Điện gió muốn vươn khơi phải có đột phá

Trong bối cảnh các nguồn nhiên liệu hóa thạch ngày càng cạn kiệt, giá cả leo thang,... việc phát triển năng lượng bền vững là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia trên thế giới nhằm thực hiện cam kết quốc tế về chống biến đổi khí hậu. Không nằm ngoài xu thế đó, phát triển các loại hình năng lượng tái tạo là một trong những chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước, Chính phủ Việt Nam, và điện gió ngoài khơi được xác định là giải pháp đột phá, đầy triển vọng.
Dự thảo Quy hoạch điện VIII đặt mục tiêu đạt 7.000MW điện gió ngoài khơi vào năm 2030.
Dự thảo Quy hoạch điện VIII đặt mục tiêu đạt 7.000MW điện gió ngoài khơi vào năm 2030.

Trang trại điện gió ngoài khơi, tiềm năng chờ khai mở

Ở vị trí địa lý và điều kiện khí hậu thuận lợi, Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng lớn để phát triển điện gió ngoài khơi. Theo Ngân hàng Thế giới (WB) và Cơ quan Năng lượng Đan Mạch, với bờ biển dài và tiềm năng gió dồi dào, điện gió Việt Nam có tiềm năng ước đạt 475GW, trong đó tiềm năng kỹ thuật khoảng 160GW.

Báo cáo về tiềm năng năng lượng gió, sóng ngoài khơi tại các vùng biển Việt Nam của Tổng cục Khí tượng thủy văn (Bộ Tài nguyên và Môi trường) cho biết, các vùng biển có khả năng khai thác tiềm năng năng lượng gió tốt nhất là: từ Bình Định đến Ninh Thuận, Bình Thuận đến Cà Mau, và một phần vùng biển trung tâm vịnh Bắc Bộ. Đặc biệt, tiềm năng gió đạt ở mức tốt đến rất tốt ở khu vực biển Ninh Thuận đến Bà Rịa-Vũng Tàu, với tốc độ gió trung bình từ 8m-10m/s, mật độ năng lượng trung bình năm phổ biến từ 600W đến trên 700W/m2.

Báo cáo công bố hồi tháng 6 của Hội đồng Năng lượng gió toàn cầu (GWEC) cho hay, năm 2021, thế giới chứng kiến số lượng turbine gió được lắp đặt ngoài khơi nhiều nhất từ trước đến nay, với 21,1GW công suất mới được bổ sung vào lưới điện.

Dự thảo Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Quy hoạch điện VIII) được Bộ Công thương trình Chính phủ xem xét, phê duyệt, đặt ra mục tiêu sẽ phát triển khoảng 16.121MW điện gió trên bờ và gần bờ cùng khoảng 7.000MW điện gió ngoài khơi vào năm 2030. Tỷ trọng điện gió chiếm khoảng 15,8% tổng công suất hệ thống, trong đó điện gió ngoài khơi là 4,8%.

Năng lượng gió ngoài khơi là một nguồn năng lượng tái tạo có triển vọng phát triển lớn, có thể lắp đặt các trang trại điện gió ngoài khơi trên vùng biển rộng lớn. Tốc độ gió trên đại dương thường ổn định và mạnh hơn trên đất liền, nên ưu điểm chính của năng lượng gió ngoài khơi là khả năng tạo ra điện cao hơn so với năng lượng gió trên bờ. Một điểm cộng khác là các địa điểm ngoài khơi để triển khai trang trại điện gió không bị giới hạn, đồng thời ít hoặc không xảy ra xung đột với cộng đồng cư dân (vốn là một khó khăn đối với phát triển điện gió trên bờ). Với việc đầu tư vào hệ thống truyền tải cũng như điều độ thông minh, điện gió hoàn toàn có thể trở thành nguồn chủ đạo của hệ thống năng lượng Việt Nam trong tương lai, qua đó giảm lệ thuộc vào nguồn nhiên liệu hóa thạch nhập khẩu.

Định hướng phát triển điện gió ngoài khơi được Đảng xác định là động lực quan trọng trong Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 tại Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết số 55/NQ-TW ngày 11/2/2020 của Bộ Chính trị về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn năm 2045;...

