Dệt may trước bài toán tự chủ nguyên liệu

Xuất khẩu đạt 46 tỷ USD nhưng ngành dệt may vẫn phụ thuộc lớn vào vải nhập khẩu. Trong bối cảnh mới, yêu cầu về tự chủ nguyên liệu để nâng sức cạnh tranh ngày càng trở nên cấp bách.

Việc chủ động nguồn vải trong nước trở thành lợi thế lớn với các doanh nghiệp dệt may. Ảnh: NAM ANH
Việc chủ động nguồn vải trong nước trở thành lợi thế lớn với các doanh nghiệp dệt may. Ảnh: NAM ANH

Trong năm 2025, Việt Nam tiếp tục giữ vững vị thế trong top 3 thế giới về xuất khẩu dệt may. Mỹ vẫn là thị trường lớn nhất, chiếm xấp xỉ 40% tổng kim ngạch. Tiếp sau đó là Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc…

Vẫn phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu

Trong dòng vốn đầu tư vào ngành đang có sự dịch chuyển rõ rệt sang các khâu thượng nguồn như sợi, dệt, nhuộm. Hiện tại tỷ trọng đầu tư tăng nhanh, đã chiếm hơn 50% trong tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành.

Tuy nhiên, ngành dệt may vẫn phải chi khoảng 17 tỷ USD để nhập khẩu vải trong năm 2025. Nhìn nhận nghịch lý này, ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS) cho biết, chính khâu nhuộm hoàn tất, vốn là “mắt xích” then chốt để nâng tỷ lệ nội địa hóa lại đang vấp phải nhiều rào cản. Trong đó có tâm lý e ngại ô nhiễm môi trường tại nhiều địa phương. Dù công nghệ xử lý nước thải hiện đại đã chứng minh khả năng kiểm soát tốt, nhưng rất khó cải thiện tâm lý đã hằn sâu của địa phương.

Bên cạnh đó, quỹ đất cho dệt nhuộm chưa được quy hoạch tập trung. Sự thiếu hụt về hạ tầng chuyên dụng, cùng với cơ chế chính sách chưa đủ hấp dẫn, đã khiến nhiều nhà đầu tư lớn trong lĩnh vực dệt nhuộm vẫn còn dè dặt khi rót vốn vào Việt Nam.

“Hệ quả ngành công nghiệp dệt may Việt Nam vẫn phụ thuộc đáng kể vào nguyên liệu nhập khẩu, đặc biệt là vải và một số hóa chất, phụ liệu đặc thù. Điều này khiến doanh nghiệp bị động trước biến động logistics, tỷ giá, rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng và đặc biệt là khó đáp ứng quy tắc xuất xứ trong các Hiệp định thương mại tự do (FTA)”, ông Giang cho biết.

Tấm vé thông hành vào các thị trường lớn

Ở góc độ quản lý, bà Trần Thu Hương, đại diện Cục Công nghiệp, Bộ Công thương cho rằng, việc tự chủ nguồn cung hiện nay không còn là câu chuyện về lợi nhuận đơn thuần mà là tấm vé thông hành để vào các thị trường lớn. Cụ thể, Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) yêu cầu quy tắc từ sợi trở đi. Trong khi đó Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) yêu cầu từ vải trở đi. Nếu không có vải nội địa, doanh nghiệp Việt không thể hưởng lợi thế thuế ưu đãi từ các hiệp định này.

Xu hướng tiêu dùng xanh cũng đang tạo ra áp lực lớn đối với ngành. Vải sản xuất tại Việt Nam không chỉ cần đạt yêu cầu về chất lượng mà còn phải đáp ứng các tiêu chí “xanh” như sử dụng nguyên liệu tái chế, hạn chế hóa chất độc hại, tiết kiệm nước và năng lượng, giảm phát thải trong toàn bộ quy trình sản xuất. Điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp không chỉ cần có nguồn vải trong nước, mà còn phải kiểm soát được toàn bộ chuỗi sản xuất theo hướng bền vững.

