Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý II ước đạt 8,39%. Tính chung 6 tháng, GDP tăng 8,18% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2025 tăng 7,63%).
Động lực truyền thống tiếp tục "gánh" tăng trưởng
Bà Nguyễn Thị Mai Hạnh, Trưởng ban Hệ thống Tài khoản quốc gia, Cục Thống kê cho rằng, nền kinh tế tiếp tục phục hồi, duy trì được nhịp tăng trưởng tương đối ổn định. Điều đó phản ánh những nỗ lực lớn trong điều hành và tinh thần vượt khó khăn của cả nền kinh tế. Các động lực tăng trưởng truyền thống vẫn đang được duy trì và phát huy vai trò nền tảng, bao gồm đầu tư, sản xuất, xuất khẩu, tiêu dùng tạo nên một trục vận hành chính của nền kinh tế.
Trong quý II, đầu tư công trở thành động lực chính mang tính dẫn dắt với tiến độ giải ngân được cải thiện so với cùng kỳ. Đặc biệt ở các dự án hạ tầng quy mô lớn, có tính lan tỏa cao như dự án đường cao tốc Hòa Bình - Mộc Châu (đoạn qua Hòa Bình giải ngân đạt hơn 76%). Việc đẩy mạnh giải ngân đầu tư công không chỉ trực tiếp đóng góp vào tăng trưởng ngành xây dựng và các ngành liên quan, mà còn tạo hiệu ứng “kéo” đối với đầu tư khu vực tư nhân.
Sản xuất và xuất khẩu tiếp tục khẳng định vai trò trụ cột, phản ánh sức chống chịu và năng lực thích ứng của nền kinh tế trong bối cảnh cầu thế giới phục hồi chậm và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo duy trì đà tăng trưởng tốt kể từ quý I. Hoạt động xuất khẩu tiếp tục sôi động, tạo điểm tựa vững chắc cho sản xuất trong nước.
Sức cầu trong nước có xu hướng cải thiện, được thúc đẩy bởi yếu tố mùa vụ và sự gia tăng nhu cầu đối với các hoạt động dịch vụ, đặc biệt là du lịch, lưu trú và giải trí. Cơ cấu tiêu dùng đang chuyển dịch theo hướng gia tăng tỷ trọng dịch vụ và các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, phản ánh sự thay đổi trong hành vi tiêu dùng và góp phần thúc đẩy quá trình tái cơ cấu nền kinh tế theo chiều sâu.
Mặc dù đạt nhiều kết quả tích cực, tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm vẫn thấp hơn khoảng 1,52 điểm phần trăm so với kịch bản cần thiết để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng 10% của cả năm. Theo TS Lê Duy Bình, Giám đốc Công ty CP Tư vấn về Quản lý kinh tế (Economica Việt Nam), xung đột và bất ổn địa chính trị trên thế giới đã đẩy giá nguyên, nhiên, vật liệu tăng cao, đồng thời làm gián đoạn nguồn cung một số mặt hàng đầu vào, đặc biệt là xăng dầu. Hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Để ứng phó với rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng, nhiều doanh nghiệp đã chủ động tăng dự trữ nguyên, nhiên, vật liệu, năng lượng đồng thời đẩy mạnh đầu tư máy móc, thiết bị phục vụ chu kỳ sản xuất mới. Sự chủ động lan rộng lại khiến nhu cầu nhập khẩu tư liệu sản xuất tăng mạnh, làm thu hẹp thặng dư thương mại và ảnh hưởng nhất định đến tăng trưởng GDP.
Thúc đẩy mạnh mẽ các động lực tăng trưởng mới
Bước sang 6 tháng cuối năm, bối cảnh kinh tế thế giới vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất định. Đặc biệt là xu hướng gia tăng bảo hộ thương mại, biến động địa chính trị, chính sách tiền tệ của các nền kinh tế lớn và tốc độ phục hồi chưa đồng đều của tổng cầu thế giới. Trong nước, sau giai đoạn phục hồi, nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn gặp khó khăn về dòng tiền, khả năng tiếp cận tín dụng, chi phí logistics và biến động của thị trường đầu ra. Mặc dù mặt bằng lãi suất đã giảm so với giai đoạn trước, khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế chưa thật sự cải thiện, phản ánh tâm lý thận trọng trong mở rộng đầu tư sản xuất, kinh doanh.
