“Đường băng” mới đã mở

Với nỗ lực của các thế hệ người cầm bút, nền văn học Việt Nam hiện đại đã tạo nên nhiều thành tựu, ghi dấu ấn riêng trong hành trình phát triển của đất nước, dân tộc.

Tân hội viên Hội Nhà văn kỳ vọng những chính sách mới trong phát triển văn học. (Ảnh HẢI MIÊN)
Tân hội viên Hội Nhà văn kỳ vọng những chính sách mới trong phát triển văn học. (Ảnh HẢI MIÊN)

Dẫu vậy, thực tế đời sống những năm gần đây cho thấy, văn học đang rất cần luồng sinh khí mới để bứt phá, tạo được dấu ấn riêng xứng đáng trong đời sống xã hội, đồng thời góp phần quảng bá và khẳng định vị thế quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Phát triển chưa tương xứng

Trong suốt 81 năm qua, kể từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) ngày 2/9/1945, nền văn học Việt Nam hiện đại hình thành và phát triển đồng hành với vận mệnh dân tộc. Trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, văn học trở thành tiếng nói tinh thần mạnh mẽ, hun đúc ý chí đấu tranh, khắc họa sâu sắc hình ảnh con người Việt Nam kiên cường, anh dũng vượt qua thử thách cam go của lịch sử. Tác phẩm của các nhà văn, nhà thơ như Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Tuân, Nam Cao, Nguyễn Huy Tưởng, Chế Lan Viên, Nguyễn Khoa Điềm, Lê Anh Xuân, Hữu Thỉnh, Phạm Tiến Duật, Chính Hữu… mang giá trị nghệ thuật sâu sắc, có sức lan tỏa mạnh mẽ, cổ vũ các tầng lớp nhân dân, tạo động lực tinh thần, góp phần vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc.

Sau năm 1975, nhất là từ công cuộc Đổi mới năm 1986, văn học Việt Nam bước vào giai đoạn vận động mạnh mẽ hơn, thể hiện ở sự đa dạng, phong phú về đề tài, cảm hứng cũng như phương thức biểu đạt. Không chỉ tập trung phản ánh hiện thực chiến tranh và các vấn đề hậu chiến, văn học dần mở rộng biên độ khám phá đời sống cá nhân, những vấn đề thế sự, đạo đức, thân phận con người trong xã hội không ngừng vận động và biến chuyển mạnh mẽ, với những góc tiếp cận mới mẻ, với phong cách sáng tạo đa dạng. Nhiều tên tuổi đã được khẳng định ở giai đoạn trước tiếp tục có những sáng tạo đột phá về nội dung tư tưởng và bút pháp thể hiện, như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Lê Lựu... Cùng với đó, nhiều tác giả mới xuất hiện, ghi dấu ấn như Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Triều Hải, Phan Thị Vàng Anh,… Đáng chú ý, các nhà văn Việt Nam thể hiện tâm thế sẵn sàng tiếp nhận những tinh hoa thế giới, không ngừng nâng cao tính chuyên nghiệp, ý thức sâu sắc về bản sắc dân tộc, tôn vinh những giá trị nhân văn. Những sự thay đổi tích cực này giúp văn học tiệm cận hơn với các khuynh hướng chung của văn học thế giới và từng bước khẳng định được tiếng nói trên diễn đàn quốc tế.

Một trong những nỗ lực nổi bật của văn học Việt Nam trong những thập niên gần đây là việc dịch và quảng bá các tác phẩm văn học tiêu biểu, giới thiệu với bạn bè quốc tế. Từ những tác phẩm kinh điển như Truyện Kiều (Nguyễn Du) được dịch ra khoảng 20 ngôn ngữ, đến Nhật ký trong tù (Hồ Chí Minh) được dịch ra hơn 30 ngôn ngữ, Dế Mèn phiêu lưu ký (Tô Hoài) được dịch ra hơn 40 ngôn ngữ… Cùng với sự mở cửa, ngày càng có nhiều tác phẩm văn học Việt Nam bước ra thế giới như Đất rừng phương Nam (Đoàn Giỏi), Tướng về hưu (Nguyễn Huy Thiệp), Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ (Nguyễn Nhật Ánh), Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ (Nguyễn Ngọc Thuần), Cánh đồng bất tận (Nguyễn Ngọc Tư),… Cùng với đó, nhiều tác giả Việt Nam đã được vinh danh ở những giải thưởng văn học uy tín của thế giới.

