Chuyển hóa từ công cụ thành động lực

Đánh giá hiện trạng công tác bảo đảm chất lượng giáo dục đại học và nêu định hướng một số giải pháp là nội dung cuộc phỏng vấn của phóng viên Nhân Dân cuối tuần với GS, TS Huỳnh Văn Chương (ảnh bên), Cục trưởng Quản lý Chất lượng - Bộ Giáo dục và Đào tạo.

GS, TS Huỳnh Văn Chương (ảnh bên), Cục trưởng Quản lý Chất lượng - Bộ Giáo dục và Đào tạo.
GS, TS Huỳnh Văn Chương (ảnh bên), Cục trưởng Quản lý Chất lượng - Bộ Giáo dục và Đào tạo.

- Xin ông cho biết, vì sao công tác bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục lại được coi là ưu tiên hàng đầu trong giai đoạn hiện nay?

- Giáo dục Việt Nam đang nỗ lực mạnh mẽ và quyết liệt trong việc thúc đẩy hội nhập quốc tế sâu rộng và chuyển đổi số toàn diện nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục, coi đó là yếu tố then chốt, không thể thiếu cho mọi hoạt động và cho tăng trưởng mang tính bền vững lâu dài. Đặc biệt, trong bối cảnh triển khai các nghị quyết quan trọng như Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 cụm từ "chất lượng" được nhắc đến 16 lần, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 281/NQ-CP của Chính phủ, Kế hoạch triển khai số 2811/KH-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai Nghị quyết số 281 của Chính phủ, bảo đảm chất lượng cho mọi hoạt động, nhiệm vụ của Nghị quyết 71 đã định vị rõ đây là động lực cho hành động và đột phá ở mọi cấp học, đóng vai trò nền tảng và tiên quyết để thực thi tự chủ đại học thực chất, đi đôi với yêu cầu giải trình và minh bạch hóa. Từ đó, công tác bảo đảm và kiểm định chất lượng được xem là 1 trong 6 nội dung lớn, trụ cột của hệ thống giáo dục và trong hệ thống các Luật về giáo dục, giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, giúp bảo đảm minh bạch, trách nhiệm giải trình và cải tiến liên tục. Bảo đảm chất lượng và kiểm định chất lượng không chỉ đơn thuần là hoạt động giám sát, mà còn là công cụ chiến lược để các trường xây dựng hệ thống tự bảo đảm chất lượng bên trong (IQA), tự đánh giá, đối sánh, tự điều chỉnh và đổi mới liên tục. Đặc biệt, trong tiến trình hội nhập giáo dục sâu rộng với quốc tế thì bảo đảm chất lượng và kiểm định chất lượng sẽ tạo thuận lợi thúc đẩy hợp tác, liên kết đào tạo, công nhận văn bằng, chương trình đào tạo lẫn nhau.

- Với vai trò Cục trưởng, ông đánh giá thế nào về công tác bảo đảm chất lượng bên trong của các cơ sở giáo dục đại học, thực trạng đội ngũ và nguồn lực?

- Tính đến 31/8/2025, tỷ lệ cơ sở giáo dục đại học đã hoàn thành tự đánh giá (chu kỳ 1) đạt 94,2% (228/242 cơ sở giáo dục đại học không thuộc khối an ninh quốc phòng), và 100% (23/23 trường cao đẳng sư phạm) ở khối cao đẳng sư phạm. Về mặt tổ chức, qua kết quả khảo sát, có 96,3% (170/177) cơ sở giáo dục đại học đã thành lập bộ phận chuyên trách về bảo đảm chất lượng bên trong từ cấp khoa, phòng đến cấp cơ sở giáo dục.

