Con đường duy nhất để tiến lên phía trước

Biến đổi khí hậu, tăng trưởng dân số và diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp do quá trình đô thị hóa là những nguyên nhân chính dẫn đến sự sụt giảm sản lượng nông nghiệp trong những năm gần đây. Do đó, ngành nông nghiệp đã tìm kiếm các giải pháp tối ưu để kịp thời xử lý những vấn đề trên nhằm phát triển một nền nông nghiệp xanh bền vững, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và góp phần ổn định an ninh lương thực thế giới. Trong đó, công nghệ sinh học được xem là một chiến lược quan trọng.
Nhiều trang trại sản xuất rau tại Lâm Đồng ứng dụng công nghệ sinh học trong quản lý dịch hại mang lại hiệu quả cao. Ảnh: BẢO VĂN
Nhiều trang trại sản xuất rau tại Lâm Đồng ứng dụng công nghệ sinh học trong quản lý dịch hại mang lại hiệu quả cao. Ảnh: BẢO VĂN

Bệ đỡ để phát triển bền vững

Trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghệ sinh học có nhiều đóng góp trong việc cải thiện và lai tạo giống cây trồng, góp phần giúp xây dựng nên nhiều kỹ thuật canh tác hiệu quả hơn, như: ứng dụng kỹ thuật chọn dòng tế bào biến dị soma, nhân giống trong ống nghiệm, lai vô tính, sản xuất cây đơn bội; ứng dụng trong các phương pháp canh tác mới như phương pháp màng dinh dưỡng và hệ thống thủy canh; ứng dụng công nghệ trong kỹ thuật chăn nuôi như cấy chuyển phôi, tạo ra chế phẩm phòng bệnh cho vật nuôi,...

Ngành công nghệ sinh học đã đưa công nghệ lên men vào lĩnh vực sản xuất chế biến lương thực, thực phẩm và trở thành một trong những lĩnh vực quan trọng nhất cho đến thời điểm hiện tại. Nhờ ứng dụng công nghệ sinh học, con người có thể chọn được những chủng vi sinh vật có khả năng lên men tốt, hỗ trợ đắc lực trong công nghệ sản xuất nước lên men, sữa, thực phẩm chức năng protein, chất làm tăng hương vị, chế biến rau củ quả,...

Nhờ ứng dụng công nghệ sinh học, thời gian qua chúng ta đã sản xuất quy mô công nghiệp giống cây ăn quả có múi sạch bệnh và giống dứa Cayen chất lượng cao, năng lực sản xuất cây giống cây ăn quả có múi sạch bệnh trong cả nước tăng lên 600.000 cây/năm và với dứa nhân được 10 triệu chồi/năm.

Trong những năm gần đây, các trung tâm nghiên cứu hàng đầu trong nước như Viện Khoa học nông nghiệp miền nam, Viện Cây ăn quả miền nam, Viện Lúa gạo đồng bằng sông Cửu Long và Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 2 đã có những đóng góp to lớn trong việc nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt là ở phía nam- khu vực phát triển nông nghiệp quan trọng của đất nước.

Đồng bằng sông Cửu Long là khu vực sản xuất lúa gạo lớn nhất của đất nước, vì vậy việc nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất lúa gạo được coi là yếu tố quyết định, giúp cải thiện các giống lúa, tăng sản lượng cũng như chất lượng gạo để phục vụ cho mục tiêu xuất khẩu, cũng như đối phó với tình hình biến đổi khí hậu.

Viện Lúa gạo đồng bằng sông Cửu Long đã phát hiện ra một giống lúa có năng suất cao và chất lượng tốt. Viện cũng đã tìm thấy 30 giống lúa có chất lượng đầy hứa hẹn cho phép Viện phát triển với quy mô lớn sau khi kiểm tra thử nghiệm năng suất. Bên cạnh đó, Viện cũng đã nghiên cứu thành công công nghệ biến đổi gen để tạo ra một giống lúa có hàm lượng dinh dưỡng cao và có khả năng chịu đựng hạn hán.