Theo Cục Xuất bản, In và Phát hành (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), mỗi năm, có hàng trăm nhà xuất bản, đơn vị phát hành sách tham gia đàm phán bản quyền, giao lưu văn hóa, cập nhật xu hướng xuất bản và đặc biệt là quảng bá quốc tế. Tuy nhiên con số này vẫn còn khiêm tốn so với tiềm năng. Thực tế cho thấy, phần lớn các dự án dịch thuật thời gian qua vẫn dựa vào nỗ lực cá nhân hoặc các chương trình hợp tác nhỏ lẻ, thiếu một chiến lược quốc gia mang tính dài hơi, bền vững. Việc triển khai từ góc độ của hội nghề nghiệp gặp khó khăn về cơ chế, chính sách, nguồn lực tài chính cũng như đội ngũ dịch thuật.

Ở góc độ của người sáng tác, rất cần một cơ chế hỗ trợ mang tính hệ thống và bền vững. Lâu nay, các trại sáng tác, giải thưởng, chương trình hỗ trợ dù vẫn được tổ chức thường niên nhưng có lúc, có nơi chưa thật sự hiệu quả, bị phân tán, cào bằng, thiếu tính liên thông; vẫn còn tình trạng “phong trào hóa”, thiếu đầu tư chiều sâu, do đó chưa tạo được động lực đủ mạnh để khuyến khích những tìm tòi sáng tạo dài hạn. Bên cạnh đó, thị trường sách trong nước còn nhiều bất cập: sự lấn át của sách ngoại nhập, vấn đề sách lậu, vi phạm bản quyền, nhuận bút thấp… cùng với sự cạnh tranh gay gắt của các loại hình giải trí mới cũng khiến không ít người viết thấy chạnh lòng, thiếu động lực.

Bước tạo đà đầu tiên

Mới đây, Nghị định số 350/2025/NĐ-CP của Chính phủ Quy định về khuyến khích phát triển văn học (Nghị định 350), ban hành ngày 30/12/2025, được giới sáng tác cũng như những người làm công tác quản lý văn hóa vui mừng đón nhận. Bởi lần đầu tiên lĩnh vực văn học có một nghị định riêng, bao quát toàn bộ các hoạt động từ sáng tác, lý luận phê bình, dịch thuật đến tổ chức trại sáng tác, cuộc thi, giải thưởng và quảng bá tác phẩm trong và ngoài nước. Nghị định xác định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc tạo điều kiện, hỗ trợ và khuyến khích phát triển văn học như một bộ phận quan trọng của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Điểm mới đáng chú ý của Nghị định 350 là việc mở rộng không gian tham gia của các nguồn lực xã hội, thể hiện bằng việc khuyến khích doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư, tài trợ cho các hoạt động văn học; đồng thời nhấn mạnh vai trò phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước và các hội nghề nghiệp. Đây là bước đi quan trọng, giúp khắc phục tình trạng trông chờ vào nguồn bao cấp trong đầu tư cho văn học, tạo điều kiện để xã hội hóa nguồn lực nhưng vẫn bảo đảm định hướng giá trị. Quan trọng hơn, Nghị định 350 khẳng định vị thế của văn học trong chiến lược phát triển văn hóa quốc gia. Đây cũng là niềm mong mỏi lâu nay của giới sáng tác, khi văn học thường xuyên được nhắc đến trong việc góp phần xây dựng “nền tảng tinh thần của xã hội” nhưng chính sách đầu tư chưa tương xứng, thậm chí còn bị xem nhẹ.

Tuy nhiên, để Nghị định 350 thật sự phát huy hiệu quả, cần có những giải pháp triển khai đồng bộ và linh hoạt. Trước hết, vai trò điều phối của cơ quan quản lý nhà nước là rất quan trọng, nhằm bảo đảm các chương trình hỗ trợ đúng trọng tâm, trọng điểm, không dàn trải, hình thức. Việc xây dựng các quỹ sáng tác, chương trình đặt hàng tác phẩm theo chủ đề lớn của đất nước, gắn với những vấn đề đương đại, được xem là một hướng đi cần thiết. Khi người viết được tạo điều kiện để “sống được với nghề” sẽ tạo thêm động lực nuôi bền niềm đam mê sáng tạo.

