Di sản trong guồng quay du lịch

Du lịch gắn với di sản văn hóa và thiên nhiên đang trở thành một trong những động lực phát triển kinh tế-xã hội quan trọng của nhiều địa phương. Từ vùng đồng bào dân tộc thiểu số đến các trung tâm di sản quốc gia và quốc tế, nhiều nơi đã biến di sản thành tài sản.
Cộng đồng Dao đỏ ở Tả Phìn gìn giữ nguyên gốc lễ cấp sắc độc đáo. (Ảnh: VŨ LINH)
Cộng đồng Dao đỏ ở Tả Phìn gìn giữ nguyên gốc lễ cấp sắc độc đáo. (Ảnh: VŨ LINH)

Tuy nhiên, đằng sau những lợi ích kinh tế, không ít di sản đang bị thương mại hóa, sân khấu hóa, thậm chí biến dạng, ảnh hưởng giá trị nguyên gốc và tính bền vững của di sản.

Khi di sản trở thành sản phẩm du lịch

Miền núi Đông Bắc - nơi cộng cư của nhiều dân tộc thiểu số với đời sống văn hóa đặc sắc, du lịch văn hóa đang phát triển mạnh mẽ. Các sản phẩm du lịch như chợ phiên vùng cao, tour trải nghiệm làng nghề, các lễ hội truyền thống… đã góp phần quảng bá bản sắc và tạo sinh kế cho người dân địa phương.

Tuy nhiên, khi di sản trở thành tài nguyên du lịch, việc biến tấu, mô phỏng, dàn dựng theo thị hiếu du khách ngày càng phổ biến.

Nhiều nghi lễ như Gầu Tào của người Mông, nhảy lửa của người Pà Thẻn… bị cắt gọt nghi thức, thay đổi thời gian tổ chức, di dời không gian hành lễ làm mất tính thiêng và vai trò gắn kết cộng đồng. Từ một nghi thức tâm linh gắn với đời sống tinh thần của người dân, không ít lễ hội dần bị “sân khấu hóa” thành tiết mục biểu diễn phục vụ khách du lịch.

Tình trạng tương tự diễn ra với nghề thủ công truyền thống. Ở các bản làng người Thái, Mông, Dao, sản phẩm thổ cẩm từng là kết tinh của kỹ thuật dệt, biểu đạt bản sắc tộc người, nay bị đơn giản hóa quy trình, công nghiệp hóa. Nhiều sản phẩm không còn do người dân tự dệt, thêu mà sử dụng vải công nghiệp, họa tiết in sẵn. Một số nơi nhập hàng từ nơi khác nhưng gắn nhãn “đặc sản địa phương”, làm giảm giá trị và tính xác thực của sản phẩm.

Khi trang phục truyền thống chỉ xuất hiện khi có đoàn khách, nghề thủ công không còn phục vụ đời sống thường nhật và lễ hội trở nên xa lạ với chính cộng đồng tổ chức… thì di sản cũng không còn “sống” trong cộng đồng.

Đáng lo ngại hơn, thế hệ trẻ ngày càng ít gắn bó với các giá trị văn hóa truyền thống, làm gia tăng nguy cơ đứt gãy văn hóa. Những biểu hiện thương mại hóa quá mức, sản phẩm giả mạo, nghi lễ bị bóp méo… không chỉ làm tổn thương tinh thần cộng đồng, mà còn làm giảm sức hấp dẫn thực chất của điểm đến.

Du khách có thể tò mò trong lần đầu, nhưng khi phát hiện sự dàn dựng trải nghiệm sẽ trở nên hời hợt, thiếu chiều sâu.

Di sản thiên nhiên dưới áp lực du lịch

Không chỉ di sản văn hóa phi vật thể, nhiều di sản thiên nhiên cũng đang đối mặt với áp lực từ hoạt động du lịch thiếu kiểm soát.

Vịnh Hạ Long, Di sản thiên nhiên thế giới từng nhiều lần được cảnh báo về tình trạng ô nhiễm môi trường, lấn chiếm không gian cảnh quan và xây dựng trái phép.