Cuối cùng, khi các nhãn hàng yêu cầu thời gian giao hàng ngắn hơn và giá cả cạnh tranh hơn, việc chủ động nguồn vải trong nước trở thành lợi thế lớn. Điều này giúp doanh nghiệp rút ngắn chu kỳ sản xuất, giảm chi phí vận chuyển, hạn chế rủi ro gián đoạn chuỗi cung ứng và giảm áp lực tài chính so với việc phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu.

Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc kiện toàn chuỗi cung ứng, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Dệt may và Da giày Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Trọng tâm là thúc đẩy đầu tư sản xuất nguyên phụ liệu, khuyến khích sản xuất vải từ sợi trong nước và xây dựng các khu công nghiệp tập trung quy mô lớn.

Về không gian phát triển, chiến lược đã định hướng rõ địa bàn đầu tư: Miền bắc với tỉnh Ninh Bình, Hưng Yên; miền trung gồm Thanh Hóa, Nghệ An, TP Huế, Quảng Ngãi…; miền nam với Tây Ninh... Những khu công nghiệp như Rạng Đông, Bảo Minh, Thủ Thừa hay Trảng Bàng đang được định vị là hạt nhân cho phát triển dệt nhuộm công nghệ cao, có hệ thống xử lý nước thải đồng bộ.

Ngoài ra, để thu hút nhà đầu tư, các chính sách ưu đãi thuế đã được triển khai mạnh mẽ. Bộ Công thương cũng đang xây dựng bộ tiêu chí nội địa hóa, nghiên cứu điều chỉnh chính sách thuế, phí theo hướng khuyến khích sản xuất trong nước, phát triển chuỗi cung ứng nội địa và giảm phát thải khí nhà kính.

Chính sách dù đầy đủ đến đâu cũng cần sự đồng hành của địa phương và quyết tâm từ doanh nghiệp. “Doanh nghiệp phải chủ động tái cấu trúc, đầu tư công nghệ tự động hóa, chuyển đổi xanh, đa dạng hóa sản phẩm. Hiệp hội cần tăng cường kết nối, tham vấn chính sách; địa phương phải nhìn dệt nhuộm không chỉ qua lăng kính rủi ro môi trường mà trong tổng thể chuỗi giá trị”, đại diện Cục Công nghiệp khẳng định.

Không thể phát triển theo mô hình phân tán

Ở góc độ nhà đầu tư, ông Nguyễn Văn Tuấn, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Quản trị Tập đoàn Cát Tường cho rằng, đặc thù khắt khe về môi trường khiến hoạt động nhuộm gia công không thể phát triển theo mô hình phân tán. Thay vào đó, lĩnh vực này đòi hỏi các khu công nghiệp phải được đầu tư hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, chuyên sâu và hiện đại ngay từ đầu.

Việc tập trung hóa khâu nhuộm tại các khu công nghiệp chuyên biệt không chỉ giúp tối ưu chi phí logistics mà còn bảo đảm tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường một cách đồng bộ. Đây cũng là yếu tố then chốt để sản phẩm dệt may Việt Nam đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe từ các thị trường lớn như EU và Mỹ.

Trong xu hướng đó, mô hình khu công nghiệp chuyên biệt cho dệt may đang dần trở thành lời giải cho bài toán tự chủ nguyên liệu. Điển hình là Khu công nghiệp Dệt may Rạng Đông (tỉnh Ninh Bình) được định hướng phát triển theo mô hình khu công nghiệp sinh thái. Với hệ thống xử lý nước thải tập trung công suất lớn, lên tới 110.000m³/ngày đêm, cùng quy trình vận hành theo tiêu chuẩn quốc tế, Khu công nghiệp Dệt may Rạng Đông được kỳ vọng cung cấp hạ tầng chuyên sâu cho các dự án dệt nhuộm quy mô lớn. Mô hình này không chỉ giúp kiểm soát tốt vấn đề môi trường, mà còn tạo nền tảng để hình thành chuỗi cung ứng khép kín, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa của ngành.