Cùng với đó, vai trò của các hội nghề nghiệp, nhất là Hội Nhà văn Việt Nam và các hội văn học nghệ thuật địa phương, cần được phát huy mạnh mẽ hơn. Các hội là nơi tập hợp, tạo môi trường sinh hoạt, trao đổi về nghề nghiệp, bảo vệ quyền lợi hội viên, đồng thời cũng cần trở thành cầu nối giữa người sáng tác với chính sách, thị trường và công chúng. Việc tổ chức các trại sáng tác theo hướng chuyên sâu, chọn lọc, được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao chất lượng tác phẩm, nhất là đối với đội ngũ tác giả trẻ.

Một trụ cột không thể thiếu trong chiến lược phát triển văn học thời gian tới là dịch thuật và quảng bá quốc tế. Nghị định 350 đã mở ra cơ sở pháp lý để Nhà nước hỗ trợ trực tiếp cho hoạt động này, song việc triển khai cần gắn với tầm nhìn dài hạn. Cụ thể ngành chức năng cùng với hội nghề nghiệp cần xây dựng một chương trình dịch thuật quốc gia, lựa chọn có trọng điểm những tác phẩm tiêu biểu để đầu tư dịch và quảng bá. Bên cạnh đó, việc đào tạo đội ngũ dịch giả chuyên nghiệp, huy động được lực lượng người Việt trẻ đang học tập, sinh sống ở nước ngoài tâm huyết, có khả năng làm việc trực tiếp với các nhà xuất bản quốc tế là yếu tố then chốt để nâng cao chất lượng bản dịch và khả năng tiếp cận thị trường toàn cầu.

Trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ, việc ứng dụng công nghệ cũng được xem là một hướng đi quan trọng để mở rộng không gian tiếp cận của văn học. Các nền tảng xuất bản số, thư viện điện tử, chương trình giao lưu trực tuyến với tác giả, độc giả quốc tế không chỉ giúp quảng bá tác phẩm, mà còn tạo điều kiện để văn học Việt Nam tham gia sâu hơn vào dòng chảy văn hóa toàn cầu. Nếu được đầu tư đúng mức, đây có thể trở thành “đường băng” mới để văn học Việt Nam cất cánh trong kỷ nguyên số ■

Nghị định 350 đã đặt viên gạch đầu tiên cho việc xây dựng một hệ sinh thái văn học có sự đồng hành của Nhà nước, giới cầm bút và xã hội. Khi hành lang pháp lý đã được khơi mở thông thoáng, vấn đề còn lại là sự vào cuộc nghiêm túc, sáng tạo và trách nhiệm của các chủ thể liên quan. Làm tốt được điều đó, văn học Việt Nam không chỉ tiếp tục hoàn thành sứ mệnh phản ánh và dẫn dắt, bồi đắp đời sống tinh thần xã hội, mà còn có thể khẳng định vị thế xứng đáng trên bản đồ văn học thế giới trong những thập niên tới.

Có thể bạn quan tâm

Người dân quét giấy tờ gốc, xác thực bản sao điện tử tại Kiosk thông minh, chi nhánh số 1, Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Tháo bỏ những rào cản vô hình

Mối quan hệ giữa Nhà nước và người dân là một yếu tố mang tính nền tảng đối với hành trình phát triển của mọi quốc gia. Cải cách thủ tục hành chính dựa trên các thành tựu khoa học-công nghệ, vì thế, được xem như minh chứng cho nỗ lực thay đổi từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ, đặt người dân vào vị trí trung tâm của các chính sách.

Hạn hán kỷ lục cấp 4 tại Ninh Thuận (cũ) do chịu ảnh hưởng của đợt El Nino hồi năm 2020. Ảnh: Thành Đạt

Bước chuyển tư duy ứng phó siêu El Nino

El Nino đã hình thành và được dự báo tiếp tục mạnh lên trong nửa cuối năm 2026, tiếp nối sang đầu năm 2027, làm gia tăng nguy cơ nắng nóng kéo dài, thiếu hụt lượng mưa theo mùa, suy giảm nguồn nước, dẫn đến hạn hán và xâm nhập mặn nghiêm trọng. 

