Con đường duy nhất để tiến lên phía trước

Biến đổi khí hậu, tăng trưởng dân số và diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp do quá trình đô thị hóa là những nguyên nhân chính dẫn đến sự sụt giảm sản lượng nông nghiệp trong những năm gần đây. Do đó, ngành nông nghiệp đã tìm kiếm các giải pháp tối ưu để kịp thời xử lý những vấn đề trên nhằm phát triển một nền nông nghiệp xanh bền vững, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và góp phần ổn định an ninh lương thực thế giới. Trong đó, công nghệ sinh học được xem là một chiến lược quan trọng.
Nhiều trang trại sản xuất rau tại Lâm Đồng ứng dụng công nghệ sinh học trong quản lý dịch hại mang lại hiệu quả cao. Ảnh: BẢO VĂN
Nhiều trang trại sản xuất rau tại Lâm Đồng ứng dụng công nghệ sinh học trong quản lý dịch hại mang lại hiệu quả cao. Ảnh: BẢO VĂN

Bệ đỡ để phát triển bền vững

Trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghệ sinh học có nhiều đóng góp trong việc cải thiện và lai tạo giống cây trồng, góp phần giúp xây dựng nên nhiều kỹ thuật canh tác hiệu quả hơn, như: ứng dụng kỹ thuật chọn dòng tế bào biến dị soma, nhân giống trong ống nghiệm, lai vô tính, sản xuất cây đơn bội; ứng dụng trong các phương pháp canh tác mới như phương pháp màng dinh dưỡng và hệ thống thủy canh; ứng dụng công nghệ trong kỹ thuật chăn nuôi như cấy chuyển phôi, tạo ra chế phẩm phòng bệnh cho vật nuôi,...

Ngành công nghệ sinh học đã đưa công nghệ lên men vào lĩnh vực sản xuất chế biến lương thực, thực phẩm và trở thành một trong những lĩnh vực quan trọng nhất cho đến thời điểm hiện tại. Nhờ ứng dụng công nghệ sinh học, con người có thể chọn được những chủng vi sinh vật có khả năng lên men tốt, hỗ trợ đắc lực trong công nghệ sản xuất nước lên men, sữa, thực phẩm chức năng protein, chất làm tăng hương vị, chế biến rau củ quả,...

Nhờ ứng dụng công nghệ sinh học, thời gian qua chúng ta đã sản xuất quy mô công nghiệp giống cây ăn quả có múi sạch bệnh và giống dứa Cayen chất lượng cao, năng lực sản xuất cây giống cây ăn quả có múi sạch bệnh trong cả nước tăng lên 600.000 cây/năm và với dứa nhân được 10 triệu chồi/năm.

Trong những năm gần đây, các trung tâm nghiên cứu hàng đầu trong nước như Viện Khoa học nông nghiệp miền nam, Viện Cây ăn quả miền nam, Viện Lúa gạo đồng bằng sông Cửu Long và Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 2 đã có những đóng góp to lớn trong việc nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt là ở phía nam- khu vực phát triển nông nghiệp quan trọng của đất nước.

Đồng bằng sông Cửu Long là khu vực sản xuất lúa gạo lớn nhất của đất nước, vì vậy việc nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất lúa gạo được coi là yếu tố quyết định, giúp cải thiện các giống lúa, tăng sản lượng cũng như chất lượng gạo để phục vụ cho mục tiêu xuất khẩu, cũng như đối phó với tình hình biến đổi khí hậu.

Viện Lúa gạo đồng bằng sông Cửu Long đã phát hiện ra một giống lúa có năng suất cao và chất lượng tốt. Viện cũng đã tìm thấy 30 giống lúa có chất lượng đầy hứa hẹn cho phép Viện phát triển với quy mô lớn sau khi kiểm tra thử nghiệm năng suất. Bên cạnh đó, Viện cũng đã nghiên cứu thành công công nghệ biến đổi gen để tạo ra một giống lúa có hàm lượng dinh dưỡng cao và có khả năng chịu đựng hạn hán.