Còn theo ông Vũ Đức Giang, VITAS đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp trong chiến lược phát triển đến năm 2030, với trọng tâm là hoàn thiện thể chế, thu hút đầu tư và nâng cao năng lực nội tại của doanh nghiệp. Trong đó, việc thúc đẩy hình thành các khu công nghiệp dệt may chuyên biệt, được đầu tư đồng bộ hệ thống xử lý nước thải tập trung, được xem là chìa khóa tháo gỡ “điểm nghẽn” môi trường là rào cản lớn lâu nay khiến dòng vốn vào lĩnh vực dệt nhuộm chưa thể bứt phá.

Hoạt động xúc tiến đầu tư cũng được đẩy mạnh thông qua các hội thảo, hội chợ trong và ngoài nước nhằm thu hút doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào các khâu thượng nguồn. Đồng thời, VITAS tăng cường kết nối với các tổ chức quốc tế để xây dựng cơ chế hợp tác phù hợp với xu hướng mua hàng toàn cầu và các tiêu chuẩn phát triển bền vững, qua đó mở rộng khả năng tham gia chuỗi cung ứng.

Ở cấp độ doanh nghiệp, đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực thiết kế được xác định là yếu tố then chốt. Việc đẩy mạnh tự động hóa giúp tối ưu chi phí và nâng cao sức cạnh tranh, trong khi đa dạng hóa sản phẩm, rút ngắn thời gian đáp ứng đơn hàng là điều kiện để bắt kịp xu hướng của các thương hiệu thời trang quốc tế. Cùng với đó, công tác truyền thông được chú trọng nhằm nâng cao nhận thức về vai trò của công nghiệp hỗ trợ.

“Tự chủ nguyên liệu không chỉ là lợi ích của riêng doanh nghiệp mà còn là điều kiện để nền kinh tế tận dụng hiệu quả các FTA, từ đó củng cố năng lực cạnh tranh quốc gia trong dài hạn”, ông Giang nhấn mạnh.

Theo Nghị định 205/2025, các dự án công nghiệp hỗ trợ dệt may ưu tiên phát triển có thể được hưởng thuế suất thu nhập doanh nghiệp 10% trong 15 năm, miễn thuế 4 năm đầu và giảm 50% trong chín năm tiếp theo.

Có thể bạn quan tâm

Thách thức với bán lẻ đa trải nghiệm

Chỉ mới tháng 4 năm ngoái, hệ thống bán lẻ đa trải nghiệm Oh!Some xuất hiện tại Việt Nam với nhiều kỳ vọng. Nhưng chỉ sau hơn một năm hoạt động, những ngày gần đây đã xuất hiện thông tin về việc Oh!Some đóng một loạt cửa hàng đặt tại các trung tâm thương mại (TTTM) lớn.

Chi phí vốn hạ nhiệt sẽ tạo dư địa để ngân hàng giảm lãi suất cho vay. Ảnh: NGUYỆT ANH

Dư địa giảm lãi suất cuối năm

Lợi nhuận ngân hàng tiếp tục tăng, biên lãi thuần cải thiện nhưng nợ xấu vẫn nhích lên và bộ đệm dự phòng thu hẹp. Nhiều chuyên gia cho rằng, các ngân hàng đang có thêm dư địa giảm lãi suất cho vay vào cuối năm 2026, dù mức giảm sẽ khó diễn ra trên diện rộng.

Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia giúp các doanh nghiệp đầu tư trang thiết bị hiện đại. Ảnh: NAM ANH

Hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ

Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia dành 50 tỷ đồng hỗ trợ doanh nghiệp vay vốn đầu tư đổi mới công nghệ trong đợt 1 năm 2026. Chính sách hỗ trợ tới 50% lãi suất được kỳ vọng giảm chi phí vốn, thúc đẩy doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư.

Khám, chữa bệnh tại một bệnh viện ngoài công lập. Ảnh: NAM NGUYỄN

Mở rộng kênh vốn cho y tế tư nhân

Nhu cầu đầu tư lớn nhưng khả năng tiếp cận vốn còn hạn chế đang là điểm nghẽn với y tế tư nhân. Mở rộng các kênh vốn, trong đó có cho thuê tài chính là một hướng tháo gỡ.