Ông Hoàng Đức Cường, Phó Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường).

Chuyển từ “dự báo hiện tượng” sang “cảnh báo tác động”

Chỉ trong vài tháng đầu năm 2026, trạng thái đại dương và khí quyển vùng xích đạo Thái Bình Dương đã đảo chiều đột ngột sang pha El Nino. Với xác suất kéo dài xuyên qua năm 2027 lên tới trên 95%, đợt thiên tai này đang đặt ra những thách thức phi truyền thống đối với an ninh năng lượng, sản xuất nông nghiệp và an ninh nguồn nước quốc gia. Nhân Dân cuối tuần có cuộc trao đổi sâu với ông Hoàng Đức Cường, Phó Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) về bước chuyển tư duy chiến lược: Dùng kịch bản rủi ro và dự báo tác động để bảo vệ các động lực tăng trưởng kinh tế.

Lực lượng chức năng và đoàn thể xã Đất Mới (tỉnh Cà Mau) hỗ trợ giúp dân khắc phục hậu quả sau sạt lở đất.

Thiên tai đi qua, tình người ở lại

Dải đất cực nam Tổ quốc có ba bề sóng vỗ. Bên cạnh sự trù phú của tài nguyên biển và rừng ngập mặn, nơi đây cũng là một trong những vùng đất chịu nhiều tổn thương do biến đổi khí hậu. Vào mùa mưa bão, những thiên tai dị thường liên tiếp ập đến, đe dọa trực tiếp đến cuộc sống của người dân.

Các chiến sĩ thuộc Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Ninh Thuận (cũ), nay là tỉnh Khánh Hòa, mang nước sạch đến cho người dân thôn Tà Nôi. Ảnh: Thành Đạt.

Ưu tiên bảo đảm an ninh nguồn nước

Dưới tác động của El Nino, các chuyên gia khuyến nghị: Các cấp ngành, địa phương cần ưu tiên giải pháp bảo đảm an ninh nguồn nước cho các vùng có nguy cơ thiếu nước.

Những thách thức rất lớn đang chờ đợi các vòng đàm phán khí hậu sắp diễn ra.

Thế giới sau hồi chuông báo động

Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) vừa xác nhận: El Nino đã hình thành và có khả năng gia tăng cường độ trong những tháng tới. Trong bối cảnh nhiều mô hình khí hậu dự báo hiện tượng này có thể phát triển tới mức Siêu El Nino, Liên hợp quốc đã kêu gọi các quốc gia khẩn trương triển khai các biện pháp ứng phó nhằm hạn chế thiệt hại.

Các bạn trẻ tương tác với màn hình ở kios tìm hiểu thông tin về Văn Miếu-Quốc Tử Giám. Ảnh: Đại Dương

Cần một “nhạc trưởng”

Mọi lĩnh vực của đời sống văn hóa đang chuyển động theo chiều hướng tích cực nhờ ứng dụng các công nghệ hiện đại. Trong hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam, việc triển khai Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và có hiệu lực kể từ ngày ký, ngày 2/12/2021, đã cho thấy rất rõ một thực tiễn: Công nghệ đã giúp mở rộng tầm nhìn về di sản.

Đồ án tốt nghiệp thiết kế bao bì và đồ chơi 3D mang tên Thanh Cầm của sinh viên Bùi Khánh Linh, Trường đại học Sư phạm nghệ thuật Trung ương, lấy cảm hứng từ trang phục truyền thống. Nguồn ảnh: NUAE Photography Club

Đồng bộ giữa yêu cầu bảo tồn và số hóa

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số nhà quản lý, nhà nghiên cứu và đại diện đơn vị công nghệ tham gia số hóa di tích, di sản văn hóa về tác động xã hội của thành quả ban đầu trong công tác số hóa di sản văn hóa, cũng như những khả thể trong kiến thiết một nền tảng dữ liệu lớn về di sản văn hóa Việt Nam.