Chờ được... định danh

Cùng với mục tiêu bảo đảm an ninh năng lượng, phát triển bền vững, phát triển điện gió ngoài khơi còn góp phần tạo ra hàng nghìn việc làm, và từng bước hình thành ngành công nghiệp phụ trợ hỗ trợ cho lĩnh vực phát triển điện gió tại Việt Nam.

Tính đến ngày 31/8/2022, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã nhận được 55 đề xuất khảo sát điện gió ngoài khơi; trong đó, có một đề xuất đo gió đã được Bộ chấp thuận (do nhà đầu tư trong nước đề xuất, diện tích 36m2 để lắp đặt trạm Lidar gió trên biển phục vụ lập báo cáo nghiên cứu khả thi Dự án Nhà máy điện gió ngoài khơi Bến Tre). Ngoài ra, theo thống kê chưa đầy đủ từ các địa phương có biển, có khoảng 40 đề xuất khảo sát điện gió ngoài khơi, có phạm vi vùng biển từ sáu hải lý trở vào thuộc thẩm quyền thẩm định, chấp thuận của UBND cấp tỉnh.

Cơ hội lớn, nhưng phát triển điện gió ngoài khơi ở Việt Nam đang đối diện những bài toán lớn như: khó huy động nguồn vốn lớn; tính chất phức tạp về kỹ thuật và công nghệ khiến cho dự án trải qua nhiều quy trình và trình tự thủ tục đầu tư… Đây cũng là lý do khiến cho hàng chục dự án điện gió được xây dựng, vận hành trong thời gian qua đều là những dự án trên đất liền, hoặc gần bờ.

Về công tác quy hoạch, hiện nay, Dự thảo Quy hoạch điện VIII chỉ mới phân bổ công suất điện gió ngoài khơi theo vùng, chưa có theo địa phương. Sau khi Quy hoạch VIII được phê duyệt, Bộ Công thương mới dự kiến tiếp tục xây dựng kế hoạch thực hiện Quy hoạch, làm cơ sở để xác định quy mô công suất các dự án phân theo từng địa phương, tiếp đó mới đến công tác lựa chọn nhà đầu tư...

Về khung chính sách, lộ trình xây dựng và ban hành cơ chế chính sách giá cho các dự án điện gió ngoài khơi đến nay chưa được chuẩn bị, thiếu các chỉ dẫn cụ thể và rõ ràng, đặc biệt là quy định như thế nào được gọi là dự án điện gió ngoài khơi, cũng là những khó khăn cần tính tới. Cụ thể, Quyết định số 39/2018/QĐ-TTg ngày 10/9/2018 của Thủ tướng Chính phủ chỉ đưa ra quy định điện gió trên bờ và ngoài khơi, trong khi Dự thảo Quy hoạch điện VIII đề cập điện gió trên bờ, gần bờ và ngoài khơi.

Bên cạnh đó, chưa có đủ căn cứ kỹ thuật đồng bộ nhằm xác định khu vực biển dành cho phát triển điện gió ngoài khơi theo lộ trình quy hoạch phát triển điện lực. Các quy định về cho thuê biển còn chưa rõ ràng, chưa tương ứng với các giai đoạn phát triển dự án điện gió ngoài khơi. Hiện nay chưa có quy định, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật công nghiệp cho điện gió ngoài khơi. Đặc biệt quy định về mật độ công suất (công suất lắp đặt trên km2) của các trang trại điện gió ngoài khơi…

Điều đáng nói, theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, Nhà nước vẫn chưa có quy định cụ thể về hồ sơ, tài liệu, trình tự, thủ tục, thời gian giải quyết việc chấp thuận hoạt động đo đạc, quan trắc, điều tra, khảo sát, đánh giá tài nguyên biển; cũng chưa có quy định về diện tích khu vực biển chấp thuận cho sử dụng để đo gió, khảo sát địa chất, địa hình, đánh giá tác động môi trường trên biển là bao nhiêu ha trên 1MW công suất dự kiến đối với từng khu vực biển; chưa có quy định công suất điện gió tối đa cho một dự án là bao nhiêu chẳng hạn như: 0,5GW, 1GW hay 2GW... để vừa bảo đảm khuyến khích nhà đầu tư tham gia dự án, vừa bảo đảm cân đối hệ thống truyền tải điện. Trước những vướng mắc này, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã đề xuất Chính phủ tạm dừng thẩm định, chấp thuận về vị trí, ranh giới, diện tích, tọa độ, độ sâu, thời gian sử dụng khu vực biển cho đến khi Chính phủ ban hành Nghị quyết về hoạt động đo gió, quan trắc, điều tra, khảo sát địa chất, địa hình, đánh giá tác động môi trường trên biển.