Quần thể danh thắng Tràng An (Ninh Bình), dù được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, cũng từng bị tác động bởi các công trình du lịch xâm phạm vùng lõi, làm thay đổi cảnh quan và môi trường sinh thái.

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) nhiều lần nhấn mạnh, việc phát triển du lịch cần đặt trong mối quan hệ hài hòa với công tác bảo tồn.

Đang trong chuyến công tác tại Việt Nam, trao đổi với lãnh đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, ông Lazare Eloundou Assomo, Giám đốc Trung tâm Di sản Thế giới của UNESCO, đã chia sẻ: Tôi rất quan tâm đến mối quan hệ giữa bảo tồn di sản và phát triển kinh tế-xã hội.

Trong các buổi làm việc với chính quyền và cơ quan chuyên môn tại các địa phương có di sản thế giới như Quảng Ninh, Hải Phòng, Huế… chúng tôi sẽ cùng trao đổi cụ thể về chiến lược gìn giữ di sản, trong đó nhấn mạnh việc cân bằng giữa phát triển và bảo tồn di sản.

Ông Lazare Eloundou Assomo, Giám đốc Trung tâm Di sản Thế giới của UNESCO làm việc với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam. (Ảnh: NGỌC LIÊN)

Ông Lazare Eloundou Assomo, Giám đốc Trung tâm Di sản Thế giới của UNESCO làm việc với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam. (Ảnh: NGỌC LIÊN)

Du lịch và di sản không đối lập nếu được đặt trong quan hệ hỗ trợ lẫn nhau. Du lịch cần di sản để tạo ra điểm đến khác biệt; ngược lại, di sản cần du lịch để có thêm nguồn lực bảo tồn. Cốt lõi là cách tiếp cận: Không coi di sản là tài nguyên có thể khai thác một chiều mà là nền tảng phát triển bền vững.

Cần lấy cộng đồng làm trung tâm, lấy di sản làm nền tảng và lấy văn hóa làm động lực trong mọi hoạt động phát triển du lịch. Cộng đồng nắm giữ di sản sẽ hiểu di sản hơn bất cứ ai, nhưng để thực sự làm chủ, cần có chính sách hỗ trợ, hướng dẫn cách gìn giữ và phát huy di sản trong bối cảnh mới.

Nhiều địa phương đã có bước chuyển tích cực như phục dựng lễ hội theo nguyên gốc, có sự tham gia của nghệ nhân và nhà nghiên cứu văn hóa, triển khai các mô hình du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái gắn với bản địa.

Tuy nhiên, để những mô hình này phát huy hiệu quả, cần mở rộng quy mô, bảo đảm tính nguyên bản và chất lượng, tránh xu hướng phục dựng nửa vời hoặc quá lệ thuộc vào trình diễn.

Các mô hình du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái gắn với trải nghiệm văn hóa bản địa cần được đầu tư bài bản.

Công tác quy hoạch du lịch cần lồng ghép yếu tố bảo tồn, xác định rõ ranh giới giữa phát huy và khai thác, tránh tình trạng “cạn kiệt di sản”.

Bảo tồn yếu tố gốc của di sản góp phần phát triển du lịch bền vững. (Ảnh: VŨ LINH)

Bảo tồn yếu tố gốc của di sản góp phần phát triển du lịch bền vững. (Ảnh: VŨ LINH)

Một hướng đi quan trọng nhằm bảo vệ và phát triển di sản bền vững là tăng cường giáo dục văn hóa và truyền dạy nghề truyền thống trong cộng đồng. Việc tổ chức các lớp học văn hóa, truyền nghề thủ công, tái hiện không gian sinh hoạt cổ truyền… sẽ giúp thế hệ trẻ nhận diện bản sắc, khơi dậy niềm tự hào dân tộc và tinh thần gìn giữ di sản. Các trường học cần đưa giáo dục di sản vào chương trình chính khóa và ngoại khóa, kết nối nhà trường với cộng đồng sở hữu di sản.

Chính quyền địa phương, ngành văn hóa, du lịch và các tổ chức bảo tồn cần phối hợp chặt chẽ trong quản lý, xử lý nghiêm các hành vi bóp méo văn hóa, vi phạm cảnh quan và môi trường.