Lâu đài Shuri trước khi bị hỏa hoạn. Nguồn: CC BY-SA 4.0

Phương thức tiếp cận linh hoạt và hiệu quả

Trước những tác động của thời gian, biến đổi khí hậu, thiên tai và quá trình đô thị hóa, việc số hóa di sản đã và đang trở thành một xu hướng được nhiều quốc gia quan tâm như một giải pháp hỗ trợ công tác bảo tồn, nghiên cứu và quảng bá di sản.

Các triển lãm, trưng bày phát huy giá trị của lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II thu hút sự quan tâm của công chúng. Nguồn: NAC2

Những cánh cửa đang ngày càng rộng mở

Hàng loạt triển lãm được thiết kế hiện đại, hình ảnh phong phú, tài liệu văn bản được chuyển ngữ tiếng Việt bên cạnh ngoại ngữ phổ biến là tiếng Anh, được trình hiện cả trong không gian vật lý và trực tuyến. Cùng đó, việc số hóa thúc đẩy công tác truyền thông của các Trung tâm lưu trữ quốc gia đã và đang góp phần quan trọng làm rộng mở hơn bao giờ hết lối về lịch sử cho công chúng hôm nay, nhất là lớp trẻ.

Đội ngũ chuyên gia, kỹ sư của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và đối tác trao đổi về kỹ thuật quét 3D tại Điện Thái Hòa. Ảnh: Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế

Cơ hội lớn cho kinh tế số

Cả nước hiện có 357 bảo vật quốc gia, 153 di tích quốc gia đặc biệt, 6 di sản văn hóa, 2 di sản thiên nhiên, 1 di sản hỗn hợp, 11 di sản tư liệu và 17 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh ở cấp độ thế giới hoặc khu vực. Bên cạnh công tác bảo vệ và phát huy giá trị của các di sản, di tích, hiện vật đặc biệt quý giá này ở định dạng vật lý, việc số hóa một cách bài bản sẽ đem lại rất nhiều lợi ích về văn hóa và kinh tế.

Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ thuộc nhóm nhanh nhất thế giới. Nguồn: HAI

TỪ ÁP LỰC AN SINH ĐẾN NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN

Khi con người khỏe mạnh hơn và tiếp tục cống hiến lâu hơn, chính khái niệm về tuổi già cũng đang được viết lại. Từ những chuyển động của kinh tế, chính sách đến sự thay đổi trong mỗi gia đình, thế giới đang bước vào một kỷ nguyên dân số mới, nơi giá trị của một quốc gia không chỉ được đo bằng quy mô dân số, mà còn bằng khả năng phát huy nguồn vốn con người ở mọi lứa tuổi.

Thế hệ người cao tuổi hôm nay có sức khỏe và khả năng tham gia các hoạt động kinh tế-xã hội tốt hơn trước. Nguồn: HAI

Viết lại mệnh đề dân số

Thành tựu y tế cùng xu hướng giảm sinh đang tạo nên một cuộc biến đổi nhân khẩu học sâu sắc nhất lịch sử: Già hóa dân số toàn cầu. Đã đến lúc không thể nhìn nhận cục diện này như một bài toán an sinh thuần túy, mà cần chuyển hóa thành động lực đổi mới mô hình phát triển, khơi thông nguồn vốn con người và kiến tạo tương lai bền vững.

Những gia đình bốn thế hệ ngày càng nhiều trong xã hội. Ảnh: HẢI NAM

Để một ngày được già đi trong tự chủ

Chúng ta vẫn quen nói đến già hóa dân số bằng những con số: Tỷ lệ người cao tuổi tăng lên, mức sinh giảm xuống, tuổi thọ ngày càng kéo dài. Nhưng sau những biểu đồ và dự báo ấy là một thay đổi âm thầm hơn rất nhiều: Cấu trúc của mỗi gia đình đang được viết lại.

Một người thợ cao niên đang cần mẫn làm việc, hình ảnh dễ thấy tại Nhật Bản. Ảnh: NYT

Cách thế giới khai thác nền kinh tế bạc

Nhật Bản kéo dài tuổi lao động đến 70 và khuyến khích các doanh nghiệp tuyển dụng người già, còn Trung Quốc muốn thu hút hàng chục nghìn tỷ nhân dân tệ (NDT) từ túi tiền của thế hệ cao niên. Hai chiến lược khác nhau cho cùng một bài toán kinh tế bạc: Làm sao để duy trì tăng trưởng, khi dân số ngày càng già đi?

