Chuẩn hóa quy định ứng dụng AI trong đào tạo

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành công cụ quan trọng hỗ trợ đổi mới hoạt động giảng dạy và học tập trong bối cảnh chuyển đổi số giáo dục.

Ứng dụng công nghệ cho nghiên cứu, đào tạo tại Viện Công nghệ thông tin, Đại học Quốc gia Hà Nội. (Ảnh: DIỆP NGỌC)
Ứng dụng công nghệ cho nghiên cứu, đào tạo tại Viện Công nghệ thông tin, Đại học Quốc gia Hà Nội. (Ảnh: DIỆP NGỌC)

Tuy nhiên, tại nhiều trường đại học, việc ứng dụng AI vẫn thiếu định hướng và chưa được triển khai bài bản. Điều đó đòi hỏi cần có các quy định, quy chuẩn để việc này thật sự đạt hiệu quả.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư với sự phát triển mạnh mẽ của AI đang tạo ra những chuyển biến sâu sắc trong giáo dục đại học, góp phần đổi mới cả hoạt động giảng dạy, học tập và đánh giá.

Trong giảng dạy, AI hỗ trợ thiết kế học liệu, xây dựng câu hỏi, phản hồi tự động và chấm điểm giúp giảm tải hành chính và nâng cao hiệu quả sư phạm; đồng thời, cung cấp dữ liệu để cải tiến chương trình và theo dõi tiến độ học tập.

Trong học tập, AI mang đến trải nghiệm cá nhân hóa thông qua trợ lý học tập ảo, hệ thống gợi ý tài liệu, công cụ luyện viết và tự kiểm tra, nhờ đó sinh viên nâng cao khả năng tự học, chủ động và tương tác tốt hơn. AI cũng góp phần hình thành môi trường giáo dục thông minh, hỗ trợ quản lý đào tạo, phát hiện gian lận và bảo đảm đánh giá công bằng, tạo nền tảng cho cải tiến nội dung và phương pháp dạy học.

Với việc triển khai ngày càng rộng rãi trong giáo dục đại học, việc tích hợp AI vào giảng dạy và học tập không chỉ là lựa chọn công nghệ mà là yêu cầu chiến lược trong bối cảnh đổi mới giáo dục. Tuy nhiên, hiệu quả ứng dụng AI tại trường bị ảnh hưởng bởi nhận thức còn hạn chế khi cả người dạy và người học phần lớn mới chỉ dừng ở mức “biết công cụ”, chưa đạt đến mức “sử dụng có trách nhiệm” theo chuẩn năng lực AI. Bên cạnh đó, việc thiếu hụt năng lực tích hợp công nghệ vào giảng dạy, thiếu chính sách và cơ chế hỗ trợ hệ thống phản ánh khoảng trống về năng lực số.

Khảo sát của tác giả Phạm Thị Chiêm (Trường đại học Công nghệ Đông Á) cho thấy, có 95% số sinh viên và 89% giảng viên từng sử dụng ChatGPT. Sinh viên dùng AI chủ yếu để tra cứu và viết bài, trong khi giảng viên tập trung vào soạn giảng và thiết kế câu hỏi. Tuy nhiên, chỉ 12,5% số giảng viên và 28,6% sinh viên hiểu rõ về AI; 50% giảng viên cho rằng thiếu các hướng dẫn chính thức, trong khi 60% sinh viên lo ngại về độ tin cậy công cụ; có 52% sinh viên và 42% giảng viên được khảo sát lo ngại đạo đức học thuật khi sử dụng AI.

Kết quả khảo sát cho thấy, các rào cản chính trong ứng dụng AI được xác định bao gồm: Thiếu hướng dẫn, lo ngại đạo đức, hạn chế kỹ năng công nghệ-sư phạm cùng chênh lệch nhận thức và tần suất sử dụng giữa hai nhóm đối tượng.