Tuy nhiên, việc triển khai IQA ở một số cơ sở giáo dục đại học vẫn còn mang tính hình thức, chưa hiệu quả, thiếu sự kết nối chặt chẽ với chiến lược phát triển chung và chiến lược bảo đảm chất lượng theo từng giai đoạn của nhà trường; chưa vận hành đầy đủ và đúng theo chu trình lập kế hoạch-triển khai-kiểm tra, giám sát-hành động cải tiến chất lượng (thường được gọi thuật ngữ chung trong kiểm định là PDCA- Plan-Do-Check-Act). Khả năng cải tiến liên tục hiện nay của hầu hết các cơ sở giáo dục đại học vẫn còn yếu, thể hiện qua điểm số thấp nhất ở Tiêu chí 9.6 (về cải tiến quy trình - theo bộ tiêu chuẩn được quy định trong Công văn 1668/QLCL-KĐCLGD, ngày 31/12/2019) chỉ đạt 3,64/5, các cơ sở giáo dục đại học thường dồn sức hoàn thiện các tiêu chuẩn, tiêu chí vào năm cuối chu kỳ để chuẩn bị cho chu kỳ kiểm định mới, điều này chưa thật sự đúng và thực chất về bảo đảm chất lượng là cải tiến liên tục, không có điểm dừng. Văn hóa chất lượng đang dần hình thành nhưng chưa thật sự lan tỏa bền vững, ở đâu người đứng đầu cơ sở giáo dục đại học triển khai quyết liệt và am hiểu sâu về bảo đảm chất lượng nơi đó có kết quả kiểm định chất lượng cơ sở và chương trình tốt hơn và vươn lên nhanh hơn.

Về nhân sự bảo đảm chất lượng của các cơ sở giáo dục đại học: Khoảng 15,25% ý kiến khảo sát phản ánh tình trạng vẫn còn thiếu cán bộ chuyên trách về bảo đảm chất lượng để đảm bảo IQA vận hành tốt. Phần lớn nhiệm vụ bảo đảm chất lượng vẫn do giảng viên kiêm nhiệm đảm trách. Đội ngũ còn mỏng, chưa đồng đều về năng lực chuyên môn và thiếu kinh nghiệm quốc tế, chưa được tiếp cận các lớp đào tạo và tập huấn thường xuyên về bảo đảm chất lượng. Đáng chú ý, dù đã có cán bộ tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ, nhưng số người được cấp thẻ kiểm định viên còn rất ít hoặc chưa đạt qua các đợt sát hạch.

Nguồn lực tài chính dành cho bảo đảm chất lượng còn thiếu và không ổn định, nhiều cơ sở giáo dục đại học chưa phân định rõ nguồn lực tài chính cho công tác bảo đảm chất lượng hằng năm nên còn khá lúng túng cho vấn đề đầu tư cho các hoạt động này. Hệ thống cơ sở dữ liệu và minh chứng còn phân tán, lưu trữ thủ công, gây khó khăn trong việc quản lý, giám sát và khai thác dữ liệu để phục vụ cải tiến.

dhbkhn-8200.jpg
Đại học Bách khoa Hà Nội tổ chức tập huấn tự đánh giá các chương trình đào tạo theo bộ tiêu chuẩn AUN-QA phiên bản 4.0.

- Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa sơ kết 3 năm thực hiện Quyết định số 78/QĐ-TTg, ông có thể cho biết những vấn đề đã được ghi nhận về nội dung này?

- Sau ba năm triển khai Quyết định số 78/QĐ-TTg (giai đoạn 2022-2025), chúng ta đã có kết quả sơ kết rất lạc quan về sự phát triển của hệ thống bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục đối với giáo dục đại học và cao đẳng sư phạm, với nhiều mục tiêu đã hoàn thành và thậm chí là vượt xa kỳ vọng. Có thể nói, hệ thống giáo dục đại học Việt Nam đang chuyển mình rất rõ rệt.

Về số lượng kiểm định chương trình: Mục tiêu ban đầu của Quyết định số 78 chỉ là 35% chương trình đào tạo đạt chuẩn kiểm định, nhưng đến tháng 8/2025, chúng ta đã có 2.637 chương trình đào tạo được kiểm định. Con số này tương đương với tỷ lệ 52,1% so với tổng số lượt ngành đại học, tức là chúng ta đã vượt mức mục tiêu trung hạn một cách ngoạn mục. Điều đáng mừng hơn nữa là về hội nhập quốc tế. Tỷ lệ chương trình đào tạo đạt chuẩn quốc tế đã chiếm tới 26,39%, vượt xa chỉ tiêu 10% đề ra. Điều này chứng tỏ chất lượng đào tạo của các trường đang được nâng cao, đủ sức cạnh tranh và tiệm cận với các chuẩn mực khu vực và quốc tế.

