một trong những nỗ lực nổi bật của văn học Việt Nam trong những thập niên gần đây là việc dịch và quảng bá các tác phẩm văn học tiêu biểu, giới thiệu với bạn bè quốc tế. Từ những tác phẩm kinh điển như Truyện Kiều (Nguyễn Du) được dịch ra khoảng 20 ngôn ngữ, đến Nhật ký trong tù (Hồ Chí Minh) được dịch ra hơn 30 ngôn ngữ, Dế Mèn phiêu lưu ký (Tô Hoài) được dịch ra hơn 40 ngôn ngữ… Cùng với sự mở cửa, ngày càng có nhiều tác phẩm văn học Việt Nam bước ra thế giới như Đất rừng phương Nam (Đoàn Giỏi), Tướng về hưu (Nguyễn Huy Thiệp), Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ (Nguyễn Nhật Ánh), Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ (Nguyễn Ngọc Thuần), Cánh đồng bất tận (Nguyễn Ngọc Tư),… Cùng với đó, nhiều tác giả Việt Nam đã được vinh danh ở những giải thưởng văn học uy tín của thế giới.
Theo Cục Xuất bản, In và Phát hành (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), mỗi năm, có hàng trăm nhà xuất bản, đơn vị phát hành sách tham gia đàm phán bản quyền, giao lưu văn hóa, cập nhật xu hướng xuất bản và đặc biệt là quảng bá quốc tế. Tuy nhiên con số này vẫn còn khiêm tốn so với tiềm năng. Thực tế cho thấy, phần lớn các dự án dịch thuật thời gian qua vẫn dựa vào nỗ lực cá nhân hoặc các chương trình hợp tác nhỏ lẻ, thiếu một chiến lược quốc gia mang tính dài hơi, bền vững. Việc triển khai từ góc độ của hội nghề nghiệp gặp khó khăn về cơ chế, chính sách, nguồn lực tài chính cũng như đội ngũ dịch thuật.
Ở góc độ của người sáng tác, rất cần một cơ chế hỗ trợ mang tính hệ thống và bền vững. Lâu nay, các trại sáng tác, giải thưởng, chương trình hỗ trợ dù vẫn được tổ chức thường niên nhưng có lúc, có nơi chưa thật sự hiệu quả, bị phân tán, cào bằng, thiếu tính liên thông; vẫn còn tình trạng “phong trào hóa”, thiếu đầu tư chiều sâu, do đó chưa tạo được động lực đủ mạnh để khuyến khích những tìm tòi sáng tạo dài hạn. Bên cạnh đó, thị trường sách trong nước còn nhiều bất cập: sự lấn át của sách ngoại nhập, vấn đề sách lậu, vi phạm bản quyền, nhuận bút thấp… cùng với sự cạnh tranh gay gắt của các loại hình giải trí mới cũng khiến không ít người viết thấy chạnh lòng, thiếu động lực.
Bước tạo đà đầu tiên
Mới đây, Nghị định số 350/2025/NĐ-CP của Chính phủ Quy định về khuyến khích phát triển văn học (Nghị định 350), ban hành ngày 30/12/2025, được giới sáng tác cũng như những người làm công tác quản lý văn hóa vui mừng đón nhận. Bởi lần đầu tiên lĩnh vực văn học có một nghị định riêng, bao quát toàn bộ các hoạt động từ sáng tác, lý luận phê bình, dịch thuật đến tổ chức trại sáng tác, cuộc thi, giải thưởng và quảng bá tác phẩm trong và ngoài nước. Nghị định xác định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc tạo điều kiện, hỗ trợ và khuyến khích phát triển văn học như một bộ phận quan trọng của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Điểm mới đáng chú ý của Nghị định 350 là việc mở rộng không gian tham gia của các nguồn lực xã hội, thể hiện bằng việc khuyến khích doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư, tài trợ cho các hoạt động văn học; đồng thời nhấn mạnh vai trò phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước và các hội nghề nghiệp. Đây là bước đi quan trọng, giúp khắc phục tình trạng trông chờ vào nguồn bao cấp trong đầu tư cho văn học, tạo điều kiện để xã hội hóa nguồn lực nhưng vẫn bảo đảm định hướng giá trị. Quan trọng hơn, Nghị định 350 khẳng định vị thế của văn học trong chiến lược phát triển văn hóa quốc gia. Đây cũng là niềm mong mỏi lâu nay của giới sáng tác, khi văn học thường xuyên được nhắc đến trong việc góp phần xây dựng “nền tảng tinh thần của xã hội” nhưng chính sách đầu tư chưa tương xứng, thậm chí còn bị xem nhẹ.