Theo các chuyên gia, ứng dụng AI trong giáo dục đại học cần được dẫn dắt bởi vai trò chủ động của nhà trường thông qua đào tạo, hỗ trợ kỹ thuật và ban hành chính sách phù hợp nhằm bảo đảm hiệu quả, minh bạch và đúng định hướng. Các trường đại học cần trang bị hệ thống cơ sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ, phương tiện để bảo đảm việc ứng dụng một cách thuận tiện, nhanh chóng, hiệu quả, nhất là nguồn dữ liệu tri thức đáp ứng yêu cầu của quá trình giảng dạy và học tập.

Theo tác giả nghiên cứu Phạm Thị Chiêm, cần tăng cường truyền thông và hướng dẫn để sinh viên nhận thức đúng về vai trò, giới hạn và rủi ro của việc sử dụng AI trong học tập; trong khi người dạy cần được tổ chức tập huấn theo lĩnh vực chuyên môn, hướng dẫn tích hợp AI vào thiết kế bài giảng, đánh giá người học. Các nhà trường cần xây dựng và ban hành chính sách sử dụng AI một cách minh bạch, bao gồm các quy định về đạo đức, tiêu chí đánh giá và mức độ chấp nhận AI trong hoạt động giảng dạy, học tập…

Tiến sĩ Nguyễn Đăng Khoa (Trường Công nghệ, Đại học Kinh tế Quốc dân) cho rằng, cơ quan quản lý nhà nước cần thể hiện rõ vai trò tạo ra một khung pháp lý cho sự phát triển ứng dụng AI trong lĩnh vực giáo dục. Trong đó, các quy định cần xác định mục tiêu, yêu cầu kỹ thuật và tiêu chuẩn chất lượng nhằm bảo đảm việc triển khai AI trong các cơ sở giáo dục sẽ được thực hiện một cách hiệu quả, an toàn và bền vững. Xây dựng chính sách tài trợ và học bổng nhằm khuyến khích giảng viên tham gia các khóa đào tạo chuyên sâu về AI, từ đó nâng cao năng lực của đội ngũ giảng dạy; học bổng và hỗ trợ tài chính đối với sinh viên theo học các ngành học liên quan AI và công nghệ cao...

Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết, đã xây dựng chiến lược sử dụng AI với mục tiêu tổng quát là ứng dụng AI một cách tổng thể và có hệ thống các hoạt động của ngành, hướng đến xây dựng một nền giáo dục số hiện đại, hiệu quả và bền vững. Ngày 30/6 vừa qua, Bộ ban hành Thông tư số 49/2026/ TT-BGDĐT quy định ứng dụng công nghệ trong giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp; lần đầu tiên, quy định về việc sử dụng AI trong đào tạo, nghiên cứu khoa học được ban hành.

Trong đó, việc phát triển năng lực số và năng lực AI trong cơ sở giáo dục đại học được thực hiện theo các quy định về khung năng lực số đối với người học, nhà giáo và các chuẩn năng lực, hướng dẫn có liên quan. Các cơ sở giáo dục đại học cần có quy định hoặc bộ quy tắc ứng xử về sử dụng AI trong hoạt động đào tạo, kiểm tra, đánh giá, nghiên cứu khoa học, quản trị và cung cấp dịch vụ phù hợp với điều kiện của cơ sở giáo dục.

Cùng với đó, phải bảo đảm người học, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu về năng lực số, năng lực trí tuệ nhân tạo và liêm chính học thuật trong môi trường số theo quy định.

Có thể bạn quan tâm

Một hội nghị của Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) trao đổi về công tác thanh tra xử lý vi phạm bản quyền về sở hữu công nghiệp.

Bước chuyển trong tư duy chính sách về sở hữu trí tuệ

Kết luận 51-KL/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh công tác sở hữu trí tuệ phục vụ phát triển kinh tế-xã hội trong tình hình mới đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy chính sách, đưa sở hữu trí tuệ từ công cụ bảo hộ quyền thành nguồn lực phát triển quốc gia, gắn với yêu cầu hoàn thiện thể chế và tổ chức thực thi đồng bộ.