Viện Cây ăn quả miền nam thì tập trung vào việc nghiên cứu công nghệ sinh học để phát triển các loài cây ăn quả đặc biệt có giá trị kinh tế cao. Công nghệ nổi bật nhất của Viện là nhân giống cây có múi không bệnh với kỹ thuật ghép "shoot-tip". Sử dụng kỹ thuật này, các nhà khoa học đã tạo ra những giống cây có múi có khả năng chống chọi với một số bệnh do virus gây ra. Cho đến nay, Viện đã chuyển giao nhiều giống cây trồng không bệnh có năng suất cao cho nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long, giúp họ chủ động trong việc canh tác và thu hoạch.

Trong chăn nuôi, ứng dụng công nghệ sinh học để sản xuất tinh, phôi tươi và đông lạnh ở quy mô xí nghiệp nhỏ tự động hóa đã góp phần tăng nhanh số lượng đàn bò sữa cả nước từ 29.500 con năm 1999 lên tổng đàn bò sữa gần 375.000 con năm 2022. Nhờ ứng dụng công nghệ vi sinh mà các vaccine như: vaccine tụ huyết trùng trâu bò, vaccine dịch tả vịt và Parovirus lợn; các loại phân bón vi sinh và phân hữu cơ sinh học cũng được phát triển.

Trong lâm nghiệp, công nghệ sinh học đã cho phép sản xuất cây giống bạch đàn, keo... bằng nuôi cấy mô để trồng trên 10.000ha rừng và nhân giống vô tính cây phi lao trong dung dịch.

Định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 22/3/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng); Kế hoạch tổng thể phát triển công nghiệp sinh học đến năm 2030 (Quyết định số 553/QĐ-TTg ngày 21/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ);…đã chỉ ra định hướng phát triển tổng thể công nghệ sinh học thông qua việc tập trung nguồn lực đầu tư phát triển công nghiệp sinh học, đổi mới cơ chế, chính sách, tranh thủ hợp tác và hỗ trợ quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp đầu tư và sản xuất sản phẩm từ công nghệ sinh học trong các ngành, lĩnh vực và trở thành một ngành kinh tế-kỹ thuật quan trọng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phục vụ an sinh xã hội, môi trường bền vững.

EVFTA - cú huých cho công nghệ sinh học

Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam và Liên minh châu Âu-EU (EVFTA) có hiệu lực từ ngày 1/8/2020 được đánh giá là một hiệp định toàn diện, chất lượng cao và bảo đảm cân bằng lợi ích cho cả Việt Nam và EU. Sau hơn hai năm thực thi, EVFTA đã chứng tỏ là cú huých lớn cho xuất khẩu, giúp đa dạng thị trường và chủng loại mặt hàng, đặc biệt là các mặt hàng nông, thủy sản cũng như những mặt hàng Việt Nam vốn có nhiều lợi thế cạnh tranh.

Theo TS Nguyễn Mạnh Dũng - Phó Tổng Thư ký Hội Khoa học và Công nghệ lương thực thực phẩm Việt Nam, nhờ EVFTA, công nghiệp sinh học Việt Nam có một số cơ hội lớn: giúp cho các loại hàng hóa được sản xuất bằng chính các công nghệ sinh học từ nguồn nguyên liệu nông, thủy sản cũng như những mặt hàng Việt Nam có nhiều lợi thế cạnh tranh. Về sở hữu trí tuệ, cơ bản, các cam kết về sở hữu trí tuệ của Việt Nam là phù hợp quy định của pháp luật hiện hành, chính vì vậy, các công nghệ đã được nghiên cứu, phát triển và đăng ký sở hữu trí tuệ về công nghệ sinh học trong lĩnh vực công nghiệp chế biến sẽ có lợi thế rất lớn khi gia nhập một trong những "thị trường công nghệ" lớn nhất thế giới là EU. Nhìn chung, các nhà đầu tư châu Âu có ưu thế về công nghệ, vì vậy đã góp phần tích cực trong việc tạo ra một số ngành nghề mới và sản phẩm mới có hàm lượng công nghệ cao. Và xu thế đầu tư của EU cũng giúp các doanh nghiệp chế biến trong nước có cơ hội tiếp nhận công nghệ cao trong lĩnh vực công nghệ sinh học của EU, từ đó thúc đẩy nghiên cứu, sản xuất hàng hóa cung ứng cho thị trường trong nước và xuất khẩu hàng hóa sang thị trường EU với lợi thế cạnh tranh cao về nhân lực và nguyên liệu giá rẻ, phong phú, sẵn có.

