“Đường băng” mới đã mở

Với nỗ lực của các thế hệ người cầm bút, nền văn học Việt Nam hiện đại đã tạo nên nhiều thành tựu, ghi dấu ấn riêng trong hành trình phát triển của đất nước, dân tộc.

Tân hội viên Hội Nhà văn kỳ vọng những chính sách mới trong phát triển văn học. (Ảnh HẢI MIÊN)
Tân hội viên Hội Nhà văn kỳ vọng những chính sách mới trong phát triển văn học. (Ảnh HẢI MIÊN)

Dẫu vậy, thực tế đời sống những năm gần đây cho thấy, văn học đang rất cần luồng sinh khí mới để bứt phá, tạo được dấu ấn riêng xứng đáng trong đời sống xã hội, đồng thời góp phần quảng bá và khẳng định vị thế quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Phát triển chưa tương xứng

Trong suốt 81 năm qua, kể từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) ngày 2/9/1945, nền văn học Việt Nam hiện đại hình thành và phát triển đồng hành với vận mệnh dân tộc. Trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, văn học trở thành tiếng nói tinh thần mạnh mẽ, hun đúc ý chí đấu tranh, khắc họa sâu sắc hình ảnh con người Việt Nam kiên cường, anh dũng vượt qua thử thách cam go của lịch sử. Tác phẩm của các nhà văn, nhà thơ như Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Tuân, Nam Cao, Nguyễn Huy Tưởng, Chế Lan Viên, Nguyễn Khoa Điềm, Lê Anh Xuân, Hữu Thỉnh, Phạm Tiến Duật, Chính Hữu… mang giá trị nghệ thuật sâu sắc, có sức lan tỏa mạnh mẽ, cổ vũ các tầng lớp nhân dân, tạo động lực tinh thần, góp phần vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc.

Sau năm 1975, nhất là từ công cuộc Đổi mới năm 1986, văn học Việt Nam bước vào giai đoạn vận động mạnh mẽ hơn, thể hiện ở sự đa dạng, phong phú về đề tài, cảm hứng cũng như phương thức biểu đạt. Không chỉ tập trung phản ánh hiện thực chiến tranh và các vấn đề hậu chiến, văn học dần mở rộng biên độ khám phá đời sống cá nhân, những vấn đề thế sự, đạo đức, thân phận con người trong xã hội không ngừng vận động và biến chuyển mạnh mẽ, với những góc tiếp cận mới mẻ, với phong cách sáng tạo đa dạng. Nhiều tên tuổi đã được khẳng định ở giai đoạn trước tiếp tục có những sáng tạo đột phá về nội dung tư tưởng và bút pháp thể hiện, như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Lê Lựu... Cùng với đó, nhiều tác giả mới xuất hiện, ghi dấu ấn như Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Triều Hải, Phan Thị Vàng Anh,… Đáng chú ý, các nhà văn Việt Nam thể hiện tâm thế sẵn sàng tiếp nhận những tinh hoa thế giới, không ngừng nâng cao tính chuyên nghiệp, ý thức sâu sắc về bản sắc dân tộc, tôn vinh những giá trị nhân văn. Những sự thay đổi tích cực này giúp văn học tiệm cận hơn với các khuynh hướng chung của văn học thế giới và từng bước khẳng định được tiếng nói trên diễn đàn quốc tế.

Một trong những nỗ lực nổi bật của văn học Việt Nam trong những thập niên gần đây là việc dịch và quảng bá các tác phẩm văn học tiêu biểu, giới thiệu với bạn bè quốc tế. Từ những tác phẩm kinh điển như Truyện Kiều (Nguyễn Du) được dịch ra khoảng 20 ngôn ngữ, đến Nhật ký trong tù (Hồ Chí Minh) được dịch ra hơn 30 ngôn ngữ, Dế Mèn phiêu lưu ký (Tô Hoài) được dịch ra hơn 40 ngôn ngữ… Cùng với sự mở cửa, ngày càng có nhiều tác phẩm văn học Việt Nam bước ra thế giới như Đất rừng phương Nam (Đoàn Giỏi), Tướng về hưu (Nguyễn Huy Thiệp), Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ (Nguyễn Nhật Ánh), Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ (Nguyễn Ngọc Thuần), Cánh đồng bất tận (Nguyễn Ngọc Tư),… Cùng với đó, nhiều tác giả Việt Nam đã được vinh danh ở những giải thưởng văn học uy tín của thế giới.