Cùng với nâng cao hiệu quả kinh tế, Việt Nam cần thúc đẩy mô hình tăng trưởng xanh, bao trùm và bền vững.

Khơi thông nguồn lực để tăng trưởng 2 con số

6 tháng đầu năm, GDP tăng 8,18%; quý III được dự báo có thể tăng 9,5-10%. Với đà tăng trưởng này, mục tiêu GDP cả năm 2026 tăng hơn 9% được đánh giá là khả thi. Tuy nhiên, để duy trì đà tăng trưởng và hướng tới mục tiêu 2 con số, Việt Nam cần khơi thông đồng thời nhiều nguồn lực của nền kinh tế.

Các doanh nghiệp cần kê khai và nộp thuế đầy đủ với cơ quan quản lý. Ảnh: NAM NGUYỄN

Nửa còn thiếu của cải cách môi trường kinh doanh

“Cửa vào” thị trường ngày càng rộng, nhưng “cửa ra” vẫn còn nhiều điểm nghẽn. Khi đặt mục tiêu có 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030, cải cách môi trường kinh doanh phải bảo đảm cả việc thành lập lẫn rút lui khỏi thị trường đều minh bạch, nhanh gọn.

Theo Thông tư 49, Nhà nước chia sẻ rủi ro, đồng thời huy động nguồn lực xã hội cho nghiên cứu khoa học. Ảnh: NAM ANH

Cơ chế tài chính mới mở đường cho công nghệ chiến lược

Thông tư 49/2026/TT-BKHCN mở ra cách tiếp cận mới trong cơ chế tài chính cho khoa học, chuyển từ quản lý đầu vào sang quản lý theo kết quả. Cơ chế này tăng quyền tự chủ, giảm gánh nặng thủ tục và tạo dư địa đầu tư cho các công nghệ chiến lược có độ rủi ro cao.

Kịch tính phút chót

Ngày 21/9 được xem là thời điểm quan trọng của thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam khi được FTSE Russell chuyển từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp. Các cổ phiếu (CP) của Việt Nam sẽ được phân bổ vào các rổ chỉ số toàn cầu của FTSE trong 4 đợt, bắt đầu từ 21/9 là đợt đầu tiên với tỷ trọng phân bổ là 10%.

Lực đẩy mới cho sách

Để sách có thể bán chạy, ngoài yếu tố chất lượng, cần có thêm sức hút. Xu hướng phát triển của mạng xã hội cũng như KOL (cá nhân có ảnh hưởng với công chúng), KOC (người tiêu dùng có tầm ảnh hưởng) đang định hình sức hút mới của sách.

Đối với người dân, giá cả tăng làm giảm sức mua thực tế và buộc nhiều hộ gia đình phải thắt chặt chi tiêu. Ảnh: NGUYỆT ANH

Áp lực giữ lạm phát trong giới hạn mục tiêu

Chỉ còn cách mục tiêu kiểm soát lạm phát 0,05 điểm phần trăm, Việt Nam bước vào chặng cuối năm với áp lực cân bằng giữa kiềm chế giá cả và duy trì đà tăng trưởng. Đây sẽ là phép thử đối với hiệu quả phối hợp giữa chính sách tiền tệ và tài khóa.

Hàn Quốc hiện là nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam. Ảnh: NAM ANH

Tạo xung lực tăng trưởng mới

Thương mại song phương hướng tới 100 tỷ USD, còn vốn đầu tư Hàn Quốc tại Việt Nam đã vượt 100 tỷ USD. Trên nền tảng đó, hai nước đang mở rộng hợp tác sang các lĩnh vực mới, tạo động lực cho quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện.

Tuyên truyền, hướng dẫn hộ kinh doanh nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật tại xã Tam Hưng, Hà Nội.