Tuy nhiên, TS Nguyễn Mạnh Dũng cũng lưu ý, để nắm bắt được các cơ hội này không phải là dễ dàng. Hàng hóa được tạo ra từ các công nghệ "Made in Vietnam" còn cần phải vượt qua nhiều rào cản như: hàng rào kỹ thuật của EU về nguồn gốc xuất xứ, chất lượng sản phẩm, hay vấn đề bảo hộ sở hữu trí tuệ… Các doanh nghiệp công nghiệp sinh học trong lĩnh vực chế biến nông sản cần chủ động nâng cao, cải tiến công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất và áp dụng mô hình, công cụ quản trị tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng yêu cầu xuất khẩu vào thị trường châu Âu, tìm hiểu thị trường, xây dựng thương hiệu cho sản phẩm của doanh nghiệp mình.

Chính thách thức "tồn tại hay lụi tàn" là động lực để các doanh nghiệp và cả nền công nghệ sinh học Việt Nam nỗ lực vượt bậc trên con đường tiến lên phía trước.

Có thể bạn quan tâm

Thời gian qua, không ít hội thảo được tổ chức, tìm giải pháp ứng dụng chế phẩm sinh học trong sản xuất nông nghiệp. Nguồn: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Phú Thọ

Chìa khóa cho phát triển xanh

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) sinh học, còn gọi là chế phẩm sinh học, được xem là chìa khóa để phát triển nông nghiệp xanh, an toàn, bảo vệ môi trường.

Ông Nghiêm Quang Tuấn.

Chặn mối nguy từ hàng hóa có độ rủi ro cao

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là hàng hóa có mức độ rủi ro cao. Nhìn nhận về nguy cơ từ những vi phạm chung quanh sản phẩm này, ông Nghiêm Quang Tuấn, Phó Cục trưởng Trồng trọt và Bảo vệ thực vật - Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị: Cần xây dựng các quy định hướng dẫn và lộ trình áp dụng truy xuất nguồn gốc một cách minh bạch.

Tại Tỉnh Thái Nguyên, các cây máy điện tử tự phục vụ (Kiosk) tích hợp AI được bố trí ở hầu khắp các Trung tâm phục vụ hành chính công cấp xã. Ảnh: Hải Thắng

Xu hướng tất yếu trong mô hình quản trị mới

Trong bối cảnh cả nước đang đẩy mạnh chuyển đổi số, chính quyền cơ sở cần có thêm những công cụ đủ mạnh để xử lý khối lượng dữ liệu ngày càng lớn, phức tạp. Sử dụng hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong xử lý công việc hành chính công đã là một xu hướng tất yếu.

Chị Ngô Thị Minh Trinh (thứ ba từ trái sang), Bí thư Đảng ủy xã Ea Knuếc (tỉnh Đắk Lắk) thường xuyên trực tiếp tham gia các phiên livestream quảng bá, bán nông sản cho bà con địa phương.

Củng cố niềm tin nhờ “Dân vận khéo”

Triển khai vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, cấp xã là nơi đảm trách nhiệm vụ trực tiếp giải quyết phần lớn công việc của người dân, doanh nghiệp và xã hội. Điều đó đòi hỏi một sự thay đổi thực chất trong phương thức lãnh đạo, điều hành của đội ngũ cán bộ cơ sở.

Trong điều kiện đẩy mạnh xây dựng chính quyền số, yêu cầu nâng cao năng lực số, tư duy số và kỹ năng làm việc trong môi trường số của cán bộ cơ sở là bắt buộc.

Thiết lập nền hành chính hiện đại

Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở “ngang tầm nhiệm vụ” không chỉ là câu chuyện về số lượng cán bộ hay bằng cấp có được, mà quan trọng hơn là cách tổ chức, sử dụng và phát huy năng lực, ý thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.

GS, TS Phùng Hữu Phú, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương.

Giải quyết tận gốc bài toán thể chế, cơ chế bảo vệ cán bộ cơ sở

Kỳ vọng lớn từ chủ trương chọn năm 2026 là “Năm cán bộ cơ sở” chỉ có thể trở thành hiện thực nếu chúng ta giải quyết tận gốc bài toán thể chế, cơ chế bảo vệ cán bộ và quan trọng nhất là trả công tác cán bộ về đúng bản chất: Tìm đúng người yêu dân, vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Phóng viên Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với GS, TS Phùng Hữu Phú, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương chung quanh vấn đề này.

