Để đồng bằng sông Cửu Long sống chung với biến đổi khí hậu

Đã có những thiệt hại

Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về kịch bản BĐKH tại ĐBSCL cho thấy: Nếu nước biển dâng thêm 1m thì khoảng 70% diện tích đất vùng này bị xâm nhập mặn, mất khoảng hai triệu ha đất trồng lúa. Nhiều địa phương sẽ bị chìm trong nước. Thời gian úng ngập có thể kéo dài từ 4-5 tháng, 38% diện tích đồng bằng bị nhấn chìm, 90% diện tích đồng bằng có thể bị nhiễm mặn.

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học Viện Nghiên cứu quản lý biển và hải đảo, tại các tỉnh ven biển và hải đảo khu vực ĐBSCL, BĐKH, đặc biệt là nước biển dâng có thể làm gia tăng độ cao sóng ven bờ, tác động tới cán cân bùn cát và làm gia tăng sói lở, gây suy thoái mạnh, thâm chí các rừng ngập mặn ven biển sẽ bị biến mất. Mức nước biển càng dâng cao thì lũ lụt do thủy triều, nước dâng bão và lũ thượng nguồn gây ra càng lớn. Đây là mối đe dọa lớn nhất đối với các vùng nông nghiệp ven biển, đất thấp, đất trũng. Hiện tượng “nước vật” do mực nước dâng cao ở hạ nguồn cũng làm gia tăng ngập lụt do lũ ở thượng nguồn. Lũ về sớm, rút chậm, thời gian ngập úng cao hơn và mực nước lũ cao hơn…

Tác động của BĐKH mà cụ thể là biến số về thời tiết bao gồm nhiệt độ, không khí, lượng mưa… cũng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng lúa gạo và vùng nuôi trồng thủy sản ở ĐBSCL.

Theo các nhà khoa học Trường Đại học Cần Thơ, sự thay đổi của các biến số thời tiết sẽ gây ra thiệt hại về sản lượng lương thực khoảng15% ở các vùng cần tưới tiêu và 24% ở các vùng ngập mặn. Đối với nghề nuôi cá tra thâm canh nước ngọt và nuôi tôm ở vùng ven biển mặc dù tác hại không rõ rệt bằng nghề trồng lúa nhưng cũng tác động gián tiếp. Mức tăng trưởng của cá thấp vào thời điểm nhiệt độ cực thấp tháng Mười Hai và tháng Một, cũng như mức tăng trưởng thấp và chết của tôm lúc nhiệt độ cực nóng và lượng mưa bất thường vào mùa khô.

Nhóm các nhà khoa học Trung tâm Bảo tồn sinh vật biển và Phát triển cộng đồng đề xuất những giải pháp thích ứng với BĐKH trong hoạt động nuôi trrồng thủy sản, về các giải pháp kỹ thuật như: gia cố các đầm nuôi trong giới hạn có thể; đa dạng sản xuất cải tiến kỹ thuật và công nghệ nuôi trồng thủy sản phù hợp giới hạn chịu mặn, nhiệt độ của cá tra và tôm sú; đầu tư cơ sở hạ tầng, các công trình thủy lợi có thể đưa nước ngọt vào khu vực đầm nuôi cá tra trong khu vực bị nhiễm mặn; trồng và bảo vệ rừng ngập mặn, khôi phục hệ sinh thái; hỗ trợ tăng cường năng lực thích ứng và giảm thiểu thông qua mô hình quản lý và phòng chống thiên tai.

Về giải pháp chính sách, nên có chính sách hỗ trợ gia tăng giá trị sản phẩm; tăng khả năng thích ứng thông qua các mô hình, đồng quản lý nuôi trồng thủy sản quy mô nhỏ, xây dựng năng lực và quy chế quản lý, khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản bền vững; lập kế hoạch BĐKH liên ngành và thực hiện kế hoạch hành động thích ứng và giảm thiểu BĐKH…

Chia sẻ nguồn nước sông Mê Kông

Vấn đề hợp tác phát triển các nước tiểu vùng sông Mê Kông đối với việc ứng phó với BĐKH cũng được nhiều diễn giả đề cập. Theo Ths Nguyễn Thị Hoàn, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, BĐKH đã đặt ra cho Việt Nam cũng như các nước tiểu vùng sông Mê Kông nhiều vấn đề cần nỗ lực quan tâm giải quyết chung, mà trước hết là vấn đề bảo vệ nguồn nước và đa dạng sinh học. Việc xây dựng các đập thủy điện tại thượng nguồn và hạ lưu sông Mê Kông đã gây nên những vấn đề nghiêm trọng về môi trường và các đập thủy điện cũng đang gây nhiều tranh cãi.