Gỡ rào cản để hộ kinh doanh mở rộng quy mô

Hộ kinh doanh là lực lượng quan trọng của kinh tế tư nhân, tạo việc làm cho khoảng 10 triệu lao động và giữ vai trò lớn trong lưu thông hàng hóa, dịch vụ. Tuy nhiên, khu vực này đang bộc lộ nhiều dấu hiệu suy giảm, đòi hỏi sớm tháo gỡ rào cản để ổn định và phát triển.

Cuộc cạnh tranh hạ tầng trạm sạc sẽ không chỉ nằm ở số lượng trụ sạc mà còn ở công nghệ và hạ tầng số đi kèm. Đồ họa: ANH QUÂN

Cuộc đua phủ sóng hạ tầng trạm sạc xe điện

Cùng với đà tăng trưởng của thị trường xe điện, hạ tầng trạm sạc tại Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển sôi động với sự tham gia của nhiều doanh nghiệp. Xu hướng này phản ánh quá trình chuyển dịch sang giao thông xanh đang được thúc đẩy đồng thời từ chính sách và thị trường.

Thanh toán điện tử là xu hướng tất yếu trong quá trình hiện đại hóa giao thông. Ảnh: NGUYỆT ANH

Rà soát thu phí thanh toán điện tử giao thông

Việc các nhà cung cấp dịch vụ thanh toán điện tử giao thông thông báo mức phí 6.600 đồng/tháng đối với khách hàng cá nhân và 66.000 đồng/tháng đối với doanh nghiệp đang nhận được sự quan tâm của người sử dụng. Trước những băn khoăn về cơ sở, mục đích và mức độ phù hợp của khoản thu, cơ quan quản lý đã yêu cầu rà soát, bảo đảm hoạt động thu phí đúng quy định, công khai, minh bạch và hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và doanh nghiệp.

Ở nhiều vùng sâu, vùng xa, người dân vẫn quen với các giao dịch bằng tiền mặt.

Ngoại lệ của tiền mặt

Cho phép doanh nghiệp trả lương bằng tiền mặt tại vùng khó khăn là một sự điều chỉnh cần thiết khi hạ tầng ngân hàng chưa theo kịp đời sống. Tuy nhiên, ngoại lệ này chỉ thật sự hợp lý nếu vừa bảo vệ được quyền lợi của người lao động, vừa giúp doanh nghiệp chứng minh chi phí hợp pháp, đồng thời không tạo thêm khoảng trống để kê khống, trốn thuế.

“Tay to” cá nhân

Trước đây, khi nhắc đến những nhà đầu tư (NĐT) lớn trên thị trường chứng khoán (TTCK), hay còn gọi là “tay to”, nhiều người sẽ nghĩ đến các quỹ ngoại, doanh nghiệp lớn, khối tự doanh của công ty chứng khoán… Còn NĐT cá nhân thường là NĐT nhỏ lẻ. Nhưng khoảng nửa thập kỷ gần đây, đã xuất hiện những NĐT cá nhân có quy mô giao dịch không thua gì các “tay to”.

Dự án mở rộng đường cao tốc đoạn Thành phố Hồ Chí Minh - Long Thành đang được đẩy nhanh tiến độ. Ảnh: VIẾT DŨNG

Hạ tầng mở đường cho tăng trưởng

Khi những tuyến đường, sân bay và công trình kết nối lần lượt về đích, kỳ vọng lớn hơn không chỉ là thêm những công trình mới mà là mở rộng không gian kinh tế, giảm chi phí và tạo động lực phát triển.

Du lịch và KOL, KOC

Các KOL (cá nhân có ảnh hưởng với công chúng) và KOC (người tiêu dùng có tầm ảnh hưởng) đang hiện diện ngày một nhiều hơn trong các lĩnh vực, mà du lịch là một minh chứng rõ nét.

Cá ngừ đóng hộp và các sản phẩm đông lạnh tiêu chuẩn chịu nhiều áp lực cạnh tranh. Ảnh: NAM ANH

Xuất khẩu chật vật giữ đơn hàng

Xuất khẩu tiếp tục lập kỷ lục, nhưng doanh nghiệp đang đứng trước sức ép ngày càng lớn từ chính sách thuế mới của Mỹ. Bài toán giữ đơn hàng và duy trì sức cạnh tranh ngày càng khó khăn.