Giám đốc điều hành Tổ chức Sáng kiến về Chuyển dịch Năng lượng Việt Nam (VIETSE) Ngô Thị Tố Nhiên cho rằng: Để thúc đẩy phát triển điện gió ngoài khơi, cần thiết lập các mục tiêu cụ thể thông qua các bản quy hoạch quốc gia như: Quy hoạch không gian biển quốc gia, Quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ, Quy hoạch năng lượng và Quy hoạch phát triển điện lực để làm căn cứ cho việc triển khai các dự án điện gió ngoài khơi. Thực hiện các mục tiêu quy hoạch, cần có cơ chế chính sách cụ thể về vai trò quản lý các cấp, phương thức cho thuê biển gắn với mật độ công suất lắp đặt nhằm tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên biển để phát triển điện gió ngoài khơi. Ngoài ra, các quy định căn bản về tiêu chuẩn kỹ thuật, hướng dẫn đánh giá các tác động môi trường xã hội... cũng cần được hoàn thiện.

Song song quá trình định hình thể chế, chính sách, một việc cần thực hiện là đánh giá và xác định cụ thể vai trò của các tập đoàn năng lượng nhà nước tham gia chuỗi cung ứng phát triển điện gió ngoài khơi, đặc biệt là vai trò của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN). Theo các chuyên gia, để thúc đẩy sớm hình thành ngành công nghiệp điện gió ngoài khơi, những giải pháp mang tính đột phá của Nhà nước là vô cùng quan trọng.

Ông Trần Viết Ngãi - Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam:

Ðòn bẩy phát triển chuỗi giá trị công nghiệp hỗ trợ và logistics

Nhờ vào tiến bộ của khoa học công nghệ mà điện gió ngoài khơi mang lại hiệu suất đầu tư lớn. Trong khi điện gió trên bờ chỉ lắp được turbine công suất 3-4MW, thì turbine điện gió ngoài khơi đã có loại công suất lên đến 40MW, 50MW. Như vậy, một turbine điện gió ngoài khơi cũng tương đương một dự án nhà máy thủy điện vừa ở Việt Nam. Để phát triển thị trường năng lượng bền vững, bảo đảm các cam kết quốc tế, phát triển năng lượng tái tạo nói chung, trong đó có điện gió ngoài khơi được đặt ra cấp thiết.

Cùng với năng lực và kinh nghiệm xây dựng các công trình ngoài khơi, các công trình biển và hệ thống logistics phụ trợ của ngành dầu khí hiện nay, Việt Nam có đủ các yếu tố để phát huy tốt nội lực trong việc phát triển ngành công nghiệp điện gió ngoài khơi gắn với chuỗi giá trị công nghiệp hỗ trợ và dịch vụ logistics trong những năm tới. Vấn đề là phải sớm hoàn thiện các quy hoạch liên quan, xây dựng cơ chế, chính sách hợp lý để thu hút các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài vào lĩnh vực mới mẻ này ở Việt Nam.

Có thể bạn quan tâm

Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân là lời cam kết đanh thép, nhằm bảo vệ niềm tin của nhân dân. (Ảnh CMC)

Lời đáp cho niềm tin

Chúng ta, những công dân nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, tự hào khi công ước đầu tiên của Liên hợp quốc về chống tội phạm mạng được mở ký tại Thủ đô Hà Nội (Công ước Hà Nội).

Coolmate đặt mục tiêu tăng gấp năm lần doanh thu và đạt mức định giá 1 tỷ USD trước năm 2030.