Theo Cục Xuất bản, In và Phát hành (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), mỗi năm, có hàng trăm nhà xuất bản, đơn vị phát hành sách tham gia đàm phán bản quyền, giao lưu văn hóa, cập nhật xu hướng xuất bản và đặc biệt là quảng bá quốc tế. Tuy nhiên con số này vẫn còn khiêm tốn so với tiềm năng. Thực tế cho thấy, phần lớn các dự án dịch thuật thời gian qua vẫn dựa vào nỗ lực cá nhân hoặc các chương trình hợp tác nhỏ lẻ, thiếu một chiến lược quốc gia mang tính dài hơi, bền vững. Việc triển khai từ góc độ của hội nghề nghiệp gặp khó khăn về cơ chế, chính sách, nguồn lực tài chính cũng như đội ngũ dịch thuật.

Ở góc độ của người sáng tác, rất cần một cơ chế hỗ trợ mang tính hệ thống và bền vững. Lâu nay, các trại sáng tác, giải thưởng, chương trình hỗ trợ dù vẫn được tổ chức thường niên nhưng có lúc, có nơi chưa thật sự hiệu quả, bị phân tán, cào bằng, thiếu tính liên thông; vẫn còn tình trạng “phong trào hóa”, thiếu đầu tư chiều sâu, do đó chưa tạo được động lực đủ mạnh để khuyến khích những tìm tòi sáng tạo dài hạn. Bên cạnh đó, thị trường sách trong nước còn nhiều bất cập: sự lấn át của sách ngoại nhập, vấn đề sách lậu, vi phạm bản quyền, nhuận bút thấp… cùng với sự cạnh tranh gay gắt của các loại hình giải trí mới cũng khiến không ít người viết thấy chạnh lòng, thiếu động lực.

Bước tạo đà đầu tiên

Mới đây, Nghị định số 350/2025/NĐ-CP của Chính phủ Quy định về khuyến khích phát triển văn học (Nghị định 350), ban hành ngày 30/12/2025, được giới sáng tác cũng như những người làm công tác quản lý văn hóa vui mừng đón nhận. Bởi lần đầu tiên lĩnh vực văn học có một nghị định riêng, bao quát toàn bộ các hoạt động từ sáng tác, lý luận phê bình, dịch thuật đến tổ chức trại sáng tác, cuộc thi, giải thưởng và quảng bá tác phẩm trong và ngoài nước. Nghị định xác định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc tạo điều kiện, hỗ trợ và khuyến khích phát triển văn học như một bộ phận quan trọng của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Điểm mới đáng chú ý của Nghị định 350 là việc mở rộng không gian tham gia của các nguồn lực xã hội, thể hiện bằng việc khuyến khích doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư, tài trợ cho các hoạt động văn học; đồng thời nhấn mạnh vai trò phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước và các hội nghề nghiệp. Đây là bước đi quan trọng, giúp khắc phục tình trạng trông chờ vào nguồn bao cấp trong đầu tư cho văn học, tạo điều kiện để xã hội hóa nguồn lực nhưng vẫn bảo đảm định hướng giá trị. Quan trọng hơn, Nghị định 350 khẳng định vị thế của văn học trong chiến lược phát triển văn hóa quốc gia. Đây cũng là niềm mong mỏi lâu nay của giới sáng tác, khi văn học thường xuyên được nhắc đến trong việc góp phần xây dựng “nền tảng tinh thần của xã hội” nhưng chính sách đầu tư chưa tương xứng, thậm chí còn bị xem nhẹ.

Tuy nhiên, để Nghị định 350 thật sự phát huy hiệu quả, cần có những giải pháp triển khai đồng bộ và linh hoạt. Trước hết, vai trò điều phối của cơ quan quản lý nhà nước là rất quan trọng, nhằm bảo đảm các chương trình hỗ trợ đúng trọng tâm, trọng điểm, không dàn trải, hình thức. Việc xây dựng các quỹ sáng tác, chương trình đặt hàng tác phẩm theo chủ đề lớn của đất nước, gắn với những vấn đề đương đại, được xem là một hướng đi cần thiết. Khi người viết được tạo điều kiện để “sống được với nghề” sẽ tạo thêm động lực nuôi bền niềm đam mê sáng tạo.

Cùng với đó, vai trò của các hội nghề nghiệp, nhất là Hội Nhà văn Việt Nam và các hội văn học nghệ thuật địa phương, cần được phát huy mạnh mẽ hơn. Các hội là nơi tập hợp, tạo môi trường sinh hoạt, trao đổi về nghề nghiệp, bảo vệ quyền lợi hội viên, đồng thời cũng cần trở thành cầu nối giữa người sáng tác với chính sách, thị trường và công chúng. Việc tổ chức các trại sáng tác theo hướng chuyên sâu, chọn lọc, được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao chất lượng tác phẩm, nhất là đối với đội ngũ tác giả trẻ.