Trong bối cảnh đó, áp lực về điều hành kinh tế vĩ mô, áp lực đối với tỷ giá, lãi suất và lạm phát vẫn hiện hữu. Biến động của đồng USD, xu hướng điều hành chính sách tiền tệ của các ngân hàng trung ương lớn cùng với những biến động của giá năng lượng và nguyên liệu trên thị trường thế giới có thể tạo sức ép lên tỷ giá và mặt bằng giá trong nước. Đồng thời, việc tiếp tục điều chỉnh giá một số hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước quản lý theo lộ trình cũng có thể làm thu hẹp dư địa điều hành chính sách tiền tệ trong những tháng cuối năm.
Tuy nhiên, theo TS Lê Duy Bình, xu hướng phục hồi của nền kinh tế đang ngày càng rõ nét khi tháng sau tăng trưởng cao hơn tháng trước, quý sau cao hơn quý trước, trong khi các động lực tăng trưởng truyền thống tiếp tục được củng cố. Quyết tâm của Chính phủ trong đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công cùng với sự tham gia ngày càng mạnh mẽ của khu vực kinh tế tư nhân vào các dự án hạ tầng và công trình trọng điểm quốc gia sẽ tạo thêm dư địa cho tăng trưởng. Nếu tiến độ giải ngân được đẩy nhanh, dòng vốn đầu tư sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa tới nhiều ngành, lĩnh vực, qua đó thúc đẩy tăng trưởng trong nửa cuối năm.
Môi trường kinh tế vĩ mô ổn định sẽ giúp Việt Nam tiếp tục thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Việc gia tăng vốn FDI giải ngân không chỉ bổ sung nguồn lực cho nền kinh tế mà còn góp phần duy trì đà tăng trưởng của khu vực sản xuất và xuất khẩu.
Theo Cục Thống kê, để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng 10% của cả năm 2026, nền kinh tế cần đạt mức tăng trưởng 11,7% trong 6 tháng cuối năm.
Theo các chuyên gia, nếu căng thẳng địa chính trị trên thế giới dần hạ nhiệt, nhu cầu đối với hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu của Việt Nam có thể phục hồi, đồng thời chi phí logistics, áp lực lạm phát và tỷ giá cũng giảm bớt. Những yếu tố này sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và tăng trưởng kinh tế trong những tháng cuối năm.
Trong khi đó, tiêu dùng trong nước vẫn là động lực còn nhiều dư địa bứt phá. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 6 tháng đầu năm tăng ở mức hai con số cho thấy, sức mua của nền kinh tế đang cải thiện. Trong nửa cuối năm, tiêu dùng được kỳ vọng tiếp tục khởi sắc nhờ mùa cao điểm mua sắm, các kỳ nghỉ lễ lớn như Quốc khánh 2/9, Giáng sinh và Tết Nguyên đán, cùng tác động từ các chính sách nâng thu nhập khả dụng của người dân, người lao động và đội ngũ cán bộ, công chức.
"Nếu các động lực về đầu tư, FDI, xuất khẩu và tiêu dùng cùng phát huy hiệu quả, đây sẽ là nền tảng quan trọng để kinh tế Việt Nam bứt tốc trong những tháng cuối năm và tiến gần hơn mục tiêu tăng trưởng 10% của cả năm", TS Lê Duy Bình nhận định.
Đại diện Cục Thống kê cho rằng, cần tiếp tục thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới như khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số và chuyển đổi số. Những động lực này đang từng bước thâm nhập sâu hơn vào các ngành công nghiệp và dịch vụ có hàm lượng công nghệ cao. Tuy nhiên, ở giai đoạn hiện nay, các động lực mới chủ yếu vẫn đóng vai trò hỗ trợ, chưa thật sự trở thành lực kéo chính của nền kinh tế.
Để các động lực tăng trưởng mới phát huy hiệu quả rõ nét hơn, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Đồng thời, đẩy mạnh khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế số; phát triển công nghiệp hỗ trợ và tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó, cần đẩy nhanh quá trình chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, phát triển đồng bộ hạ tầng và huy động hiệu quả các nguồn lực đầu tư.
“Đây sẽ là nền tảng để các động lực tăng trưởng mới từng bước trở thành lực kéo quan trọng, góp phần nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh và tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh, bền vững trong trung và dài hạn, đồng thời tạo dư địa để kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao trong những năm tiếp theo”, bà Nguyễn Thị Mai Hạnh tin tưởng.