Viện Cây ăn quả miền nam thì tập trung vào việc nghiên cứu công nghệ sinh học để phát triển các loài cây ăn quả đặc biệt có giá trị kinh tế cao. Công nghệ nổi bật nhất của Viện là nhân giống cây có múi không bệnh với kỹ thuật ghép "shoot-tip". Sử dụng kỹ thuật này, các nhà khoa học đã tạo ra những giống cây có múi có khả năng chống chọi với một số bệnh do virus gây ra. Cho đến nay, Viện đã chuyển giao nhiều giống cây trồng không bệnh có năng suất cao cho nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long, giúp họ chủ động trong việc canh tác và thu hoạch.

Trong chăn nuôi, ứng dụng công nghệ sinh học để sản xuất tinh, phôi tươi và đông lạnh ở quy mô xí nghiệp nhỏ tự động hóa đã góp phần tăng nhanh số lượng đàn bò sữa cả nước từ 29.500 con năm 1999 lên tổng đàn bò sữa gần 375.000 con năm 2022. Nhờ ứng dụng công nghệ vi sinh mà các vaccine như: vaccine tụ huyết trùng trâu bò, vaccine dịch tả vịt và Parovirus lợn; các loại phân bón vi sinh và phân hữu cơ sinh học cũng được phát triển.

Trong lâm nghiệp, công nghệ sinh học đã cho phép sản xuất cây giống bạch đàn, keo... bằng nuôi cấy mô để trồng trên 10.000ha rừng và nhân giống vô tính cây phi lao trong dung dịch.

Định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 22/3/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng); Kế hoạch tổng thể phát triển công nghiệp sinh học đến năm 2030 (Quyết định số 553/QĐ-TTg ngày 21/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ);…đã chỉ ra định hướng phát triển tổng thể công nghệ sinh học thông qua việc tập trung nguồn lực đầu tư phát triển công nghiệp sinh học, đổi mới cơ chế, chính sách, tranh thủ hợp tác và hỗ trợ quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp đầu tư và sản xuất sản phẩm từ công nghệ sinh học trong các ngành, lĩnh vực và trở thành một ngành kinh tế-kỹ thuật quan trọng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phục vụ an sinh xã hội, môi trường bền vững.

EVFTA - cú huých cho công nghệ sinh học

Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam và Liên minh châu Âu-EU (EVFTA) có hiệu lực từ ngày 1/8/2020 được đánh giá là một hiệp định toàn diện, chất lượng cao và bảo đảm cân bằng lợi ích cho cả Việt Nam và EU. Sau hơn hai năm thực thi, EVFTA đã chứng tỏ là cú huých lớn cho xuất khẩu, giúp đa dạng thị trường và chủng loại mặt hàng, đặc biệt là các mặt hàng nông, thủy sản cũng như những mặt hàng Việt Nam vốn có nhiều lợi thế cạnh tranh.

Theo TS Nguyễn Mạnh Dũng - Phó Tổng Thư ký Hội Khoa học và Công nghệ lương thực thực phẩm Việt Nam, nhờ EVFTA, công nghiệp sinh học Việt Nam có một số cơ hội lớn: giúp cho các loại hàng hóa được sản xuất bằng chính các công nghệ sinh học từ nguồn nguyên liệu nông, thủy sản cũng như những mặt hàng Việt Nam có nhiều lợi thế cạnh tranh. Về sở hữu trí tuệ, cơ bản, các cam kết về sở hữu trí tuệ của Việt Nam là phù hợp quy định của pháp luật hiện hành, chính vì vậy, các công nghệ đã được nghiên cứu, phát triển và đăng ký sở hữu trí tuệ về công nghệ sinh học trong lĩnh vực công nghiệp chế biến sẽ có lợi thế rất lớn khi gia nhập một trong những "thị trường công nghệ" lớn nhất thế giới là EU. Nhìn chung, các nhà đầu tư châu Âu có ưu thế về công nghệ, vì vậy đã góp phần tích cực trong việc tạo ra một số ngành nghề mới và sản phẩm mới có hàm lượng công nghệ cao. Và xu thế đầu tư của EU cũng giúp các doanh nghiệp chế biến trong nước có cơ hội tiếp nhận công nghệ cao trong lĩnh vực công nghệ sinh học của EU, từ đó thúc đẩy nghiên cứu, sản xuất hàng hóa cung ứng cho thị trường trong nước và xuất khẩu hàng hóa sang thị trường EU với lợi thế cạnh tranh cao về nhân lực và nguyên liệu giá rẻ, phong phú, sẵn có.