Hệ thống bảo đảm chất lượng nội bộ IQA đã được thiết lập. Qua kết quả khảo sát từ 177 cơ sở giáo dục đại học cho thấy có tới 96,3% cơ sở giáo dục đại học đã thành lập đơn vị hoặc bộ phận chuyên trách về bảo đảm chất lượng. Đây là một bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện hệ thống quản trị đại học hiện đại. Hệ thống IQA tại các trường hiện được đánh giá là khá hoàn thiện (64,97%) hoặc hoàn thiện (10,17%). Các hoạt động tự đánh giá chu kỳ 1 cũng đạt độ phủ rất cao, gần 94,2% cơ sở giáo dục đại học đã thực hiện.

- Vậy đâu là những thách thức cần khắc phục?

- Mặc dù đã có nhiều chuyển biến tích cực, nhưng bảo đảm chất lượng và kiểm định chất lượng vẫn đối mặt với một số thách thức mang tính hệ thống:

Vận hành hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong (IQA) thiếu thực chất; khả năng cải tiến liên tục còn yếu. Hoạt động kiểm định chương trình đào tạo làm bộc lộ điểm yếu lớn, nhất là thiếu sự tương thích giữa chuẩn đầu ra với phương pháp dạy học và đánh giá.

Đội ngũ nhân sự bảo đảm chất lượng còn mỏng, chủ yếu kiêm nhiệm. Đội ngũ kiểm định viên hiện nay thiếu về số lượng và chưa đồng đều về năng lực, đặc biệt là khả năng tư vấn cải tiến, phân tích dữ liệu và đánh giá năng lực đầu ra.

Năng lực hội nhập quốc tế còn hạn chế: Việt Nam vẫn thiếu cơ chế công nhận lẫn nhau về kết quả kiểm định với các tổ chức quốc tế. Sự tham gia của các tổ chức kiểm định trong nước vào mạng lưới quốc tế còn hạn chế, chủ yếu dừng ở mức tham gia/quan sát viên.

Hệ thống dữ liệu còn phân tán, lưu trữ thủ công, chưa tạo được nền tảng để minh bạch hóa thông tin và tăng cường trách nhiệm giải trình.

- Trên những ghi nhận, đánh giá như vậy, để thúc đẩy sự phát triển của hoạt động bảo đảm chất lượng giáo dục đại học, sẽ có những giải pháp nào được đề xuất, triển khai, thưa ông?

- Trong giai đoạn 2026-2030, trọng tâm là chuyển hóa kiểm định từ công cụ đánh giá sang động lực phát triển. Chúng tôi tập trung vào 5 định hướng lớn:

Rà soát, điều chỉnh hệ thống văn bản pháp luật về bảo đảm và kiểm định chất lượng (sau khi Luật Giáo dục và Luật Giáo dục đại học sửa đổi được thông qua). Xây dựng cơ chế phân loại các cơ sở giáo dục đại học theo mức độ phát triển IQA và kết quả kiểm định.

Xây dựng hệ sinh thái dữ liệu bảo đảm chất lượng, minh bạch: Thành lập Trung tâm phân tích dữ liệu bảo đảm chất lượng quốc gia, kết nối với các cơ sở dữ liệu ngành (HEMIS, SAHEP). Ứng dụng công nghệ số, AI và dữ liệu lớn trong vận hành hệ thống bảo đảm chất lượng nội bộ.

Nâng cao năng lực của tổ chức kiểm định: Yêu cầu các tổ chức kiểm định tái cấu trúc tổ chức theo hướng chuyên nghiệp. Mục tiêu là trên 50% tổ chức kiểm định trong nước đạt ít nhất một thỏa thuận công nhận kết quả kiểm định lẫn nhau quốc tế (MRA) đến năm 2030.

Gắn bảo đảm chất lượng với tự chủ và quản trị: Lồng ghép yêu cầu bảo đảm chất lượng như điều kiện gián tiếp trong mở ngành, tuyển sinh, phân bổ kinh phí, phân tầng, xếp hạng và giao quyền tự chủ. Gắn trách nhiệm bảo đảm chất lượng với đánh giá hiệu quả đơn vị và trách nhiệm giải trình của người đứng đầu.

Tăng cường hội nhập quốc tế: Khuyến khích các trường tham gia kiểm định quốc tế (AUN-BĐCL, ABET, FIBAA...) và đề xuất thí điểm các mô hình công nhận bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục nước ngoài cho một số ngành đặc thù.