Công an xã Sín Thầu (tỉnh Điện Biên) hỗ trợ đồng bào dân tộc người Hà Nhì làm các thủ tục hành chính. Ảnh: Thành Đạt

Gia tăng năng lực tuyến đầu của quản trị công

Chưa bao giờ yêu cầu đặt ra đối với cán bộ cơ sở lớn như hiện nay. Khi chính quyền địa phương 2 cấp đi vào vận hành, cấp xã trở thành tuyến đầu của quản trị công, gánh trên vai nhiều trọng trách với phương thức hoạt động hoàn toàn mới. Việc lấy năm 2026 là “Năm cán bộ cơ sở” vì thế không chỉ là khâu đột phá mà còn là kế hoạch lâu dài. Không như trước, công chức xã bây giờ phải là người kiến tạo phát triển ở cơ sở.

Nâng bước thanh niên kiến tạo kỷ nguyên Xanh

Nâng bước thanh niên kiến tạo kỷ nguyên Xanh

Phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh lần thứ XIII và nhiều diễn đàn về thanh niên, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm luôn nhấn mạnh yêu cầu khơi dậy mạnh mẽ khát vọng cống hiến, tinh thần tiên phong và trách nhiệm của tuổi trẻ đối với những nhiệm vụ chiến lược của đất nước. Vì thế, trên hành trình hiện thực hóa mục tiêu Net Zero, thanh niên không chỉ là lực lượng tham gia, mà còn phải trở thành chủ thể của quá trình chuyển đổi. 

Trên hành trình hướng đến mục tiêu xanh, thanh niên đang từng bước trở thành chủ thể trực tiếp của phát triển.Ảnh: AGriS

THẾ HỆ NET ZERO - lực lượng quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia

Chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững không còn là những lựa chọn mang tính khuyến khích, mà đã trở thành điều kiện để mỗi quốc gia duy trì sức cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu nhiều biến động. Trong cuộc đua ấy, quốc gia nào chuẩn bị tốt hơn nguồn nhân lực cho nền kinh tế xanh sẽ có lợi thế cạnh tranh trong nhiều thập niên tới.

Với lợi thế công nghệ, thanh niên ngày nay hoàn toàn có thể tham gia hiện đại hóa nông nghiệp. Ảnh: TTXVN

Hiện thực hóa khát vọng bằng hành động

LTS - Từ những chiến dịch tình nguyện vì môi trường, các dự án khởi nghiệp xanh đến những sáng kiến công nghệ phục vụ cộng đồng, thanh niên Việt Nam đang ngày càng hiện diện rõ nét trong hành trình hiện thực hóa mục tiêu phát thải ròng bằng “0”. Đằng sau những chuyển động ấy là vai trò kết nối, dẫn dắt của tổ chức Đoàn cùng tinh thần dấn thân của một thế hệ trẻ sẵn sàng biến khát vọng cống hiến thành những hành động cụ thể. Góc nhìn từ cán bộ Đoàn và các bạn trẻ tiêu biểu cho thấy: Net Zero không còn là một mục tiêu vĩ mô, mà đang được hiện thực hóa từ chính những việc làm gần gũi mỗi ngày.

Dự án Hải Lưu Ngược đã kết hợp truyền thông văn hóa với công nghệ thực tế tăng cường để tuyên truyền bảo vệ môi trường.

Bền vững bắt đầu từ ý tưởng, thực thi

Hành trình chuyển dịch xanh của một quốc gia không thể đơm hoa kết trái, nếu chỉ dừng lại ở những tiếng hô hào hay các bản đề xuất nằm trên giấy. Phát triển bền vững đòi hỏi tư duy hành động thực chất, được bảo chứng bằng năng lực thực thi bài bản.

Những cánh đồng mía bất tận khiến Trần Nguyễn Huy Ninh ngỡ ngàng, thay đổi hoàn toàn cái nhìn về nông nghiệp hiện đại. Ảnh: AgriS

Hãy hình dung về một nền nông nghiệp rất khác!