Di sản được bảo tồn và phát huy đúng cách sẽ không chỉ là vốn quý của cộng đồng, mà còn là “tài sản chiến lược” của ngành du lịch. Trong guồng quay phát triển, giữ gìn được bản sắc chính là giữ gìn sức sống bền vững của điểm đến.

Khi được khai thác hợp lý, di sản sẽ là “vốn liếng” của ngành du lịch trong dài hạn, góp phần nâng cao giá trị điểm đến.

Có thể bạn quan tâm

Du khách khám phá biển Mỹ Khê, Đà Nẵng. (Ảnh: ANH ĐÀO)

Nhu cầu du lịch quý II/2026: Người Việt ưu tiên những điểm đến gần

Theo báo cáo Traveloka SEA Index quý II/2026, trong khi dòng khách của Đông Nam Á có xu hướng đổ mạnh về các điểm đến Đông Á, sự tăng trưởng của du lịch Việt Nam lại được thúc đẩy chủ yếu bởi thị trường nội địa. Du lịch trong nước được thúc đẩy bởi các điểm đến ven biển như Phú Quốc, Côn Đảo, Hội An và Đà Nẵng.

Hà Nội được xem là trung tâm trung chuyển khách du lịch, thường đi đầu trong các hoạt động xúc tiến, liên kết vùng trên cả nước. (Ảnh: THẾ ĐẠI)

Phát triển sản phẩm du lịch liên vùng gắn với bản sắc riêng

Liên kết vùng vốn được xem là "chìa khóa" để nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, để ngành du lịch phát triển bền vững, công tác liên kết vùng cần được triển khai theo hướng thực chất hơn, gắn với chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường và doanh nghiệp.

Toàn cảnh Hội nghị. (Ảnh: VŨ MAI)

Các Hiệp hội du lịch phía bắc chung tay nâng tầm du lịch Việt Nam

Ngày 7/8, tại Khu Du lịch Ao Vua (Hà Nội), Cụm Hiệp hội Du lịch các tỉnh phía bắc tổ chức Hội nghị Sơ kết hoạt động 6 tháng đầu năm 2026 và Diễn đàn “Kết nối sức mạnh vùng miền-Chung tay nâng tầm du lịch Việt Nam”, nhằm nhìn lại những kết quả đã đạt được và thảo luận định hướng liên kết, phát triển 6 tháng cuối năm.

ITE HCMC 2026 sẽ diễn ra với quy mô dự kiến lớn nhất kể từ lần đầu tổ chức. (Ảnh: THÀNH ĐẠT)

ITE HCMC 2026 - Sự kiện xúc tiến thương mại du lịch quốc tế hàng đầu Việt Nam

Suốt hai thập kỷ qua, ITE HCMC không chỉ là nơi gặp gỡ của cộng đồng doanh nghiệp mà còn là cầu nối thúc đẩy hợp tác giữa các điểm đến, cơ quan xúc tiến du lịch, đơn vị kinh doanh và đối tác quốc tế. Từ đây, nhiều sản phẩm du lịch mới, tuyến liên kết và cơ hội đầu tư đã được hình thành, góp phần phát triển nền du lịch Việt Nam.

Du khách Nga thích thú với phong cảnh Việt Nam. (Ảnh: Tourprom)

Việt Nam lọt top 5 quốc gia được du khách Nga yêu thích nhất

Ngày 7/8, ông Alexan Mkrtchyan, Phó Chủ tịch Liên minh các công ty du lịch Nga và Giám đốc điều hành chuỗi công ty du lịch Pink Elephant cho biết: Việt Nam nằm trong số 5 điểm đến phổ biến nhất đối với khách du lịch Nga trong năm 2026. Ba vị trí đầu thuộc về Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập và Trung Quốc, tiếp theo là Thái Lan ở vị trí thứ 4.