Bí quyết tiến chắc, mà vẫn tiến nhanh

“Coolmate là thí dụ tiêu biểu cho thế hệ thương hiệu tiêu dùng mới - xây dựng trên nền tảng số, tích hợp chuỗi cung ứng và có khát vọng vươn ra toàn cầu. Chúng tôi tự hào được đồng hành cùng một start-up Việt mang tầm nhìn và tinh thần vượt giới hạn như vậy”, Tổng Giám đốc Quỹ Vertex Growth Fund James Lee nhận định.

Người dân tìm hiểu mô hình nhà ở xã hội, được xây dựng trên đường Lê Thánh Tông, thành phố Hải Phòng. (Ảnh Thu Hằng)

Tăng cơ hội cho người thu nhập thấp

Chính phủ và Quốc hội đã ban hành hàng loạt chính sách đột phá về quy trình phê duyệt dự án, thủ tục lựa chọn chủ đầu tư, cơ chế xác định giá bán, giá thuê, cũng như việc bố trí quỹ đất và ưu đãi tài chính… cho nhà ở xã hội.

Thứ trưởng Xây dựng Nguyễn Văn Sinh

Tạo “luồng xanh”, rút ngắn quy trình

Trao đổi với Nhân Dân cuối tuần, Thứ trưởng Xây dựng Nguyễn Văn Sinh đã nêu ra nhiều giải pháp thúc đẩy các dự án nhà ở xã hội. Trong đó, tạo “luồng xanh”, “luồng ưu tiên” trong quá trình làm thủ tục được coi là điểm nhấn quan trọng, giúp rút ngắn thời gian triển khai các dự án nhà ở xã hội.

Quy định về việc thành lập, hoạt động của Quỹ nhà ở quốc gia.

Niềm hy vọng mới

Quỹ nhà ở quốc gia được thành lập đã mở ra những hy vọng về việc tăng nguồn cung nhà ở xã hội và góp phần ổn định thị trường bất động sản.

Cần sự bình đẳng về quy hoạch cho các dự án nhà ở xã hội. (Ảnh THÀNH ĐẠT)

Giải bài toán quy hoạch quỹ đất

Vấn đề quy hoạch quỹ đất cho nhà ở xã hội tại nhiều địa phương hiện nay vẫn gặp không ít rào cản. Chủ động phân bổ quỹ đất được kỳ vọng sẽ từng bước tháo gỡ nút thắt cho bài toán an sinh đô thị kéo dài nhiều năm qua.

Các ngân hàng tham gia Chương trình tín dụng dành cho người trẻ dưới 35 tuổi đều cân nhắc gia tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn vay giá rẻ cho người mua nhà.

Sẵn vốn ưu đãi, vì sao vẫn chậm giải ngân?

Các gói tín dụng ưu đãi được Chính phủ xác định là giải pháp hữu hiệu thúc đẩy phát triển nhà ở xã hội, mở rộng nguồn cung đáp ứng nhu cầu người dân. Tuy nhiên, so quy mô các chương trình tín dụng ưu đãi cho phân khúc này, doanh số giải ngân vẫn chưa được như kỳ vọng.

Một dự án nhà ở xã hội tại Khu đô thị Pháp Vân-Tứ Hiệp (Hà Nội) bị chậm tiến độ. (Ảnh Văn Học)

Hiện thực hóa giấc mơ an cư

Thực tiễn tại một số dự án cho thấy, yêu cầu xác nhận thu nhập đang trở thành rào cản dai dẳng, khiến nhiều người dân bức xúc.

Con đường xuyên qua khu rừng phòng hộ Mũi Cà Mau vừa được tái sinh. (Ảnh NSNA Phương Bằng)

Tiến tới một Việt Nam Xanh

Định giá carbon và phát triển thị trường carbon là một trong năm giải pháp chính, được Chính phủ đề ra nhằm hiện thực hóa mục tiêu đưa mức phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) vào năm 2050, như cam kết tại Hội nghị COP26 (năm 2021).