- Có ý kiến cho rằng hoạt động kiểm định tạo áp lực cho các trường?

- Đúng là trong quá trình triển khai kiểm định chất lượng, đã tạo ra những áp lực nhất định cho các trường, nhưng chúng tôi nhìn nhận đó là áp lực cần thiết để hệ thống giáo dục đại học chuyển mình và phát triển bền vững.

Mục tiêu cốt lõi của Quyết định số 78 không phải là tạo ra thủ tục, mà là để thúc đẩy sự phát triển thực chất của từng cơ sở đào tạo. Hoạt động phát triển IQA phải được xem là công cụ phát triển nội lực, cải tiến chất lượng gắn với đầu tư nguồn lực.

Tóm lại, mục tiêu cuối cùng của chúng tôi là hướng công tác kiểm định ngày càng chuyên nghiệp và thực chất, giúp các nhà trường hiểu rõ nội lực của mình, cải tiến chất lượng để khẳng định thương hiệu và tạo nền tảng cho phát triển bền vững. Áp lực kiểm định, nếu được quản lý tốt, sẽ trở thành động lực mạnh mẽ để hệ thống giáo dục đại học Việt Nam tiếp tục tiến lên.

- Xin trân trọng cảm ơn ông ■

Chúng ta đã có 8 Trung tâm Kiểm định Chất lượng Giáo dục trong nước được cấp phép hoạt động và 11 tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục nước ngoài được phép hoạt động tại Việt Nam. Về hội nhập quốc tế của các tổ chức kiểm định, bước đầu chúng ta cũng đạt được chỉ tiêu đặt ra. Đã có ít nhất 60% tổ chức kiểm định tham gia mạng lưới QA quốc tế hoặc thiết lập hợp tác (như với INQAAHE, APQN, ASEAN-QA), vượt mức yêu cầu 50%.

Có thể bạn quan tâm

Xây dựng văn hóa hành động trong đội ngũ cán bộ

Xây dựng văn hóa hành động trong đội ngũ cán bộ

Tâm lý e ngại, sợ sai, sợ rủi ro và thói quen đùn đẩy trách nhiệm của một bộ phận cán bộ đã được nhận diện là một “điểm nghẽn của mọi điểm nghẽn”, làm trì hoãn không ít cơ hội phát triển của đất nước. Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của cán bộ, đảng viên đánh dấu bước đột phá về định hướng tư duy trong công tác cán bộ.

Cán bộ đồn biên phòng Phó Bảng (Tuyên Quang) lắng nghe ý kiến của bà con. Ảnh: Thành Đạt

Khơi dậy khát vọng cống hiến cho đất nước

Trong hành trình dựng nước và giữ nước, dân tộc ta chưa bao giờ thiếu người dám nghĩ, dám làm, dám xông vào nơi đầu sóng ngọn gió để mở đường cho cuộc sống. Từ khát vọng chinh phục thiên tai của người nông dân đến tính tiên phong, bản lĩnh của những cán bộ trước một quyết định lớn, luôn là nguồn sức mạnh đưa đất nước tiến lên. Nghị quyết số 24 -NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị, vì thế, không chỉ đáp ứng yêu cầu công tác cán bộ, mà còn khơi dậy khát vọng chinh phục đã được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử, làm nên cốt cách con người Việt Nam.

TS Nguyễn Viết Chức - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội.

“Nghị quyết 24 đã đánh đúng và trúng vào điểm nghẽn của công tác cán bộ”

Để luận giải sâu hơn về những “nút thắt” thể chế được tháo gỡ cũng như tính khả thi khi đưa Nghị quyết số 24-NQ/TW vào đời sống, phóng viên Báo Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với TS Nguyễn Viết Chức - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội. 

Lãnh đạo Thành ủy Quảng Ninh cùng phường Bãi Cháy và các cơ quan chức năng trực tiếp tháo gỡ khó khăn cho các dự án chậm tiến độ trên địa bàn phường.

Khuyến khích hành động và kiểm soát rủi ro bằng thể chế

Nhiều năm qua, thực tiễn đã chứng minh Quảng Ninh luôn là một trong những địa phương được Trung ương đánh giá cao về tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đi trước, làm trước với những kết quả tích cực, qua đó tạo sự phát triển vượt bậc, bứt phá.

