Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Định giá và quyền sử dụng đất trong thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Những yêu cầu về định giá phù hợp với thị trường, hài hòa mục tiêu phát triển các công trình hạ tầng xã hội với các mục tiêu phát triển tư nhân, hài hòa trong đền bù giải tỏa... đang là các câu hỏi cụ thể cho việc xây dựng bản dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), hy vọng được Quốc hội thông qua trong năm 2023.
Với tính chất dễ biến động, thị trường bất động sản cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Ảnh: TRUNG HIẾU
Với tính chất dễ biến động, thị trường bất động sản cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Ảnh: TRUNG HIẾU

Thị trường bất động sản tại thời điểm hiện nay so với năm 1993, đã có sự thay đổi về cả chất lượng và số lượng. Trước kia, khi nói đến thị trường bất động sản, quan niệm thông thường, phổ biến chỉ đề cập đến đất ở đô thị. Còn tại thời điểm hiện nay, thị trường không chỉ là đất ở đô thị, mà còn trải rộng từ thị trường đất rừng, đất nông nghiệp cho đến thị trường đất công nghiệp... với đủ loại sản phẩm từ nhà ở cao tầng, thấp tầng, condotel, shoptel, villatel, v.v.

Vậy những thay đổi về lực lượng sản xuất này đã được phản ánh thế nào trong quan hệ sản xuất của lĩnh vực đất đai? Hãy cùng phân tích theo các câu hỏi đang được nêu ra đóng góp cho bản dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), phiên bản trình Hội nghị Đại biểu Quốc hội chuyên trách, nhiệm kỳ khóa XV vào ngày 30/8 vừa qua.

Ðịnh giá trong thị trường nào và cho mục đích sử dụng nào?

Từ trước đến nay, chúng ta giả định rằng, một lô đất có một giá quyền sử dụng đất nào đó. Mục tiêu soạn thảo cũng như tranh luận lâu nay làm sao tìm được giá đó chính xác?

Mỗi thị trường có nguyên tắc định giá khác nhau, đương nhiên số liệu đầu vào tính toán khác nhau. Mục tiêu sử dụng số liệu, giá đất khác nhau thì giá cũng phải được định giá khác nhau và với độ chính xác yêu cầu khác nhau.

Thí dụ, định giá đất sản xuất nông nghiệp, chủ yếu tập trung vào đánh giá mức độ tạo lợi nhuận khi canh tác, khác với định giá đất ở khi đầu tư thương mại. Định giá để phục vụ thu hồi đất, chắc chắn phải tính đến các chi phí bảo vệ đất, quyền lợi của người sử dụng đất hiện tại, khác với định giá tài sản phát triển ở thì tương lai.

Trong định giá đất ở, sự khác biệt cũng rất rõ ràng theo từng mục đích sử dụng. Nếu định giá với mục tiêu để thế chấp vay vốn, thông lệ sẽ được vay hạn mức khoảng 70% giá trị thửa đất, thì độ chính xác của việc định giá này khác hoàn toàn với định giá để dùng làm giao dịch.

Khi mà Luật chưa làm rõ vấn đề trên, thì rất khó để người dân phân định và chấp nhận rằng, một thửa đất có thể có rất nhiều giá khác nhau tùy vào thị trường nào, mục tiêu sử dụng là gì? Thí dụ giá áp dụng thu hồi đất nông nghiệp chỉ 1,5 triệu/m2 nhưng sau đó cũng chính mảnh đất đó được chuyển đổi mục đích sử dụng thành đất ở đô thị và bán ra thị trường là 20-30 triệu/m2 thậm chí cao hơn nữa. Chính sự chênh lệch quá cao dẫn đến nhiều hệ lụy xã hội, là nguyên nhân chính dẫn đến khiếu kiện.

Đương nhiên khó khăn trong thu hồi đất còn có nhiều nguyên nhân khác liên quan như: Làm sao điều tiết được chênh lệch địa tô cho các bên liên quan; phân bổ lợi nhuận quá lớn của nhà phát triển... Những vấn đề này chỉ giải quyết được ở phạm vi bộ luật khác chứ không thể trong phạm vi của nội dung 1-2 điều về định giá quyền sử dụng đất như dự thảo.