Trong giai đoạn 2025-2026, các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực xi-măng, sắt thép và nhiệt điện sẽ phải kiểm kê, kiểm soát hạn ngạch khí thải để chuẩn bị cho thị trường carbon bắt buộc. (Ảnh Nguyên Nghi)

Hành trình hướng tới thị trường tín chỉ carbon Việt

Thị trường tín chỉ carbon là công cụ chính sách then chốt, góp phần giảm phát thải khí nhà kính theo cơ chế thị trường. Nhưng để doanh nghiệp tham gia thị trường carbon một cách bền vững, các ngành chức năng cần sớm xúc tiến, triển khai các kế hoạch, giải pháp, khung pháp lý liên quan.

PGS, TS Nguyễn Hồng Quân

Sớm hoàn thiện hành lang pháp lý

Việt Nam dự kiến thiết lập, vận hành thí điểm sàn giao dịch tín chỉ carbon, bước đầu hình thành và phát triển thị trường này vào cuối năm 2026.

Tham gia thị trường tín chỉ carbon, Cà Mau ước tính có nguồn thu khoảng hơn 3.500 tỷ đồng mỗi năm từ “kho báu xanh”.

Giữ rừng, giữ sinh kế bền vững

Những ngày đầu năm 2026, nắng như dịu lại khi chúng tôi lạc bước dưới những vòm xanh ngắt của rừng ngập mặn lớn nhất Việt Nam. Với hơn 102.000ha rừng và đất rừng ngập mặn, Cà Mau không chỉ sở hữu một hệ sinh thái đặc thù, mà còn nắm giữ “vận mệnh” sinh kế của hàng chục nghìn hộ dân.

Bộ trưởng Biến đổi Khí hậu Simon Watts (giữa) trong cuộc làm việc tại Vanuatu, New Zealand.

Nghịch lý về thiếu hụt niềm tin

Dù New Zealand cắt giảm mạnh số lượng đơn vị phát thải trong hệ thống mua bán hạn ngạch (ETS) giai đoạn 2025-2029 từ 45 xuống 21 triệu đơn vị, đất nước này vẫn gặp phải tình trạng đấu giá thất bại vì vấn đề dư thừa nguồn cung.

Tham gia Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao giúp nông dân miền Tây có sự chuyển biến mạnh mẽ về tư duy sản xuất. (Ảnh NGUYỄN HỮU TÙNG)

Danh tính mới cho hạt gạo Việt

Sau một năm triển khai Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh, nông dân Đồng bằng sông Cửu Long đã mạnh dạn thay đổi tư duy sản xuất, để hạt gạo Việt bắt đầu có “danh tính xanh” trên thị trường quốc tế.

Ảnh: Chu Việt Hà

Sống trẻ

Sống thật nhiều, sống trọn vẹn từng khoảnh khắc để không phải hối tiếc khi nhìn lại, nghĩ nhiều đến hơn một cuộc đời khác ngoài bản thân mình và cho đi bất cứ khi nào có thể…

Niềm vui với thành quả sáng tạo như làm bừng sáng gương mặt của nghệ nhân gốm trẻ ở làng nghề truyền thống Phù Lãng, tỉnh Bắc Ninh. (Ảnh Minh Lê)

Sống như tuổi thanh xuân

LTS - Nhân Dân cuối tuần xin gửi tới bạn đọc một mạn đàm quanh chủ đề sống trẻ của nhà văn NGUYỄN TRƯƠNG QUÝ, từ góc nhìn với văn chương, sáng tạo nghệ thuật cùng trải nghiệm đáng giá trên hành trình viết của chính tác giả.

Chị Nguyễn Vân Anh, người sáng lập và có nhiều năm làm giám đốc điều hành Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng khoa học về Giới-Gia đình-Phụ nữ và Vị thành niên (CSAGA)

Nuôi dưỡng một đời sống tinh thần phong phú, sâu sắc

Chung quanh chủ đề sống trẻ, chúng tôi có cuộc trò chuyện với chị Nguyễn Vân Anh, người sáng lập và có nhiều năm làm giám đốc điều hành Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng khoa học về Giới-Gia đình-Phụ nữ và Vị thành niên (CSAGA).