Cán bộ xã Sơn Tây Thượng (Quảng Ngãi) hướng dẫn người dân trồng cà-phê xen canh.

Những chuyển động từ cơ sở

Sau một năm triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, bộ máy hành chính tỉnh Quảng Ngãi đã có nhiều chuyển biến rõ nét. Việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền giúp chính quyền cơ sở tự tin, chủ động đưa nhiều quyết sách hợp với thực tiễn, đáp ứng được yêu cầu đổi mới.

Chương trình nghệ thuật đặc biệt Xuân Quê hương 2026. Ảnh: An Đăng

Nối vòng tay lớn, phát huy nguồn lực kiều bào

Trong giai đoạn phát triển mới, việc ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW là yêu cầu khách quan, đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về người Việt Nam ở nước ngoài và công tác người Việt Nam ở nước ngoài.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và đại diện cộng đồng người Việt Nam tại Canada. Ảnh: Thống Nhất

Tầm nhìn chiến lược trong giai đoạn phát triển mới

Nhất quán tinh thần đoàn kết trong đường lối chiến lược về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW - văn kiện chính trị quan trọng thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược của Đảng trong giai đoạn phát triển mới.

TS Trần Hải Linh.

Hun đúc sức mạnh đại đoàn kết vì khát vọng chung

Thực tế minh chứng, đại đoàn kết không thể chỉ được thể hiện bằng khẩu hiệu mà phải được cụ thể hóa bằng cơ chế tham gia, đối thoại, phản biện, ghi nhận và sử dụng thực chất những đóng góp của kiều bào. Đó là khẳng định của TS Trần Hải Linh, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nhân và Đầu tư Việt Nam-Hàn Quốc, Chủ tịch sáng lập Hội Chuyên gia, Trí thức Việt Nam-Hàn Quốc, khi trả lời phỏng vấn Nhân Dân cuối tuần.

Trại hè "Việt Nam 2026 - tôn vinh tiếng Việt gắn kết cộng đồng" được tổ chức dành riêng cho con em kiều bào ở xa Tổ quốc. Ảnh: UBNVNONN

Giữ tiếng Việt - Giữ một con đường trở về quê hương

Dù ở Tokyo, Paris, Seoul, Bangkok, Vientiane hay bất cứ nơi nào trên thế giới, khi một người trẻ tự hào nói hai tiếng Việt Nam, chúng ta biết rằng quê hương vẫn đang hiện diện trong trái tim các em. Bởi vậy, gìn giữ tiếng Việt không đơn thuần là gìn giữ sự tồn tại của một ngôn ngữ, mà đó là giữ một con đường trở về quê hương.

Cộng đồng người Việt tại Nga - nhịp cầu vững chắc nối tình hữu nghị Việt-Nga. Ảnh: Tâm Hằng

Chất xúc tác khơi lên tiềm lực kiều bào

Hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ hướng về quê hương, mà nhờ sự gắn kết của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, có thể cùng hơn 100 triệu người Việt Nam trong nước tạo thành một mạng lưới chung của trí tuệ, khát vọng và hành động.

Nghị quyết số 23-NQ/TW mang tới những định hướng quan trọng và rất mới về giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và tăng cường gắn kết với quê hương. Ảnh: Xuân Giao

Xây những nhịp cầu mang văn hóa Việt Nam ra thế giới

Bên cạnh câu hỏi quen thuộc “Kiều bào có thể đóng góp gì cho đất nước?”, chúng ta cần đặt thêm một câu hỏi quan trọng không kém: “Đất nước có thể tạo điều kiện ra sao để kiều bào phát huy tốt nhất khả năng đóng góp của mình?”. Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt đối với một cộng đồng đông đảo, đa dạng và có lịch sử hình thành rất khác nhau như người Việt Nam ở nước ngoài.

Minh họa: PHAN DUY THANH

Thách thức trong kỷ nguyên dữ liệu

Trong thời đại mà mỗi phần trăm thành tích đều được đo đạc và tối ưu bằng dữ liệu, thế giới đã bước sang cuộc đua mới, nơi cảm biến và những con số có thể quyết định ranh giới thắng thua.

Vận động viên Hoàng Quý Phước là trường hợp hiếm hoi thuộc chương trình thí điểm khoa học đặc thù.