Một trụ cột không thể thiếu trong chiến lược phát triển văn học thời gian tới là dịch thuật và quảng bá quốc tế. Nghị định 350 đã mở ra cơ sở pháp lý để Nhà nước hỗ trợ trực tiếp cho hoạt động này, song việc triển khai cần gắn với tầm nhìn dài hạn. Cụ thể ngành chức năng cùng với hội nghề nghiệp cần xây dựng một chương trình dịch thuật quốc gia, lựa chọn có trọng điểm những tác phẩm tiêu biểu để đầu tư dịch và quảng bá. Bên cạnh đó, việc đào tạo đội ngũ dịch giả chuyên nghiệp, huy động được lực lượng người Việt trẻ đang học tập, sinh sống ở nước ngoài tâm huyết, có khả năng làm việc trực tiếp với các nhà xuất bản quốc tế là yếu tố then chốt để nâng cao chất lượng bản dịch và khả năng tiếp cận thị trường toàn cầu.

Trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ, việc ứng dụng công nghệ cũng được xem là một hướng đi quan trọng để mở rộng không gian tiếp cận của văn học. Các nền tảng xuất bản số, thư viện điện tử, chương trình giao lưu trực tuyến với tác giả, độc giả quốc tế không chỉ giúp quảng bá tác phẩm, mà còn tạo điều kiện để văn học Việt Nam tham gia sâu hơn vào dòng chảy văn hóa toàn cầu. Nếu được đầu tư đúng mức, đây có thể trở thành “đường băng” mới để văn học Việt Nam cất cánh trong kỷ nguyên số ■

Nghị định 350 đã đặt viên gạch đầu tiên cho việc xây dựng một hệ sinh thái văn học có sự đồng hành của Nhà nước, giới cầm bút và xã hội. Khi hành lang pháp lý đã được khơi mở thông thoáng, vấn đề còn lại là sự vào cuộc nghiêm túc, sáng tạo và trách nhiệm của các chủ thể liên quan. Làm tốt được điều đó, văn học Việt Nam không chỉ tiếp tục hoàn thành sứ mệnh phản ánh và dẫn dắt, bồi đắp đời sống tinh thần xã hội, mà còn có thể khẳng định vị thế xứng đáng trên bản đồ văn học thế giới trong những thập niên tới.

Có thể bạn quan tâm

Cán bộ kỹ thuật lấy mẫu cho quá trình nghiên cứu chiết tách. (Nguồn: Viện Công nghệ xạ hiếm)

Nền tảng của công nghiệp xanh

Trong bối cảnh toàn cầu hóa cũng như cam kết lịch sử đưa mức phát thải ròng về “0”, đất hiếm nổi lên như một nhóm vật liệu chiến lược mang tính quyết định, không thể thay thế.

Ông Trần Bình Trọng, Cục trưởng Địa chất và Khoáng sản Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Chế biến sâu và nâng tầm công nghệ

Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Bình Trọng, Cục trưởng Địa chất và Khoáng sản Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Môi trường, chia sẻ: Trong quá trình cấp phép đầu tư, khai thác đất hiếm phải bảo đảm không chỉ dừng ở khai thác thô mà luôn gắn với chế biến sâu và chuyển giao, nâng tầm công nghệ.

Mô hình dự án đường sắt tốc độ cao Hà Nội- Quảng Ninh, với tổng mức đầu tư hơn 5,6 tỷ USD vừa chính thức khởi công tại Quảng Ninh. Ảnh có sử dụng đồ họa AI

ĐỘT PHÁ VỀ KẾT NỐI HẠ TẦNG CHIẾN LƯỢC

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, nhiều nghệ sĩ trẻ cùng ekip đã chủ động có các đàm phán đa tầng trong chuyển quyền sử dụng có điều kiện, nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi của mình. Ảnh minh họa: KHIẾU MINH

Lấp đầy những khoảng trống ý thức

Bên cạnh Luật Sở hữu trí tuệ, được ban hành lần đầu vào cuối năm 2005, có hiệu lực từ ngày 1/7/2006 và đến nay, đã qua nhiều lần sửa đổi để phù hợp với diễn tiến của xã hội, Việt Nam hiện có một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật khá đầy đủ liên quan việc bảo vệ quyền tác giả và các quyền liên quan quyền tác giả.