Tuy nhiên, để Nghị định 350 thật sự phát huy hiệu quả, cần có những giải pháp triển khai đồng bộ và linh hoạt. Trước hết, vai trò điều phối của cơ quan quản lý nhà nước là rất quan trọng, nhằm bảo đảm các chương trình hỗ trợ đúng trọng tâm, trọng điểm, không dàn trải, hình thức. Việc xây dựng các quỹ sáng tác, chương trình đặt hàng tác phẩm theo chủ đề lớn của đất nước, gắn với những vấn đề đương đại, được xem là một hướng đi cần thiết. Khi người viết được tạo điều kiện để “sống được với nghề” sẽ tạo thêm động lực nuôi bền niềm đam mê sáng tạo.
Cùng với đó, vai trò của các hội nghề nghiệp, nhất là Hội Nhà văn Việt Nam và các hội văn học nghệ thuật địa phương, cần được phát huy mạnh mẽ hơn. Các hội là nơi tập hợp, tạo môi trường sinh hoạt, trao đổi về nghề nghiệp, bảo vệ quyền lợi hội viên, đồng thời cũng cần trở thành cầu nối giữa người sáng tác với chính sách, thị trường và công chúng. Việc tổ chức các trại sáng tác theo hướng chuyên sâu, chọn lọc, được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao chất lượng tác phẩm, nhất là đối với đội ngũ tác giả trẻ.
Một trụ cột không thể thiếu trong chiến lược phát triển văn học thời gian tới là dịch thuật và quảng bá quốc tế. Nghị định 350 đã mở ra cơ sở pháp lý để Nhà nước hỗ trợ trực tiếp cho hoạt động này, song việc triển khai cần gắn với tầm nhìn dài hạn. Cụ thể ngành chức năng cùng với hội nghề nghiệp cần xây dựng một chương trình dịch thuật quốc gia, lựa chọn có trọng điểm những tác phẩm tiêu biểu để đầu tư dịch và quảng bá. Bên cạnh đó, việc đào tạo đội ngũ dịch giả chuyên nghiệp, huy động được lực lượng người Việt trẻ đang học tập, sinh sống ở nước ngoài tâm huyết, có khả năng làm việc trực tiếp với các nhà xuất bản quốc tế là yếu tố then chốt để nâng cao chất lượng bản dịch và khả năng tiếp cận thị trường toàn cầu.
Trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ, việc ứng dụng công nghệ cũng được xem là một hướng đi quan trọng để mở rộng không gian tiếp cận của văn học. Các nền tảng xuất bản số, thư viện điện tử, chương trình giao lưu trực tuyến với tác giả, độc giả quốc tế không chỉ giúp quảng bá tác phẩm, mà còn tạo điều kiện để văn học Việt Nam tham gia sâu hơn vào dòng chảy văn hóa toàn cầu. Nếu được đầu tư đúng mức, đây có thể trở thành “đường băng” mới để văn học Việt Nam cất cánh trong kỷ nguyên số ■
Nghị định 350 đã đặt viên gạch đầu tiên cho việc xây dựng một hệ sinh thái văn học có sự đồng hành của Nhà nước, giới cầm bút và xã hội. Khi hành lang pháp lý đã được khơi mở thông thoáng, vấn đề còn lại là sự vào cuộc nghiêm túc, sáng tạo và trách nhiệm của các chủ thể liên quan. Làm tốt được điều đó, văn học Việt Nam không chỉ tiếp tục hoàn thành sứ mệnh phản ánh và dẫn dắt, bồi đắp đời sống tinh thần xã hội, mà còn có thể khẳng định vị thế xứng đáng trên bản đồ văn học thế giới trong những thập niên tới.