Tuy nhiên, TS Nguyễn Mạnh Dũng cũng lưu ý, để nắm bắt được các cơ hội này không phải là dễ dàng. Hàng hóa được tạo ra từ các công nghệ "Made in Vietnam" còn cần phải vượt qua nhiều rào cản như: hàng rào kỹ thuật của EU về nguồn gốc xuất xứ, chất lượng sản phẩm, hay vấn đề bảo hộ sở hữu trí tuệ… Các doanh nghiệp công nghiệp sinh học trong lĩnh vực chế biến nông sản cần chủ động nâng cao, cải tiến công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất và áp dụng mô hình, công cụ quản trị tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng yêu cầu xuất khẩu vào thị trường châu Âu, tìm hiểu thị trường, xây dựng thương hiệu cho sản phẩm của doanh nghiệp mình.

Chính thách thức "tồn tại hay lụi tàn" là động lực để các doanh nghiệp và cả nền công nghệ sinh học Việt Nam nỗ lực vượt bậc trên con đường tiến lên phía trước.

Có thể bạn quan tâm

Cán bộ kỹ thuật lấy mẫu cho quá trình nghiên cứu chiết tách. (Nguồn: Viện Công nghệ xạ hiếm)

Nền tảng của công nghiệp xanh

Trong bối cảnh toàn cầu hóa cũng như cam kết lịch sử đưa mức phát thải ròng về “0”, đất hiếm nổi lên như một nhóm vật liệu chiến lược mang tính quyết định, không thể thay thế.

Ông Trần Bình Trọng, Cục trưởng Địa chất và Khoáng sản Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Chế biến sâu và nâng tầm công nghệ

Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Bình Trọng, Cục trưởng Địa chất và Khoáng sản Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Môi trường, chia sẻ: Trong quá trình cấp phép đầu tư, khai thác đất hiếm phải bảo đảm không chỉ dừng ở khai thác thô mà luôn gắn với chế biến sâu và chuyển giao, nâng tầm công nghệ.

Nếu không được kiểm soát, gánh nặng môi trường do khai thác khoáng sản có thể đè nặng lên vai của cộng đồng dân cư. (Ảnh Hoàng Tuân)

Gia cố “màng lọc” bảo vệ môi trường

Việc tồn tại nhiều điểm khai thác khoáng sản thiếu bền vững, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi sinh đòi hỏi công tác quản lý phải xem xét nghiêm túc, từ đó tìm ra giải pháp phù hợp trong khai thác, tách chế đất hiếm.

Ông Phạm Hùng Cát (trái) chia sẻ nỗi lo lắng khi môi trường bị đe dọa. (Ảnh NAM NGUYỄN)

Bài toán lãng phí kép từ một vụ vi phạm

Từng là một công trường khai thác sôi động, nhưng hiện giờ, khu mỏ đất hiếm thuộc thôn Yên Sơn, xã Xuân Ái (tỉnh Lào Cai) trở nên im lìm. Nhà xưởng bị bỏ hoang, máy móc hoen gỉ, tồn tại nguy cơ đe dọa môi trường nước trong khu vực.

Một dự án khai thác đất hiếm tại bang Alaska (Mỹ).

Điều quan trọng nhất không phải là trữ lượng

Sở hữu tiềm năng đất hiếm đứng thứ hai thế giới, Việt Nam đang nắm trong tay một lợi thế địa kinh tế quan trọng. Tuy nhiên, khoảng cách từ trữ lượng dưới lòng đất đến một ngành công nghiệp mang lại giá trị thực tiễn là một chặng đường dài.