Khoảng cách công nghệ giữa đường sắt hiện hữu và đường sắt tốc độ cao là rất lớn, vì vậy Việt Nam cần chuẩn bị tốt việc đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu tiến tới làm chủ công nghệ. Nguồn VNR

Định hình mạng lưới vận tải quốc gia

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức và tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Lớp học nâng cao trình độ về đường sắt tốc độ cao ngành Thi công và Bảo dưỡng công trình.

Mở rộng hợp tác trong đào tạo nguồn nhân lực mới

Một nhiệm vụ mang tính chiến lược, đóng vai trò then chốt trong xây dựng và vận hành đường sắt tốc độ cao, là phải đi trước một bước để đào tạo nguồn nhân lực có đủ năng lực, trình độ tiếp nhận, vận hành, khai thác, bảo trì và từng bước làm chủ các công nghệ tiên tiến, hiện đại đang được áp dụng với đường sắt tốc độ cao.

Ông Nguyễn Quốc Vượng, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR).

Bài toán về tầm nhìn và khả năng làm chủ công nghệ

Được xác định là lĩnh vực ưu tiên chiến lược, hợp tác phát triển đường sắt, nhất là đường sắt tốc độ cao, của Việt Nam không chỉ là câu chuyện của một công trình hạ tầng, mà là bài toán lớn đặt ra yêu cầu làm chủ công nghệ, đào tạo nhân lực và năng lực nội sinh.

Hành khách xếp hàng lên chuyến tàu G8389 tại nhà ga ở thành phố Nam Kinh (Trung Quốc). (Ảnh Tân Hoa xã)

Kinh nghiệm của Trung Quốc - Quốc gia “đi sau, về trước”

Không chỉ hiện thực hóa được mục tiêu “đi sau, về trước”, nhờ có sự đầu tư bài bản, mà hiện Trung Quốc còn đang “dẫn đầu thế giới” trong phát triển hệ thống đường sắt tốc độ cao. Đây là thành công góp phần quan trọng vào những kỳ tích tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội ở quốc gia này.

Khi Luật Sở hữu trí tuệ và quyền hình ảnh của người sáng tạo được thực thi đầy đủ, các tác giả làm việc trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật mới ở Việt Nam sẽ tích cực chủ động tham gia đăng ký bản quyền tác giả hơn nữa. (Trong ảnh: Vở múa đương đại Nón của biên đạo Vũ Ngọc Khải. Ảnh Đại Ngô)

Chuyển dịch tư duy về sở hữu trí tuệ

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam (Nghị quyết 80) đặt mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp 7% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vào năm 2030 và trở thành trụ cột kinh tế với 9% GDP vào năm 2045.

Bà Phạm Thị Kim Oanh.

Đồng hành để hỗ trợ giới sáng tạo một cách tốt nhất

Nhân Dân cuối tuần có cuộc trao đổi với bà Phạm Thị Kim Oanh, Phó Cục trưởng Bản quyền tác giả, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, về những nỗ lực của cơ quan quản lý nhà nước trong việc đồng hành, khuyến khích các tổ chức, cá nhân chủ động nâng cao hơn nữa ý thức về bảo vệ quyền tác giả và các quyền liên quan quyền tác giả.

Đồi chè Mộc Châu. (Ảnh Huỳnh Văn Truyền)

Chủ động mở những lối đi

Nhiếp ảnh là một trong những lĩnh vực sáng tác mà việc vi phạm bản quyền xảy ra khá thường xuyên, ở nhiều phương thức, cấp độ khác nhau.

Ngành công nghệ cần đặt an toàn của trẻ em vào khâu thiết kế sản phẩm, thay vì coi đó là phần việc xử lý sau cùng. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Đồng hành để bảo vệ

Internet từ lâu đã trở thành một phần tất yếu của cuộc sống, kể cả với trẻ em. Tuy nhiên, mức độ hiện diện cao ấy không đồng nghĩa với việc thế hệ trẻ có đủ năng lực để tự bảo vệ mình.

Trung ương Đoàn luôn chủ động tạo ra các không gian cởi mở để kịp thời lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của trẻ em.

Lắng nghe đúng, hành động trúng

Trong thời đại kỷ nguyên số, không gian mạng không còn là một công cụ hỗ trợ, mà đã trở thành một môi trường sống song hành với đời sống của trẻ em.

Chiến dịch Không một mình, nằm trong chuỗi các hành động nhằm thực hiện Công ước Hà Nội, hướng tới đồng hành với giới trẻ trong phòng, chống bắt cóc online. Ảnh: Hiệp hội An ninh mạng

Nhật ký một ngày online

LTS - Không phải những con số thống kê khô khan, cũng không phải góc nhìn của người lớn, ký sự này được thực hiện bởi chính những “người trong cuộc” - nhóm phóng viên nhí của Tòa soạn Tiếng Xanh (hoạt động dưới sự hướng dẫn của UNICEF Việt Nam).