Tôi sinh ra trong một gia đình làm nông nghiệp truyền thống tại Đà Lạt, vì vậy hình ảnh đầu tiên trong ký ức tôi về nghề nông là những buổi sáng bắt đầu từ rất sớm, những mùa vụ phụ thuộc nhiều vào thời tiết và nỗi lo thường trực về giá cả, sâu bệnh, năng suất…

Hiện nay, không ít cơ hội đang mở ra để các bạn trẻ tiếp cận những nguồn vốn cho các ý tưởng xanh. Trong ảnh: Hội thảo “Kết nối những nhà đổi mới nổi bật cho các hành động bền vững” (P4G) do Mạng lưới Thanh niên Hành động vì Khí hậu YNet Việt Nam, Đại học Công nghệ Đan Mạch (DTU) tổ chức.

Đứng chân trên bản đồ nghề nghiệp mới

Khi các doanh nghiệp phải thay đổi để đáp ứng những tiêu chuẩn xanh ngày càng khắt khe của thị trường toàn cầu, một “bản đồ nghề nghiệp” mới cũng dần hình thành. Với thanh niên, đó là cơ hội để khởi nghiệp, để đổi mới sáng tạo và trực tiếp góp phần hiện thực hóa mục tiêu Net Zero của đất nước.

Người dân quét giấy tờ gốc, xác thực bản sao điện tử tại Kiosk thông minh, chi nhánh số 1, Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Tháo bỏ những rào cản vô hình

Mối quan hệ giữa Nhà nước và người dân là một yếu tố mang tính nền tảng đối với hành trình phát triển của mọi quốc gia. Cải cách thủ tục hành chính dựa trên các thành tựu khoa học-công nghệ, vì thế, được xem như minh chứng cho nỗ lực thay đổi từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ, đặt người dân vào vị trí trung tâm của các chính sách.

Anh Lê Minh Thiện (phải) hỗ trợ ông Nguyễn Xuân Bình làm thủ tục ủy quyền lương hưu. Ảnh: Thành Đạt

Đưa hệ thống chạm tới nhóm người yếu thế

Mới đây, Hà Nội đã hoàn thành 100% mục tiêu của chiến dịch liên ngành bảo đảm chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội không bị gián đoạn. Kết quả này có được là nhờ hoạt động của Tổ hành chính công xung kích, với những công chức không quản nắng mưa, gõ cửa từng nhà.

Người dân Ấn Độ liên kết số Aadhaar của mình với tài khoản ngân hàng để phục vụ thanh toán trực tuyến.

Hai mặt của tấm huy chương

Ở Estonia, hầu hết thủ tục từ khai sinh cho con đến kê đơn thuốc, được thực hiện trong vài cú chạm. Còn tại Ấn Độ, một cụ bà có thể bị máy định danh từ chối phát gạo trợ cấp vì dấu vân tay đã mòn. Hai hình ảnh trái ngược ấy cùng gợi mở một số vấn đề mà Việt Nam cần nắm vững khi bước vào nền hành chính số.

Dù triển khai dịch vụ công trực tuyến, người dân vẫn phải mất nhiều lượt đi lại trực tiếp mới hoàn tất khâu nộp hồ sơ.

Gỡ khó cho tuyến cơ sở

Việc đẩy mạnh chuyển đổi số và triển khai dịch vụ công trực tuyến thời gian qua đã đạt được những thành tựu bước đầu rất đáng ghi nhận. Tuy nhiên, thực tiễn vận hành tại một số địa phương sau khi sáp nhập đơn vị hành chính vẫn thể hiện sự thiếu đồng bộ về dữ liệu chuyên ngành và hạ tầng kỹ thuật.

Ông Bùi Dương, Giám đốc Chi nhánh Trung tâm Phục vụ hành chính công số 1 Thành phố Hà Nội.

Mỗi dữ liệu chỉ khai một lần, mỗi kết quả sử dụng nhiều lần

Xoay quanh nỗ lực thu hẹp khoảng cách giữa một thủ tục được đưa lên môi trường số và một thủ tục thật sự giảm được thời gian cũng như chi phí cho người dân, doanh nghiệp, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với ông Bùi Dương, Giám đốc Chi nhánh Trung tâm Phục vụ hành chính công số 1 Thành phố Hà Nội.