LS Eco Energy (Hàn Quốc) công bố kế hoạch đầu tư hạ tầng tinh luyện đất hiếm tại Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 12/2025. Nguồn LS Eco Energy

Tận dụng lợi thế chuỗi cung ứng

Với tiềm năng sẵn có, Việt Nam không chỉ cần khai thác đất hiếm một cách thông minh, mà còn cần xây dựng chuỗi cung ứng minh bạch, tận dụng được các lợi thế về tài nguyên.

Mô hình dự án đường sắt tốc độ cao Hà Nội- Quảng Ninh, với tổng mức đầu tư hơn 5,6 tỷ USD vừa chính thức khởi công tại Quảng Ninh. Ảnh có sử dụng đồ họa AI

ĐỘT PHÁ VỀ KẾT NỐI HẠ TẦNG CHIẾN LƯỢC

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, nhiều nghệ sĩ trẻ cùng ekip đã chủ động có các đàm phán đa tầng trong chuyển quyền sử dụng có điều kiện, nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi của mình. Ảnh minh họa: KHIẾU MINH

Lấp đầy những khoảng trống ý thức

Bên cạnh Luật Sở hữu trí tuệ, được ban hành lần đầu vào cuối năm 2005, có hiệu lực từ ngày 1/7/2006 và đến nay, đã qua nhiều lần sửa đổi để phù hợp với diễn tiến của xã hội, Việt Nam hiện có một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật khá đầy đủ liên quan việc bảo vệ quyền tác giả và các quyền liên quan quyền tác giả.

Khoảng cách công nghệ giữa đường sắt hiện hữu và đường sắt tốc độ cao là rất lớn, vì vậy Việt Nam cần chuẩn bị tốt việc đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu tiến tới làm chủ công nghệ. Nguồn VNR

Định hình mạng lưới vận tải quốc gia

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức và tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Lớp học nâng cao trình độ về đường sắt tốc độ cao ngành Thi công và Bảo dưỡng công trình.

Mở rộng hợp tác trong đào tạo nguồn nhân lực mới

Một nhiệm vụ mang tính chiến lược, đóng vai trò then chốt trong xây dựng và vận hành đường sắt tốc độ cao, là phải đi trước một bước để đào tạo nguồn nhân lực có đủ năng lực, trình độ tiếp nhận, vận hành, khai thác, bảo trì và từng bước làm chủ các công nghệ tiên tiến, hiện đại đang được áp dụng với đường sắt tốc độ cao.

Ông Nguyễn Quốc Vượng, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR).

Bài toán về tầm nhìn và khả năng làm chủ công nghệ

Được xác định là lĩnh vực ưu tiên chiến lược, hợp tác phát triển đường sắt, nhất là đường sắt tốc độ cao, của Việt Nam không chỉ là câu chuyện của một công trình hạ tầng, mà là bài toán lớn đặt ra yêu cầu làm chủ công nghệ, đào tạo nhân lực và năng lực nội sinh.

Hành khách xếp hàng lên chuyến tàu G8389 tại nhà ga ở thành phố Nam Kinh (Trung Quốc). (Ảnh Tân Hoa xã)

Kinh nghiệm của Trung Quốc - Quốc gia “đi sau, về trước”

Không chỉ hiện thực hóa được mục tiêu “đi sau, về trước”, nhờ có sự đầu tư bài bản, mà hiện Trung Quốc còn đang “dẫn đầu thế giới” trong phát triển hệ thống đường sắt tốc độ cao. Đây là thành công góp phần quan trọng vào những kỳ tích tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội ở quốc gia này.

Khi Luật Sở hữu trí tuệ và quyền hình ảnh của người sáng tạo được thực thi đầy đủ, các tác giả làm việc trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật mới ở Việt Nam sẽ tích cực chủ động tham gia đăng ký bản quyền tác giả hơn nữa. (Trong ảnh: Vở múa đương đại Nón của biên đạo Vũ Ngọc Khải. Ảnh Đại Ngô)

Chuyển dịch tư duy về sở hữu trí tuệ

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam (Nghị quyết 80) đặt mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp 7% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vào năm 2030 và trở thành trụ cột kinh tế với 9% GDP vào năm 2045.