Các chuyến đi nghỉ dưỡng kết hợp với khám phá lịch sử, văn hóa, cùng những trải nghiệm bản địa được du khách lựa chọn trong kỳ nghỉ lễ Quốc khánh sắp tới. (Ảnh: THẾ ĐẠI)

Du lịch dịp 2/9: Khám phá lịch sử, trải nghiệm văn hóa được du khách ưa chuộng

Theo dữ liệu mới nhất từ nền tảng du lịch trực tuyến uy tín Traveloka cung cấp, trong thời điểm kỳ nghỉ Quốc khánh 2/9 đang đến gần, du khách hiện có xu hướng tìm kiếm những chuyến đi kết hợp giữa việc nghỉ dưỡng với các hành trình khám phá lịch sử, văn hóa, cùng những trải nghiệm bản địa đích thực.

Khách quốc tế thích thú khám phá Vịnh Hạ Long. (Ảnh: THẾ ĐẠI)

Du lịch Việt Nam đạt 56% mục tiêu đón khách quốc tế năm 2026

Theo Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, việc duy trì tăng trưởng về lượng khách quốc tế trong 7 tháng đầu năm 2026 ngày càng củng cố sức hấp dẫn của điểm đến. Đồng thời, phản ánh hiệu quả từ chính sách thị thực thuận lợi, mở rộng kết nối hàng không, đẩy mạnh xúc tiến quảng bá, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ du lịch.

Lâu đài Okayama - một trong những điểm đến thu hút khách du lịch Việt Nam khám phá khi đến Nhật Bản. (Ảnh: TTXVN)

Tăng cường trao đổi lượng khách hai chiều giữa Việt Nam-Nhật Bản

Quan hệ hợp tác phát triển du lịch giữa Việt Nam và Nhật Bản tiếp tục ghi nhận đà tăng trưởng trong thời gian qua. Bằng việc mở rộng đường bay, đẩy mạnh chuyển đổi số và phát triển các sản phẩm du lịch đa dạng, hai nước đang từng bước hiện thực hóa mục tiêu chung: nâng tổng lượng khách trao đổi hai chiều lên mốc 2 triệu lượt.

Mùa cao điểm du lịch tại đảo Cù Lao Chàm, xã Tân Hiệp luôn thu hút đông đảo du khách quốc tế.

Đà Nẵng: Sinh kế bền vững ở Cù Lao Chàm

Xã đảo Tân Hiệp, thành phố Đà Nẵng gắn liền với Cù Lao Chàm được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới. Với lợi thế sẵn có, xã Tân Hiệp đang được định hướng phát triển kết hợp du lịch xanh, sinh thái, cộng đồng và trải nghiệm gắn với văn hóa biển đảo và các sản phẩm đặc trưng địa phương.

Du hành trên "con đường tơ lụa" kỷ nguyên mới

Du hành trên "con đường tơ lụa" kỷ nguyên mới

Từ những dịch trạm và cửa ải trên Con đường Tơ lụa hơn hai nghìn năm trước đến hệ thống dữ liệu số lưu giữ từng đường nét của các bức bích họa Mạc Cao, Đôn Hoàng (Cam Túc, Trung Quốc)… đều làm sáng tỏ điều hiển nhiên: Di sản chỉ trường tồn khi được kết nối, sẻ chia và làm mới trong đời sống đương đại.

Du khách nghe hướng dẫn viên giới thiệu về Đền Đô (tỉnh Bắc Ninh). (Ảnh: ĐỒNG THÚY)

Chuẩn hóa nguồn nhân lực du lịch

Không chỉ tạo ra những thay đổi sâu sắc trong phương thức quản lý, vận hành, kinh doanh du lịch, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh còn đang từng bước định hình lại những chuẩn nghề mới cho người lao động, từ đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải chuẩn hóa nguồn nhân lực để thúc đẩy du lịch phát triển nhanh, thông minh và bền vững.

Mùa hoa tam giác mạch và cảnh sắc thiên nhiên hoang sơ, hùng vĩ thu hút khách du lịch tìm đến Tuyên Quang.

Hành trình mới trên miền di sản

Việc hợp nhất hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang đã mở rộng đáng kể không gian du lịch của tỉnh Tuyên Quang (mới), đồng thời tạo nên một hệ thống tài nguyên đa dạng, trong đó có nhiều giá trị độc đáo mang tầm vóc toàn cầu.