Điều 158, khoản 2 mục a, về nguyên tắc định giá sẽ phải điều chỉnh không chỉ định giá mục đích sử dụng đất, theo thời hạn sử dụng đưa ra định giá mà còn cả mục tiêu sử dụng kết quả định giá.

Ðịnh giá sát thị trường?

Trước hết phải làm rõ thị trường là nơi có cung, có cầu, tạo thành mua bán, và các bên mua bán tự do thực hiện giao dịch. Đương nhiên không đề cập đến mức yêu cầu có thị trường tự do hoàn hảo nhưng, trước hết phải có thị trường.

Thị trường là môi trường biến động, thay đổi không ngừng. Do vậy nếu tìm cách để định giá ra một con số sát thị trường là điều không tưởng. Con số ngày hôm nay nhưng ngày mai đã khác. Lấy số liệu giao dịch, giả sử trước đây ba tháng có giao dịch, thì số liệu này cũng chỉ tham khảo vì thị trường đã thay đổi. Cho nên, khi quy định thông tin đầu vào để xác định giá đất trong vòng 24 tháng, điểm c, khoản 3, Điều 158 là không hợp lý.

Với yêu cầu định giá ở những nơi đã có thị trường thì quy định những phương pháp tính như dự thảo luật là phù hợp. Tuy nhiên, với những nơi chưa có thị trường, thì cần có quy định như, ít hơn ba giao dịch được ghi nhận trong một tháng... thì sử dụng các giá do tính toán trên cơ sở bảng giá Nhà nước xây dựng là hợp lý. Còn khi có nhiều hơn ba giao dịch/tháng..., mới cần áp dụng các phương pháp định giá thị trường.

Nơi nào có thị trường?

Thị trường bất động sản Việt Nam phát triển về quy mô, nhưng trên hơn 10.600 xã/phường thì có những khu vực nào được gọi là đã có thị trường? Chưa có số liệu thống kê chính xác, nhưng chắc chắn chỉ một số thành phố lớn, huyện lỵ sôi động có thể có đủ số liệu giao dịch làm mẫu so sánh định giá.

Ban soạn thảo cũng đã biết rõ vấn đề này nên mới đưa ra nhiều phương pháp định giá, phù hợp với từng điều kiện dữ liệu cho phép. Nghĩa là ban soạn thảo thừa nhận có nơi có, có nơi chưa có thị trường.

Ngay cả khi đề cập có đủ điều kiện ba mẫu so sánh như khoản 3, Điều 158 của bản dự thảo, thì về lý cũng chẳng nói lên rằng khu vực này đã có thị trường hay chưa có thị trường. Trong thực tế, có cả 4-5 thửa đất so sánh nhưng chỉ cần khác về diện tích, đã đủ gây khó khăn cho cán bộ định giá.

Đối với thị trường, không có khái niệm chính xác tuyệt đối, mà chỉ có sự thuận mua vừa bán, giá phù hợp với kỳ vọng bên mua, bên bán.

Tư liệu sản xuất hay là hàng hóa?Thu hồi đất phục vụ các dự án quy hoạch phát triển là thí dụ điển hình cho "mâu thuẫn là tiền đề cho phát triển".

Về lý thuyết, thị trường sẽ điều chỉnh bẻ lái nguồn lực vào khu vực nào để xã hội có lợi nhất. Tuy nhiên, sẽ cần rất nhiều thời gian lẫn nhiều tổn thất cho xã hội khi để "bàn tay vô hình" thị trường tự điều chỉnh một cách tự do. Quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng chi tiết là những bản quy hoạch mà Nhà nước can thiệp, định hướng để phát triển thị trường bất động sản.

Bỏ qua vấn đề về chất lượng quy hoạch, mục tiêu phục vụ số đông hay số ít, đáp ứng các mục tiêu xã hội ra sao..., điều kiện tiên quyết định giá đền bù là phải hợp lý, hài hòa được quyền lợi các bên thì mới phát triển được dự án.

Phân loại có quyền sử dụng đất là tư liệu sản xuất hoặc là hàng hóa không phải giải pháp triệt để. Lúc đó mâu thuẫn lại chuyển qua vấn đề khi nào thì được coi là hàng hóa và khi nào được coi là tư liệu sản xuất? Đối với thị trường thì cái gì đưa vào "chợ" đều coi là hàng hóa, còn cấm đưa vào "chợ" thì trở lại thời kỳ "ngăn sông cấm chợ" không ai mong muốn.