Khoảng trống còn thiếu

Muốn chinh phục mục tiêu giành từ năm đến bảy Huy chương vàng ASIAD, và phấn đấu có thành tích ổn định ở các kỳ Olympic, thể thao Việt Nam cần nhanh chóng ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào công tác đào tạo và huấn luyện vận động viên. Tuy nhiên, đây vẫn đang là mắt xích yếu nhất, đồng thời là bài toán lớn đầy thách thức ở thời điểm hiện tại.

Chuyên gia Dương Đức Thủy

“Chúng ta đã có máy, nhưng lại để trong kho!”

Đó là câu mà chuyên gia Dương Đức Thủy thốt lên trong cuộc trả lời phỏng vấn Nhân Dân cuối tuần. Bởi, vấn đề của điền kinh Việt Nam không chỉ là thiếu thiết bị, mà là thiếu cả thói quen dùng dữ liệu và tư duy chuyên nghiệp, từ nhà quản lý đến chính vận động viên.

Hệ thống SportVU tạo ra cuộc cách mạng ở nhiều môn thể thao tại Mỹ.

Từ tên lửa đến vạch ba điểm

Từ những năm 2005, hai nhà khoa học Israel với chuyên môn theo dõi tên lửa, Gal Oz và Miky Tamir, đã mang phương pháp định vị vật thể trong môi trường biến động đến với thể thao.

Nguyễn Thanh Nhàn ăn mừng bàn thắng mang về Huy chương vàng SEA Games 33, với chiếc "áo yếm" Catapult bên trong.

Cất cánh trên đường băng công nghệ

Thể thao không còn thuần túy là trò chơi của con người, khi những ứng dụng khoa học công nghệ đã đi sâu vào từng ngõ ngách, giúp các chuyên gia “số hóa” năng lực vận động viên bằng hồ sơ vận động chi tiết, từ đó nâng hiệu quả tập luyện và thi đấu.

Công nghệ TrackMan thay đổi hoàn toàn tư duy huấn luyện, sang áp dụng khoa học dữ liệu. Ảnh: Thành Đạt

Bệ phóng cho những “cỗ máy” bắn bóng

Dù sở hữu hệ thống sân tập, thi đấu tiêu chuẩn, cùng số lượng người chơi tăng nhanh, golf Việt Nam vẫn gặp nhiều thách thức trong quá trình đào tạo vận động viên đỉnh cao.

Cầu Trần Hưng Đạo (Hà Nội), công trình hạ tầng trọng điểm, được đẩy nhanh tiến độ từ các chính sách khơi thông nguồn lực đất đai theo Luật Đất đai năm 2024. Ảnh: Thành Đạt

Thể chế hóa chủ trương, mở đường cho phát triển

Trong giai đoạn phát triển mới, việc sửa đổi Luật Đất đai năm 2024 hướng tới thể chế hóa và hiện thực hóa tinh thần xuyên suốt trong Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.

Dự án Luật Đất đai (sửa đổi) được kỳ vọng sẽ khơi thông nguồn lực đất đai và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, tổ chức, doanh nghiệp. Ảnh: Thành Đạt

Định vị vai trò mới trong phát triển đất nước

Khi mục tiêu phát triển thay đổi, từ vai trò đến tư duy quản lý, cách thức sử dụng đất đai cũng phải thay đổi. Đây được xác định là nhiệm vụ quan trọng, đã được Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan chỉ rõ.

Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức lấy ý kiến góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi). Ảnh: Hữu Hùng

Hoàn thiện cơ chế, tháo gỡ triệt để vướng mắc phát sinh

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của cơ quan chịu trách nhiệm soạn thảo, cơ quan thẩm định, các chuyên gia, luật sư đối với nội dung dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), nhằm đẩy nhanh tiến trình thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng, tạo môi trường đầu tư minh bạch hơn, dư địa khai thác hiệu quả hơn nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế-xã hội và tiếp tục tháo gỡ triệt để vướng mắc phát sinh trong quá trình thực thi.

Cơ sở dữ liệu đất đai và cơ sở dữ liệu công chứng có chức năng khác nhau nhưng bổ trợ cho nhau.

Bảo đảm an toàn pháp lý trong giao dịch đất đai

Nội dung Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã cơ bản thể chế hóa đầy đủ các chủ trương lớn của Đảng về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, vẫn có một số vấn đề cần tiếp tục được rà soát, làm rõ, nhất là trong quy trình giao dịch đất đai.

Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã có nhiều điểm mới về hình thức bồi thường, chất lượng và địa điểm tái định cư cho người bị thu hồi đất. Trong ảnh: Người dân bị thu hồi đất phục vụ mở đường ở Đê La Thành về tái định cư tại Khu CT3 Nghĩa Đô, TP Hà Nội. Ảnh: HIẾU MINH

Minh bạch giá đất và phương án phục hồi sinh kế

Đã có nhiều điểm mới về hình thức bồi thường, chất lượng và địa điểm tái định cư, suất tái định cư tối thiểu cũng như cơ chế xác định giá bồi thường. Song, để bảo đảm tốt hơn quyền lợi của cả chủ đầu tư lẫn người có đất bị thu hồi và hạn chế vướng mắc trong giải phóng mặt bằng, Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) vẫn cần tiếp tục hoàn thiện một số quy định về vấn đề minh bạch giá đất và phương án phục hồi sinh kế.

Không gian trải nghiệm sáng tạo tại Trường Phổ thông dân tộc nội trú Trung học phổ thông tỉnh Lai Châu khuyến khích học sinh làm quen, thực hành kỹ thuật tạo hình truyền thống của các dân tộc tại địa phương. (Trong ảnh: Các em học sinh trải nghiệm thực hành kỹ thuật vẽ sáp ong của đồng bào Mông hoa). Ảnh: Vũ Công

Hoàn thiện hệ sinh thái giáo dục nghệ thuật hiện đại

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Một trong những mục tiêu đến năm 2030 mà Nghị quyết đề ra là 100% học sinh, học viên, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân được tiếp cận, tham gia hiệu quả, thường xuyên các hoạt động nghệ thuật, giáo dục di sản văn hóa.

Học phần Trải nghiệm hoạt động mỹ thuật của sinh viên Khoa Sư phạm Mỹ thuật, Trường đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương hiện được tích hợp đa dạng các hình thức đánh giá, khuyến khích sự sáng tạo của sinh viên. Nguồn ảnh: NUAE-Khoa Sư phạm Mỹ thuật.

Thúc đẩy tích hợp và tiếp cận liên ngành

Việc các cơ sở giáo dục đẩy mạnh chuyển đổi số, khai thác học liệu số, tăng cường thực hành, trải nghiệm đồng thời phối hợp với các tổ chức, cá nhân triển khai đa dạng các hoạt động giáo dục nghệ thuật trong và ngoài nhà trường, khuyến khích học sinh sáng tạo, cảm thụ và phát huy giá trị văn hóa truyền thống thể hiện rõ tinh thần đổi mới giáo dục nghệ thuật ở nước ta.

Giảng viên và sinh viên Khoa Nghệ thuật, Trường đại học Sư phạm Hà Nội tham gia Chương trình văn nghệ chào mừng “80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam”, tháng 1/2026.

Dịch chuyển phương pháp, chú trọng nguồn lực

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số nhà nghiên cứu, giảng viên, giáo viên bậc phổ thông về cách thức đổi mới giáo dục nghệ thuật, mức độ ứng dụng công nghệ trong giảng dạy và học tập, giúp cả thầy và trò vừa phát huy được tinh thần sáng tạo, nâng cao nhận thức thẩm mỹ, vừa góp phần bảo tồn, nhân lên giá trị nghệ thuật truyền thống của dân tộc.

Học sinh Trường tiểu học Phương Mai, Thành phố Hà Nội, tham dự Chương trình giao lưu Giáo dục kỹ năng tham gia giao thông an toàn cấp tiểu học năm học 2025-2026.

Để học sinh được sống trong âm nhạc

Giờ đây, chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi học sinh có thể tiếp cận vô số ca khúc, thể loại và xu hướng âm nhạc của Việt Nam cũng như thế giới. Nhưng nghe nhiều không đồng nghĩa với biết nghe; tiếp xúc âm nhạc thường xuyên cũng chưa chắc tạo nên năng lực cảm thụ âm nhạc. Bởi vậy, bên cạnh việc trang bị kiến thức, tăng cường các hoạt động trải nghiệm cần được xem là một nội dung quan trọng của giáo dục âm nhạc trong nhà trường.