Ông Trần Viết Lưu

Tuổi thọ tăng, cơ hội cũng phải tăng!

Việt Nam hiện có hơn 17 triệu người cao tuổi. Khi tuổi thọ trung bình tăng nhanh, nhóm dân số này cần được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển kinh tế-xã hội thay vì gánh nặng an sinh. Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Viết Lưu - Phó Chánh Văn phòng Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam khẳng định: Thay đổi nhận thức của xã hội chính là bước đi tiên quyết cho quá trình chuyển đổi này.

Chăm sóc người cao tuổi đòi hỏi nhiều kỹ năng chuyên nghiệp. Nguồn: Dự án GRACE

Nghề chưa được gọi đúng tên

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), cùng với đà tăng của tuổi thọ, nhu cầu chăm sóc dài hạn sẽ trở thành một trong những thách thức lớn nhất của các quốc gia, đòi hỏi phải phát triển đội ngũ chăm sóc chuyên nghiệp, có kỹ năng và lấy người cao tuổi làm trung tâm.

Chất thải xây dựng phát sinh lớn trong quá trình phá dỡ công trình ở Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Không để “tài nguyên” thành phế thải đô thị

Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển hạ tầng được thúc đẩy mạnh mẽ, khối lượng chất thải xây dựng và phá dỡ công trình đang gia tăng áp lực lên các đô thị lớn. Nếu không sớm thay đổi tư duy quản lý và chuyển hướng sang tái sử dụng, nguồn tài nguyên thứ cấp khổng lồ này sẽ bị lãng phí nghiêm trọng, biến thành gánh nặng cho hệ thống xử lý và gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường.

TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam.

Mấu chốt là hoàn thiện thể chế và chuyển đổi tư duy quản lý

Đây là hai điểm quan trọng được TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam (ảnh nhỏ) phân tích kỹ càng trong cuộc trả lời phỏng vấn của Nhân Dân cuối tuần, về các giải pháp biến chất thải xây dựng thành tài nguyên, góp phần bảo vệ môi trường.

Dự án Vành đai 2,5 đoạn qua phường Yên Hòa, nhiều hạng mục đang thi công phát sinh bụi dày đặc.

Giải quyết căn cơ bài toán vì môi trường Hà Nội

Thành phố Hà Nội đang đồng loạt triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn, từ các tuyến đường vành đai, cầu vượt sông Hồng đến những khu đô thị mới. Đi cùng tốc độ giải phóng mặt bằng và tháo dỡ công trình là lượng chất thải xây dựng tăng đột biến. Theo ước tính, từ đầu năm 2026 đến nay, khối lượng chất thải phát sinh đã đạt khoảng 1,5 triệu tấn.

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn cho biết: “Những doanh nghiệp tiên phong như Toàn Cầu không thể khai thác hết công suất do thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào”. Ảnh: Thành Đạt

Gỡ khó để doanh nghiệp dám đầu tư

Nguồn chất thải xây dựng phục vụ tái chế chưa ổn định và chưa được quản lý theo chuỗi chính là những rào cản lớn khiến cho doanh nghiệp tái chế chất thải xây dựng gặp nhiều khó khăn.

Một sản phẩm gạch tái chế từ chất thải xây dựng của Hà Lan. Ảnh: Chuyên gia cung cấp

Kích hoạt kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng

Theo nhiều thống kê quốc tế, chất thải xây dựng hiện chiếm từ 25-40% tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở nhiều quốc gia. Ngày nay, tại nhiều nước phát triển, chất thải xây dựng đã được nhìn nhận như một tài nguyên thứ cấp có giá trị, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính.

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Trước đòi hỏi đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao cùng những áp lực ngày một gia tăng bởi biến đổi khí hậu và những biến động địa chính trị trên toàn cầu, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh xử lý các dự án chậm tiến độ mà quan trọng hơn, cần đến cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học cho ngành quan trọng này. Tốc độ hoàn thiện thể chế chính là yếu tố quyết định liệu chúng ta có về đích - bổ sung 90.000 MW còn thiếu cho hệ thống trong chưa đầy 5 năm tới hay không?

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).