Đọc sách cùng tác giả đem lại những giây phút vui vẻ cho các em nhỏ. (Ảnh NXB Kim Đồng)

Mơ lớn để sáng tạo nhiều hơn

Cho đến nay, sách dành cho thiếu nhi ở nước ta vẫn chủ yếu có hai dạng: Sách được viết bởi các tác giả trong nước và sách mua bản quyền/ chuyển ngữ từ các đơn vị xuất bản nước ngoài. Nhưng đã bắt đầu có những giấc mơ phát hành ra thế giới những cuốn sách thiếu nhi do tác giả Việt Nam thực hiện.

Những đôi chân có thể không còn nhanh nhẹn và đôi khi lạc nhịp nhưng vẫn luôn cố gắng bắt kịp từng điệu nhảy.

“Trạm kết nối” liên thế hệ

Mô hình Câu lạc bộ Liên thế hệ Tự giúp nhau, là sáng kiến do Hội Người cao tuổi Việt Nam khởi xướng, đến nay được nhân rộng tại nhiều địa phương, đặc biệt có nơi còn được ghi nhận như một “mạng lưới an sinh cộng đồng”.

TS Phan Quang Anh (thứ ba, từ phải sang) tham dự Lễ ra mắt VietNuc tại Đại sứ quán Việt Nam ở Pháp, năm 2025. (Ảnh Minh Duy)

Những cống hiến thầm lặng

Vượt qua khoảng cách địa lý xa xôi, nhiều chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài ngày đêm bắc những nhịp cầu tri thức đưa tiến bộ khoa học công nghệ thế giới về Việt Nam. Từ dải đất chữ S, họ tự tin bước ra thế giới và góp phần vào những nỗ lực định danh Việt Nam trên bản đồ tăng trưởng toàn cầu.

CẢI CÁCH, BẢN LĨNH VÀ NHÂN VĂN

CẢI CÁCH, BẢN LĨNH VÀ NHÂN VĂN

Lời tòa soạn - Năm 2025 dần đi đến những ngày cuối cùng, đất nước đang hướng tới một năm mới, một giai đoạn phát triển mới được khai mở từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Với sự đóng góp tích cực từ xuất khẩu các mặt hàng chủ lực như: lúa gạo, hải sản... dự kiến tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2025 của Việt Nam có thể đạt ngưỡng kỷ lục hơn 900 tỷ USD.

Vị thế, vận hội cho kinh tế Việt Nam cất cánh

Năm 2026 đang đến là thời điểm mà năng lực đổi mới sáng tạo, tri thức và kết nối chuỗi giá trị toàn cầu trở thành trọng tâm, để Việt Nam có thể vươn lên và khẳng định vị thế trên trường quốc tế.

Người dân Hội An (thành phố Đà Nẵng) nỗ lực vượt qua lũ lịch sử. (Ảnh Tùng Lâm)

Nhìn lại một năm thiên tai cực đoan

Năm 2025 có thể được xem là năm có tần suất xảy ra thiên tai nhiều nhất từng được ghi nhận từ xưa đến nay, với phạm vi xảy ra trên diện rộng từ miền bắc vào miền trung, gây ra những thiệt hại trầm trọng về kinh tế và nhân mạng.

Hạ tầng giao thông hiện đại, kết nối đồng bộ sẽ tạo cú hích thu hút FDI vào miền Tây. Ảnh: Phương Bằng

Mảng sáng đồng bằng trên bản đồ quốc gia

Những dự án hạ tầng quy mô lớn đồng loạt về đích cùng các công trình trọng điểm được khởi công dịp cuối năm 2025 đang mở ra những hướng đi mới cho Đồng bằng sông Cửu Long, khẳng định vị thế vùng trên bản đồ phát triển quốc gia.

Phối cảnh Khu đô thị thông minh Tiến Xuân - một mô hình đô thị thông minh thí điểm của Hà Nội, găn kết, hỗ trợ Khu Công nghệ cao Hòa Lạc.

Quản trị đô thị hiện đại, thích ứng biến đổi khí hậu

Quá trình đô thị hóa và chuyển đổi số tại Việt Nam đang diễn ra mạnh mẽ, song điều này cũng kéo theo nhiều thách thức về hạ tầng quá tải, môi trường nhiễm, gia tăng rủi ro thiên tai, biến đổi khí hậu... Điều đó đặt ra yêu cầu cấp bách về đổi mới tư duy, phương thức quy hoạch, quản trị trong phát triển đô thị.