Ths Nguyễn Thị Hoàn cho biết: Trung Quốc kiểm soát đến 16% lượng nước của sông Mê Kông và đang xây dựng tám nhà máy thủy điện công suất lớn với một hệ thống các đập lớn, nhỏ. Bốn nước Campuchia, Lào, Thái Lan, Việt Nam cũng đang có 11 dự án xây đập thủy điện. Các công trình thủy điện tuy phục vụ nhu cầu phát triển nhưng cũng gây ra những tác hại cho môi trường và đa dạng sinh vật của dòng Mê Kông, ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của người dân sống ven sông. Và nằm ở hạ nguồn, nơi dòng Mê Kông đổ ra biển, Việt Nam là nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Các đập thủy điện sẽ chặn phù sa xuống ĐBSCL, ảnh hưởng đến nguồn cá và sản xuất nông nghiệp. 17 triệu người Việt Nam sẽ phải trực tiếp chịu các hệ quả của môi trường mà các dự án năng lượng gây ra. Không chỉ có nông dân Việt Nam, nông dân các nước hạ nguồn như Lào và Campuchia cũng đang chịu nhiều thiệt hại của tác động môi trường liên quan đến dòng Mê Kông.

Chính vì vậy, các nước ven sông phải cùng nhau nổ lực phát triển và bảo vệ nguồn tài nguyên nước. Để phát triển nhà máy thủy điện một cách bền vững, vấn đề đặt ra là phải hạn chế ảnh hưởng tiêu cực và duy trì được môi trường sinh thái.

Các nước có dòng Mê Kông chảy qua cần phải ký kết một thỏa thuận chung về việc chia sẻ nguồn nước của sông. Quản lý nguồn nước phải có sự phối hợp, chia sẻ và minh bạch trong thông tin; theo dõi lượng mưa, dòng chảy và chất lượng nước là điều cần thiết để hợp tác thực hiện và cần phải thảo luận thông tin về mùa khô, cơ chế hoạt động của các hồ chứa nước, trong trường hợp khẩn cấp hay khi có thay đổi trong vận hành các đập so với kế hoach cũng phải chia sẽ thông tin kịp thời. Việc vận động Trung Quốc và Mi-an-ma tự nguyện tham gia Ủy ban sông Mê Kông là việc rất cần thiết và cực kỳ quan trọng. Một giải pháp song phương đối với các vấn đề sông Mê Kông là điều khó đạt được vì có 6 nước sử dụng chung sông Mê Kông.

Nhiều đoạn đê biển ở Kiên Giang đã biến thành khu dân cư.

Sống chung với BĐKH

Trong số gần 40 tham luận được gửi đến hội thảo, vấn đề được đề cập nhiều nhất là làm thế nào để ứng phó với biến đổi khí hậu và sống chung với biến đổi khí hậu. Tham luận của Ths Trần Thanh Tâm về “Hạn chế tác động của biến đổi khí hậu ở ĐBSCL: Giải pháp từ cây dừa nước” được nhiều đại biểu quan tâm.

Theo Ths Trần Thanh Tâm, sử dụng dừa nước như là một loại vật liệu sống tự nhiên trong việc kiến tạo hành lang “xanh” ngăn chống việc xâm thực, sạt lở các vùng đất ven sông, rạch, hoặc bờ biển bùn có thể giúp hình thành các vùng “cọc” tự nhiên trong quá trình phát triển hệ thống đê biển.