Bà Phạm Thị Kim Oanh.

Đồng hành để hỗ trợ giới sáng tạo một cách tốt nhất

Nhân Dân cuối tuần có cuộc trao đổi với bà Phạm Thị Kim Oanh, Phó Cục trưởng Bản quyền tác giả, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, về những nỗ lực của cơ quan quản lý nhà nước trong việc đồng hành, khuyến khích các tổ chức, cá nhân chủ động nâng cao hơn nữa ý thức về bảo vệ quyền tác giả và các quyền liên quan quyền tác giả.

Đồi chè Mộc Châu. (Ảnh Huỳnh Văn Truyền)

Chủ động mở những lối đi

Nhiếp ảnh là một trong những lĩnh vực sáng tác mà việc vi phạm bản quyền xảy ra khá thường xuyên, ở nhiều phương thức, cấp độ khác nhau.

Ngành công nghệ cần đặt an toàn của trẻ em vào khâu thiết kế sản phẩm, thay vì coi đó là phần việc xử lý sau cùng. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Đồng hành để bảo vệ

Internet từ lâu đã trở thành một phần tất yếu của cuộc sống, kể cả với trẻ em. Tuy nhiên, mức độ hiện diện cao ấy không đồng nghĩa với việc thế hệ trẻ có đủ năng lực để tự bảo vệ mình.

Trung ương Đoàn luôn chủ động tạo ra các không gian cởi mở để kịp thời lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của trẻ em.

Lắng nghe đúng, hành động trúng

Trong thời đại kỷ nguyên số, không gian mạng không còn là một công cụ hỗ trợ, mà đã trở thành một môi trường sống song hành với đời sống của trẻ em.

Chiến dịch Không một mình, nằm trong chuỗi các hành động nhằm thực hiện Công ước Hà Nội, hướng tới đồng hành với giới trẻ trong phòng, chống bắt cóc online. Ảnh: Hiệp hội An ninh mạng

Nhật ký một ngày online

LTS - Không phải những con số thống kê khô khan, cũng không phải góc nhìn của người lớn, ký sự này được thực hiện bởi chính những “người trong cuộc” - nhóm phóng viên nhí của Tòa soạn Tiếng Xanh (hoạt động dưới sự hướng dẫn của UNICEF Việt Nam).

Thay vì ngăn chặn, Việt Nam đang hướng đến những giải pháp thân thiện, cùng đồng hành với trẻ trên không gian mạng. Trong ảnh: Trích từ cẩm nang “Tự tin chinh phục Vương quốc Social” của Toà soạn Tiếng Xanh.

Từ chính sách đến từng gia đình

Không gian mạng hôm nay đã là một phần của tuổi thơ Việt Nam. Vì thế, bài toán không còn là “có nên cho trẻ dùng mạng xã hội hay không”, mà là làm sao để trẻ em Việt Nam được lớn lên trong một môi trường số an toàn hơn, lành mạnh hơn và công bằng hơn.

Lần đầu tiên trong lịch sử quy hoạch đô thị Việt Nam, Thủ đô Hà Nội được Trung ương giao quyền lập đồ án Quy hoạch, phù hợp việc tổ chức lại địa giới hành chính, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp. Ảnh Thành Đạt

Thách thức trong bước chuyển tư duy

Lời tòa soạn - Theo Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm, thành phố sẽ phát triển với cấu trúc đô thị “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”, điểm nhấn xuyên suốt là văn hiến, văn minh, hiện đại, hạnh phúc, trong đó yếu tố “hạnh phúc” được đặt ở vị trí trung tâm.

Hà Nội định hình cấu trúc đô thị theo không gian phát triển mở “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”. (Ảnh KHIẾU MINH)

Không để quy hoạch chỉ dừng ở bản vẽ

Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm (Quy hoạch) đã được Hội đồng nhân dân thành phố thông qua. Quy hoạch cho thấy tầm chiến lược, có các phân kỳ, giai đoạn thực hiện, nhưng cũng cần giải quyết những khó khăn, thách thức để đi vào đời sống.