Chuyển đổi số chỉ thành công khi người dân cảm nhận được nền hành chính đơn giản hơn, minh bạch hơn và phục vụ tốt hơn. Ảnh: Thành Đạt

Thiết lập nền hành chính với tư duy số

Năm 2026 đánh dấu bước chuyển quan trọng của nền hành chính Việt Nam khi mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đi vào vận hành đầy đủ, đồng thời dịch vụ công trực tuyến cấp tỉnh, cấp xã được tập trung trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây không chỉ là sự thay đổi về hạ tầng công nghệ, mà còn là phép thử đối với năng lực cải cách bộ máy và tư duy quản trị.

Hạn hán kỷ lục cấp 4 tại Ninh Thuận (cũ) do chịu ảnh hưởng của đợt El Nino hồi năm 2020. Ảnh: Thành Đạt

Bước chuyển tư duy ứng phó siêu El Nino

El Nino đã hình thành và được dự báo tiếp tục mạnh lên trong nửa cuối năm 2026, tiếp nối sang đầu năm 2027, làm gia tăng nguy cơ nắng nóng kéo dài, thiếu hụt lượng mưa theo mùa, suy giảm nguồn nước, dẫn đến hạn hán và xâm nhập mặn nghiêm trọng. 

Ông Hoàng Đức Cường, Phó Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường).

Chuyển từ “dự báo hiện tượng” sang “cảnh báo tác động”

Chỉ trong vài tháng đầu năm 2026, trạng thái đại dương và khí quyển vùng xích đạo Thái Bình Dương đã đảo chiều đột ngột sang pha El Nino. Với xác suất kéo dài xuyên qua năm 2027 lên tới trên 95%, đợt thiên tai này đang đặt ra những thách thức phi truyền thống đối với an ninh năng lượng, sản xuất nông nghiệp và an ninh nguồn nước quốc gia. Nhân Dân cuối tuần có cuộc trao đổi sâu với ông Hoàng Đức Cường, Phó Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) về bước chuyển tư duy chiến lược: Dùng kịch bản rủi ro và dự báo tác động để bảo vệ các động lực tăng trưởng kinh tế.

Lực lượng chức năng và đoàn thể xã Đất Mới (tỉnh Cà Mau) hỗ trợ giúp dân khắc phục hậu quả sau sạt lở đất.

Thiên tai đi qua, tình người ở lại

Dải đất cực nam Tổ quốc có ba bề sóng vỗ. Bên cạnh sự trù phú của tài nguyên biển và rừng ngập mặn, nơi đây cũng là một trong những vùng đất chịu nhiều tổn thương do biến đổi khí hậu. Vào mùa mưa bão, những thiên tai dị thường liên tiếp ập đến, đe dọa trực tiếp đến cuộc sống của người dân.

Các chiến sĩ thuộc Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Ninh Thuận (cũ), nay là tỉnh Khánh Hòa, mang nước sạch đến cho người dân thôn Tà Nôi. Ảnh: Thành Đạt.

Ưu tiên bảo đảm an ninh nguồn nước

Dưới tác động của El Nino, các chuyên gia khuyến nghị: Các cấp ngành, địa phương cần ưu tiên giải pháp bảo đảm an ninh nguồn nước cho các vùng có nguy cơ thiếu nước.

Những thách thức rất lớn đang chờ đợi các vòng đàm phán khí hậu sắp diễn ra.

Thế giới sau hồi chuông báo động

Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) vừa xác nhận: El Nino đã hình thành và có khả năng gia tăng cường độ trong những tháng tới. Trong bối cảnh nhiều mô hình khí hậu dự báo hiện tượng này có thể phát triển tới mức Siêu El Nino, Liên hợp quốc đã kêu gọi các quốc gia khẩn trương triển khai các biện pháp ứng phó nhằm hạn chế thiệt hại.

Các bạn trẻ tương tác với màn hình ở kios tìm hiểu thông tin về Văn Miếu-Quốc Tử Giám. Ảnh: Đại Dương

Cần một “nhạc trưởng”

Mọi lĩnh vực của đời sống văn hóa đang chuyển động theo chiều hướng tích cực nhờ ứng dụng các công nghệ hiện đại. Trong hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam, việc triển khai Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và có hiệu lực kể từ ngày ký, ngày 2/12/2021, đã cho thấy rất rõ một thực tiễn: Công nghệ đã giúp mở rộng tầm nhìn về di sản.