Ths Kỷ Quang Vinh, Sở Tài nguyên và Môi trường Cần Thơ đưa ra ba đề xuất rất cụ thể để hơn 17 triệu dân ĐBSCL sống thích ứng với biến đổi khí hậu. Thứ nhất, xây dựng đê bao biển và đê sông chống xâm nhập mặn có khả năng điều tiết nước, để bảo đảm cho dân cư sống tại chỗ với rất ích thay đổi. Thứ hai, nâng nền khu dân cư cao hơn mức nước ngập cao nhất và chuyển đổi nghề nghiệp, cây trồng, vật nuôi, tạo nguồn sống mới ổn định cho tất cả cư dân. Thứ ba, di dời toàn bộ dân cư đến vùng cao hơn như: Tây nguyên và Đông nam bộ. Ths Kỷ Quang Vinh đề nghị, cần có một nghiên cứu ở quy mô vùng để tính toán chi phí và lợi ích của ba đề xuất trên. Kết quả nghiên cứu nhằm xác định đề xuất nào là có lợi nhiều nhất kể cả về kinh tế và môi trường, sinh thái.

PGS.TS.NGND Huỳnh Văn Hoàng, Viện Khoa học và công nghệ Phương Nam đưa ra vấn đề “Bảo vệ ĐBSCL do BĐKH”. Diễn giả kiến nghị: Trong công tác đối ngoại, cần có chiến dịch ngoại giao mạnh mẽ kêu gọi Liên hiệp quốc, các nước nhất là các nước giàu có tổ chức quốc tế xây dựng chiến lược cụ thể chống BĐKH; kêu gọi, gây áp lực quốc tế để tất cả các nước đều giảm thiểu khí thải; đề nghị các nước giàu có trách nhiệm giúp đỡ, hỗ trợ Việt Nam về tài chính, công nghệ ứng phó có hiệu quả. Đối với chúng ta, tuyên truyền sâu rộng nâng cao nhận thức cho nhân dân, nhất là tại các khu-cụm công nghiệp. Chính phủ cần thành lập Ban tổ chức ứng phó với BĐKH ở cấp cao nhất; thành lập một viện có nhiều phòng thí nghiệm chuyên đề mạnh và hợp tác với các viện của các bộ để quan trắc, giám sát và nghiên cứu những ảnh hưởng. Nghiên cứu, rà soát lại tất cả quy hoạch; thúc đẩy việc trồng và bảo vệ rừng; có chính sách khuyến khích sản xuất và sử dụng năng lượng sạch…

Bài và ảnh: VIỆT TIẾN

Có thể bạn quan tâm

Nền tảng kết nối đổi mới sáng tạo ISC kết nối mạng lưới các trung tâm đổi mới sáng tạo với doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học, chuyên gia, doanh nghiệp công nghệ, startup, quỹ đầu tư và các đối tác trong nước, quốc tế. (Ảnh QUANG HUY)

Mở rộng không gian kết nối công nghệ và doanh nghiệp

Ngày 5/10, tại Hà Nội, trong khuôn khổ Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia năm 2026 đã diễn ra Hội thảo “Đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực Trí tuệ nhân tạo (AI) và Tự động hóa trong kỷ nguyên số”. Chương trình do Trung tâm Hỗ trợ Đổi mới sáng tạo, Cục Đổi mới Sáng tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức.

Hoạt động nghiên cứu tại phòng thí nghiệm Trường đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội. (Ảnh: DIỆP NGỌC)

Nền tảng cho mô hình tăng trưởng mới

Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam chỉ rõ, về kinh tế, xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Ông Võ Xuân Hoài, Phó Giám đốc Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia (NIC) phát biểu tại lễ trao giải. (Ảnh: MH)

Trao giải Better Choice Awards 2026 vinh danh sản phẩm, giải pháp, thương hiệu đổi mới sáng tạo

Tối 4/10, tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Hà Nội, Gala trao giải Better Choice Awards 2026 đã vinh danh 45 hạng mục thuộc 4 trục giải thưởng, từ những giải pháp trí tuệ nhân tạo do người Việt làm chủ, những doanh nghiệp kiến tạo nền tảng quốc gia, tới các sản phẩm công nghệ và mẫu xe thay đổi đời sống người tiêu dùng.