Thửa đất nào là tiêu chuẩn?

Khoản 2, Điều 159 đề cập "Đối với khu vực có bản đồ địa chính số và cơ sở dữ liệu giá đất thì phải xây dựng bảng giá đất đến từng thửa đất trên cơ sở vùng giá trị, thửa đất chuẩn".

Trong bản dự thảo, có đề cập đến một giải pháp kỹ thuật là xây dựng bản đồ giá đất trên cơ sở bản đồ địa chính và thửa đất tiêu chuẩn. Việc quy định như thế, gắn chặt với bản đồ địa chính số, thứ mà không phải chỗ nào cũng có, hoặc có thì cũng không chắc chắn được cập nhật là không nên. Trong lịch sử bản đồ giá đất đã được Napoleon xây dựng từ thời kỳ chiến tranh châu Âu, khi mà cần phải thu thuế đất phục vụ chiến tranh.

Do đó, dự thảo luật không nên quy định cụ thể gắn chặt với các giải pháp kỹ thuật xử lý, liên quan thế nào là bản đồ số, thế nào là thửa đất tiêu chuẩn. Điểm cần đưa vào luật là quy định về việc thu thập, lưu trữ và quản lý các dữ liệu liên quan đến thửa đất, liên quan đến phục vụ định giá. Đây chính là hướng đi đúng cho mọi quốc gia, khi lưu trữ dữ liệu trước, xử lý sau. Công nghệ xử lý dữ liệu lớn còn được biết đến với tên gọi Big data, là nền tảng cho các thuật toán công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI).

Quyền sử dụng đất

Trong khi lực lượng sản xuất thay đổi về chất, phát triển không ngừng, quyền sử dụng đất không có quá nhiều thay đổi từ phiên bản đầu tiên. Ngoại trừ thêm "Được Nhà nước bảo hộ khi người khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình" ở khoản 5, Điều 26, bản dự thảo. Dù vậy, trong dự thảo chưa đề cập đến sẽ được bảo hộ ra sao?

Quy định người sử dụng đất có quyền được hưởng khi Nhà nước đầu tư tại khu vực chỉ đề cập đến tình huống đầu tư nông nghiệp, khoản 3, Điều 166 Luật Đất đai 2013, hoặc Điều 26 dự thảo Luật Đất đai 2023.

Vì sao người sử dụng đất chỉ được hưởng lợi khi Nhà nước đầu tư nông nghiệp? Còn các đầu tư khác thì không được hưởng lợi? Trong phân tích tài chính đất đai, luôn có mục chi phí giữ đất (holding cost). Vậy khi phát triển, thu hồi đất, những chi phí này cần được ghi nhận. Những người sử dụng đất hiện tại là người bảo vệ đất đai, dù Nhà nước đầu tư gì đi nữa, những người đang sản xuất bảo vệ ở khu vực đó phải được cùng hưởng lợi.

Khi làm rõ được quyền và nghĩa vụ của người nắm giữ quyền sử dụng đất cũng là khi làm rõ được định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ tác động thế nào lên các quyền và nghĩa vụ. Có thể sẽ có nhiều nghĩa vụ với cộng đồng xã hội hơn, có thể sẽ được nhiều bảo vệ từ xã hội hơn?

Những thành công trong thay đổi về quan niệm sở hữu tập thể, tư nhân, sở hữu quyền sử dụng đất đã mang lại nhiều thành quả vượt bậc trong phát triển kinh tế-xã hội. Luật Đất đai cần có nhiều chỉnh sửa sâu rộng, nhiều cách tiếp cận mới, với nền tảng lý luận sâu sắc về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhiều nội dung sửa đổi có thể không phản ánh kịp trong một lần sửa đổi, nhưng cần đề ra được lộ trình tổng thể mang tính hệ thống cho nhiều lần chỉnh sửa.

Định hướng xã hội chủ nghĩa, dân giàu nước mạnh, mục tiêu cho cộng đồng xã hội cần được thể hiện rõ hơn trong quyền và nghĩa vụ của Luật Đất đai, đó là điểm đặc sắc và ưu thế của xã hội chúng ta.