Thay vì ngăn chặn, Việt Nam đang hướng đến những giải pháp thân thiện, cùng đồng hành với trẻ trên không gian mạng. Trong ảnh: Trích từ cẩm nang “Tự tin chinh phục Vương quốc Social” của Toà soạn Tiếng Xanh.

Từ chính sách đến từng gia đình

Không gian mạng hôm nay đã là một phần của tuổi thơ Việt Nam. Vì thế, bài toán không còn là “có nên cho trẻ dùng mạng xã hội hay không”, mà là làm sao để trẻ em Việt Nam được lớn lên trong một môi trường số an toàn hơn, lành mạnh hơn và công bằng hơn.

Lần đầu tiên trong lịch sử quy hoạch đô thị Việt Nam, Thủ đô Hà Nội được Trung ương giao quyền lập đồ án Quy hoạch, phù hợp việc tổ chức lại địa giới hành chính, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp. Ảnh Thành Đạt

Thách thức trong bước chuyển tư duy

Lời tòa soạn - Theo Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm, thành phố sẽ phát triển với cấu trúc đô thị “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”, điểm nhấn xuyên suốt là văn hiến, văn minh, hiện đại, hạnh phúc, trong đó yếu tố “hạnh phúc” được đặt ở vị trí trung tâm.

Hà Nội định hình cấu trúc đô thị theo không gian phát triển mở “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”. (Ảnh KHIẾU MINH)

Không để quy hoạch chỉ dừng ở bản vẽ

Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm (Quy hoạch) đã được Hội đồng nhân dân thành phố thông qua. Quy hoạch cho thấy tầm chiến lược, có các phân kỳ, giai đoạn thực hiện, nhưng cũng cần giải quyết những khó khăn, thách thức để đi vào đời sống.

Ông Trịnh Quang Dũng, Trưởng phòng Quản lý hoạt động quy hoạch, kiến trúc đô thị, Sở Quy hoạch-Kiến trúc Hà Nội.

Đúc rút bài học thực tiễn, kiến tạo phát triển bền vững

Ông Trịnh Quang Dũng, Trưởng phòng Quản lý hoạt động quy hoạch, kiến trúc đô thị, Sở Quy hoạch-Kiến trúc Hà Nội chia sẻ: Để kiến tạo một Thủ đô phát triển bền vững xuyên thế kỷ, cơ quan chuyên môn không né tránh mà đi sâu nghiên cứu, bắt đúng bệnh...

Nhiều cuộc tọa đàm được tổ chức, nhằm đóng góp ý kiến cho chuyển đổi số quy hoạch đô thị tại Hà Nội. (Ảnh DIÊN KHÁNH)

“Bộ não số” cho đô thị thông minh

Thủ đô Hà Nội đang từng bước chuyển đổi, đầu tư hạ tầng công nghệ, tích cực chuyển đổi tư duy quản trị đô thị và quản lý quy hoạch, nâng cao chất lượng sống của người dân.

Các di tích, cảnh quan thiên nhiên, ao hồ cần có “đời sống của mình” trong không gian đô thị mới. (Ảnh VĂN HỌC)

Tích hợp yếu tố sinh thái vào từng lựa chọn

Ô nhiễm môi trường không chỉ là thách thức trước mắt, mà còn là lực cản lớn đối với mục tiêu phát triển bền vững của Thủ đô. Vì vậy, quy hoạch tổng thể phải bảo đảm yêu cầu rất cao về phát triển xanh cũng như tạo dựng hệ sinh thái phong phú cho đô thị.

Lãnh đạo phường Hồng Hà giải đáp thắc mắc của người dân bị thu hồi đất tại hiện trường.

Thước đo của một Thủ đô vì con người

Hà Nội đang bước vào giai đoạn tái cấu trúc đô thị mạnh mẽ. Song, phía sau những công trình mang tầm vóc quy hoạch là đổi thay trong đời sống của người dân, đặt ra yêu cầu phải giải quyết hài hòa bài toán phát triển và an cư.

Các yếu tố mang tính quyết định cho chuyển đổi xanh, như khoa học công nghệ, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo… cần được đầu tư tương xứng. (Ảnh Thành Đạt)

Thế chân kiềng trong kỷ nguyên xanh

Lời toà soạn - Để đưa nông nghiệp Việt Nam bước vào kỷ nguyên xanh, điều cốt lõi là phải tái định hình vai trò của Nhà nước, doanh nghiệp và người nông dân trong một hệ sinh thái phát triển mới.