Các diễn giả chia sẻ tại phiên tọa đàm trong khuôn khổ Diễn đàn. (Ảnh: Hà Linh)

Tạo cơ chế thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới sáng tạo

Chiều 4/10, trong khuôn khổ Ngày hội Đổi mới sáng tạo Quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức Diễn đàn Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia 2026 nhằm tăng cường kết nối giữa Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và Trường đại học trong nghiên cứu, ứng dụng và thương mại hóa công nghệ.

Ông Nguyễn Võ Hưng, Phó Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ đổi mới sáng tạo chia sẻ tại Diễn đàn. (Ảnh: Hà Linh)

Lựa chọn hướng đổi mới sáng tạo cho Việt Nam

Tại Diễn đàn Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo 2026 diễn ra chiều 4/10, một vấn đề được nhiều doanh nghiệp, nhà quản lý quan tâm là phân tích các xu hướng công nghệ mới và cơ hội cho Việt Nam. Các phân tích cho rằng, việc lựa chọn hướng đổi mới sáng tạo cần phù hợp với nguồn lực, nhu cầu và có chính sách hỗ trợ tương ứng.

Trao giải Nhất cho đội Trường cao đẳng FPT Polytechnic Quy Nhơn. (Ảnh: PHÚC THẮNG)

Cổ vũ khát vọng tiên phong cùng AI và chuyển đổi số vì cộng đồng

Sau hai ngày hoạt động sôi nổi, đầy cảm hứng và tràn đầy nhiệt huyết, sáng 4/10, Trại sáng tạo số cùng Cuộc thi Gia Lai Youth HackAIthon năm 2026 đã chính thức khép lại, để lại dấu ấn đẹp trong lòng hàng trăm bạn trẻ, chuyên gia, doanh nghiệp và những người tận tâm với sự nghiệp giáo dục, đổi mới sáng tạo tại Gia Lai.

Thử nghiệm phương tiện bay không người lái (UAV) phát triển kinh tế không gian tầm thấp tại Điện Biên. (Ảnh: MST)

Việt Nam mở không gian tăng trưởng mới từ kinh tế tầm thấp

Ba khu thử nghiệm bay cấp quốc gia, mục tiêu nội địa hóa UAV trên 85% và đóng góp khoảng 1,5% GDP vào năm 2045 là những dấu mốc được đặt ra để phát triển kinh tế không gian tầm thấp, gắn làm chủ công nghệ với hình thành thị trường sản phẩm, dịch vụ mới.

Các thí sinh dự thi vòng chung kết Cuộc thi Gia Lai Youth HackAIthon năm 2026.

Tuổi trẻ Gia Lai tiên phong chuyển đổi số vì cộng đồng

Sáng 3/10, Ban Thường vụ Tỉnh đoàn Gia Lai phối hợp Trường đại học FPT cơ sở Quy Nhơn và Trường cao đẳng FPT Polytechnic Quy Nhơn khai mạc Trại sáng tạo số và Cuộc thi Gia Lai Youth HackAIthon năm 2026 với chủ đề “Thanh niên Gia Lai sáng tạo cùng AI - Chuyển đổi số vì cộng đồng”.

Diễn đàn công nghệ số Việt Nam-Nhật Bản 2026 với chủ đề “Cộng hưởng số Việt-Nhật: Đồng sáng tạo tương lai với trí tuệ nhân tạo và công nghệ chuyên sâu”. (Ảnh: Ban tổ chức)

Mở rộng hợp tác công nghệ Việt Nam-Nhật Bản theo hướng đồng sáng tạo

Từ nền tảng hợp tác phần mềm hơn hai thập kỷ, Việt Nam và Nhật Bản đang mở rộng sang nghiên cứu, phát triển công nghệ chuyên sâu và cùng đưa sản phẩm ra thị trường. Tại Diễn đàn công nghệ số Việt Nam-Nhật Bản 2026 ngày 2/10 tại Tokyo, hai bên nhấn mạnh chuyển từ cung ứng dịch vụ sang cùng giải quyết bài toán, tạo sản phẩm.