Việt Nam cần đồng thời giải quyết nhiều bài toán để BESS thật sự trở thành một thị trường.

Cần cú huých cho thị trường pin lưu trữ

Sự phát triển nhanh của năng lượng tái tạo (NLTT) đang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải phát triển thị trường pin lưu trữ năng lượng (BESS) - công nghệ cho phép tích trữ điện khi nguồn dồi dào và phát lại khi nhu cầu tăng cao, qua đó cân bằng cung - cầu và nâng cao độ ổn định của hệ thống điện.

Một buổi bán hàng trực tuyến của doanh nghiệp. Ảnh: NAM ANH

Bán hàng trực tuyến đổi cách giữ khách

Sức mua trực tuyến vẫn tăng nhưng tốc độ đã chậm lại. Doanh nghiệp chuyển từ cạnh tranh bằng giá sang tạo giá trị, xây dựng thương hiệu và thấu hiểu khách hàng bằng dữ liệu.

Câu chuyện nâng hạng thị trường tiếp tục là chất xúc tác trung hạn quan trọng. Ảnh: NGUYỆT ANH

Thị trường giằng co, cơ hội vẫn hiện diện

Thị trường chứng khoán đang bước vào giai đoạn giằng co khi thanh khoản suy yếu và chi phí vốn tiếp tục gây sức ép. Dù vậy, định giá hấp dẫn, tăng trưởng lợi nhuận doanh nghiệp và câu chuyện nâng hạng vẫn được xem là những động lực đáng chú ý cho giai đoạn tới.

Khi cổ đông lớn lãi lớn

Hơn một tháng trước, khi VN-Index giảm xuống dưới ngưỡng 1.700 điểm, đồng loạt cổ đông lớn, lãnh đạo doanh nghiệp (DN) đăng ký mua vào cổ phiếu (CP). Và khi VN-Index tăng trở lại mốc 1.800 điểm trong phiên giao dịch hôm qua 26/8, rất nhiều người đã lãi lớn. Nhưng trong lần gom mua này còn có nhiều điểm đáng nói chứ không chỉ riêng vấn đề lợi nhuận.

Tạo sức hút cho ẩm thực dân gian

Ẩm thực dân gian là một phân khúc giàu tiềm năng trong lĩnh vực kinh doanh ẩm thực. Việt Nam có một nền ẩm thực phong phú, đặc sắc, trong đó nhiều món ăn được chế biến từ nguyên liệu thuần tự nhiên. Điều này lại đang phù hợp với xu hướng "eat clean" - tức ăn sạch, ăn thuần tự nhiên đang được nhiều người lựa chọn hiện nay. Tuy nhiên, khi lựa chọn ẩm thực dân gian, người kinh doanh không thể chỉ dừng lại ở bài toán kinh tế.

Thị trường vàng cần tiến thêm một bước từ truy vết giao dịch sang truy xuất sản phẩm.

Thị trường vàng cần sự cân bằng bền vững

Sau nhiều năm, khoảng cách giá vàng trong nước và thế giới đã thu hẹp về mức dưới 5 triệu đồng/lượng. Tuy nhiên, chưa thể chỉ dựa vào mức chênh lệch thu hẹp để kết luận thị trường đã hoàn toàn lành mạnh. Một trạng thái thị trường cân bằng bền vững còn là vận hành sát hơn với giá trị thật và giảm bớt tác động lên các cân đối lớn của nền kinh tế.

Tận dụng các ưu đãi từ FTA giúp doanh nghiệp duy trì đơn hàng và sức cạnh tranh tại các thị trường xuất khẩu. Ảnh: NAM ANH

Mở rộng không gian phát triển từ hội nhập

Việt Nam đã ký kết và thực thi 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) với hơn 60 đối tác, song chỉ 21,6% số doanh nghiệp cho biết hiểu rõ hoặc rất rõ về các FTA. Điều này cho thấy, dư địa nâng cao hiệu quả tận dụng và thực thi FTA còn lớn.