Có thể bạn quan tâm

Ông Trần Viết Lưu

Tuổi thọ tăng, cơ hội cũng phải tăng!

Việt Nam hiện có hơn 17 triệu người cao tuổi. Khi tuổi thọ trung bình tăng nhanh, nhóm dân số này cần được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển kinh tế-xã hội thay vì gánh nặng an sinh. Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Viết Lưu - Phó Chánh Văn phòng Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam khẳng định: Thay đổi nhận thức của xã hội chính là bước đi tiên quyết cho quá trình chuyển đổi này.

Chất thải xây dựng phát sinh lớn trong quá trình phá dỡ công trình ở Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Không để “tài nguyên” thành phế thải đô thị

Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển hạ tầng được thúc đẩy mạnh mẽ, khối lượng chất thải xây dựng và phá dỡ công trình đang gia tăng áp lực lên các đô thị lớn. Nếu không sớm thay đổi tư duy quản lý và chuyển hướng sang tái sử dụng, nguồn tài nguyên thứ cấp khổng lồ này sẽ bị lãng phí nghiêm trọng, biến thành gánh nặng cho hệ thống xử lý và gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường.

TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam.

Mấu chốt là hoàn thiện thể chế và chuyển đổi tư duy quản lý

Đây là hai điểm quan trọng được TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam (ảnh nhỏ) phân tích kỹ càng trong cuộc trả lời phỏng vấn của Nhân Dân cuối tuần, về các giải pháp biến chất thải xây dựng thành tài nguyên, góp phần bảo vệ môi trường.

Dự án Vành đai 2,5 đoạn qua phường Yên Hòa, nhiều hạng mục đang thi công phát sinh bụi dày đặc.

Giải quyết căn cơ bài toán vì môi trường Hà Nội

Thành phố Hà Nội đang đồng loạt triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn, từ các tuyến đường vành đai, cầu vượt sông Hồng đến những khu đô thị mới. Đi cùng tốc độ giải phóng mặt bằng và tháo dỡ công trình là lượng chất thải xây dựng tăng đột biến. Theo ước tính, từ đầu năm 2026 đến nay, khối lượng chất thải phát sinh đã đạt khoảng 1,5 triệu tấn.

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn cho biết: “Những doanh nghiệp tiên phong như Toàn Cầu không thể khai thác hết công suất do thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào”. Ảnh: Thành Đạt

Gỡ khó để doanh nghiệp dám đầu tư

Nguồn chất thải xây dựng phục vụ tái chế chưa ổn định và chưa được quản lý theo chuỗi chính là những rào cản lớn khiến cho doanh nghiệp tái chế chất thải xây dựng gặp nhiều khó khăn.

Một sản phẩm gạch tái chế từ chất thải xây dựng của Hà Lan. Ảnh: Chuyên gia cung cấp

Kích hoạt kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng

Theo nhiều thống kê quốc tế, chất thải xây dựng hiện chiếm từ 25-40% tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở nhiều quốc gia. Ngày nay, tại nhiều nước phát triển, chất thải xây dựng đã được nhìn nhận như một tài nguyên thứ cấp có giá trị, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính.

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Trước đòi hỏi đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao cùng những áp lực ngày một gia tăng bởi biến đổi khí hậu và những biến động địa chính trị trên toàn cầu, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh xử lý các dự án chậm tiến độ mà quan trọng hơn, cần đến cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học cho ngành quan trọng này. Tốc độ hoàn thiện thể chế chính là yếu tố quyết định liệu chúng ta có về đích - bổ sung 90.000 MW còn thiếu cho hệ thống trong chưa đầy 5 năm tới hay không?

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).

Ngành điện Cao Bằng chủ động các biện pháp phòng ngừa để đồng hành doanh nghiệp trong mùa cao điểm thiếu điện. Ảnh: Hoàng Yến

Đối phó thiếu hụt cung ứng điện mùa khô

Năm 2026 được dự báo có mùa khô hạn khốc liệt, nguy cơ thiếu điện sản xuất là rất lớn. Thay vì bị động ứng phó tình thế, cơ quan quản lý, ngành điện và các doanh nghiệp hiện nay đã chuyển sang tư duy quản trị rủi ro từ sớm bằng hàng loạt giải pháp thực tế.

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Trung tâm dữ liệu DayOne tại Bang Johor (Malaysia) hoạt động với công suất 478 MW.

Chấp nhận trả giá trước hay sau?

Câu chuyện về nguồn cung năng lượng tại hai nước láng giềng Đông Nam Á của Việt Nam là Thái Lan và Malaysia có thể gợi lên nhiều điểm đáng lưu tâm.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.

Diễn giả Nguyễn Quốc Vương trong một lần chia sẻ về văn hóa đọc với các em học sinh. Ảnh: NVCC

Như mạch nước kiên trì lan tỏa

Năm nay đánh dấu 10 năm tôi theo đuổi con đường khuyến đọc. Trong 10 năm đó, tất cả công việc của tôi đều tập trung vào hoạt động khuyến đọc bao gồm viết, đọc, nói (diễn thuyết). Và thật sự, con đường này vẫn vô cùng gian nan.

Không ít bạn trẻ lướt mạng thay vì đọc sâu. Ảnh: VĂN HỌC

Dừng lại, suy ngẫm và chuyển hóa

Khi sự chú ý liên tục bị phân tán bởi các luồng thông tin ngắn, phản hồi tức thời, việc dành thời gian cho một cuốn sách, ý tưởng hay quá trình suy tư ngày càng trở nên khó khăn.

Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương Bằng

Nông nghiệp với ngã rẽ chuyển đổi tư duy

Biến đổi khí hậu cùng với các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, sản xuất xanh và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chuẩn bắt buộc, để nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải chuyển đổi tư duy sản xuất, tập trung vào chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng.

Châu thổ Cửu Long.

Kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Trước câu hỏi, đâu là mô hình tăng trưởng phù hợp để vừa phát huy những lợi thế sẵn có vừa giữ gìn bản sắc văn hóa sông nước vùng châu thổ Cửu Long? Nhân Dân cuối tuần đã ghi lại những ý kiến trao đổi của lãnh đạo các địa phương.

Hàng loạt công trình hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia được đầu tư xây dựng, góp phần kiến tạo động lực để vùng Đồng bằng sông Cửu Long cất cánh. Trong ảnh: Thi công cao tốc trục ngang Châu Đốc - Trần Đề. Ảnh: Phương Bằng

Vận hội vươn mình trước làn sóng đầu tư

Sau nhiều thập niên là “vùng trũng” về hạ tầng giao thông và thu hút đầu tư, Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước vận hội mới. Những tuyến cao tốc, trục dọc, đường ngang, đường vành đai ven biển, ven biên giới, nhiều cầu lớn vượt sông dần nên hình hài... góp phần vào việc thu hẹp khoảng cách kinh tế một cách nhanh chóng và tạo đà tăng trưởng mạnh mẽ.

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Du lịch trải nghiệm (Experiential travel) hay còn có cái tên khác là du lịch hòa nhập (Immersive travel) đã và đang hiện diện ngày càng rõ ràng hơn trong nhiều loại hình sản phẩm khác nhau ở Việt Nam, với một điểm chung: Yếu tố trải nghiệm luôn được ưu tiên ở vị trí số một.

Du khách trải nghiệm làm rối nước tại thôn Bàn Thạch (tên nôm là thôn Rạch), phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: LƯƠNG VĂN PHƯƠNG

Thước đo mới cho giá trị điểm đến

Là một xu hướng mới tại Việt Nam, đặc biệt từ sau đại dịch Covid-19, du lịch trải nghiệm khuyến khích du khách tối đa hóa các giá trị nhận lại từ điểm đến bằng cách hòa mình kết nối và trở thành một phần của đời sống, văn hóa địa phương, thay vì chỉ đóng vai trò quan sát, nhìn ngắm hời hợt.

Du khách học cách làm món đồ uống độc đáo cà-phê trứng của Hà Nội. (Nguồn ảnh: Dine With Locals)

Cách để “bán” câu chuyện cuộc sống

Truyền thống lịch sử lâu đời cùng địa lý đa dạng và nền văn hóa giàu bản sắc là nền tảng, điểm tựa để Việt Nam phát triển du lịch bền vững với phong phú yếu tố trải nghiệm. Chung quanh chủ đề này, Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia và người trực tiếp làm công tác quản lý, vận hành dịch vụ/ mô hình du lịch trải nghiệm ở Việt Nam.