Diễn đàn châu Âu-châu Phi nhằm tăng cường hợp tác trong kỷ nguyên số. (Ảnh: ACCORD)

Đối phó thách thức tin giả

Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở ra nhiều cơ hội thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, song cũng tạo ra những thách thức lớn. Nguy cơ lan truyền thông tin sai lệch gia tăng không chỉ ở những khu vực công nghệ chưa phát triển đồng đều như châu Phi mà ở cả những nơi đã phát triển mạnh mẽ như châu Âu. 

Tiến sĩ Hoàng Lương trao đổi với nhóm nghiên cứu về kết quả xử lý nước thải bằng công nghệ EBB (Ảnh: LƯƠNG HIẾU)

Ứng dụng “gạch sinh học” xử lý nước thải

Việc xử lý nước thải tại các khu dân cư, làng nghề, trang trại chăn nuôi ở Việt Nam gặp nhiều khó khăn như chi phí đầu tư cao, công nghệ xử lý phức tạp do nhiều loại nước thải đan xen và khó vận hành ở quy mô nhỏ…

Hoạt động nghiên cứu, thực hành tại Trường đại học Phenikaa. (Ảnh: VŨ THƠM)

Mô hình hợp tác “3 nhà” trong phát triển khoa học, công nghệ

Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là sự nghiệp của toàn dân, toàn hệ thống chính trị; trong đó, người dân và doanh nghiệp là trung tâm, chủ thể; nhà khoa học là nhân tố then chốt; Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, dẫn dắt và thúc đẩy.

Xã Phụng Hiệp, thành phố Cần Thơ lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.

Chuyển đổi số - “chìa khóa” vận hành hiệu quả chính quyền cơ sở

Thực hiện chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị theo yêu cầu đặt ra tại Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đã từng bước góp phần tạo đột phá trong xây dựng và vận hành chính quyền nhân dân.

Nông dân tham gia dự án hỗ trợ kinh doanh nông hộ tại Cao Bằng (Ảnh: VIỆT HÀ)

Chuyển giao công nghệ, đổi mới tư duy sản xuất

Chuyển giao khoa học và công nghệ đang góp phần đổi mới tư duy sản xuất, hình thành nhiều mô hình kinh tế và nâng cao năng lực công nghệ tại địa phương. Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả cao hơn, hoạt động này cần được đổi mới theo hướng gắn chặt với thị trường, doanh nghiệp và mục tiêu tăng trưởng.

Quang cảnh sự kiện Shopee Brands And Creators Summit 2026.

AI trở thành động lực tăng trưởng mới của thương mại điện tử

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của thương mại điện tử, không chỉ góp phần nâng cao trải nghiệm mua sắm, mà còn hỗ trợ doanh nghiệp tối ưu vận hành, mở rộng tiếp cận khách hàng và nâng cao năng lực cạnh tranh trong môi trường số.

Nghiên cứu khoa học tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Triển khai Nghị quyết 57: Tạo đột phá trong phát triển và trọng dụng nhân tài khoa học

Sau 18 tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, nhiều kết quả quan trọng đã tạo nền tảng cho phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, để tạo đột phá tăng trưởng, yêu cầu cấp bách hiện nay là xây dựng đội ngũ nhân lực chất lượng cao đủ năng lực làm chủ các công nghệ chiến lược.

Hội thảo “Kết nối 3 nhà - Huy động nguồn lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phục vụ phát triển kinh tế-xã hội thành phố Huế” diễn ra chiều 2/7 tại Huế.

Huế kích hoạt nền tảng số kết nối “3 nhà”: Biến bài toán thực tiễn thành động lực đổi mới sáng tạo

Từ quản lý đô thị thông minh, bảo tồn di sản đến phát triển kinh tế số, thành phố Huế đang đứng trước nhiều bài toán lớn cần lời giải. Nền tảng số kết nối “3 nhà” vừa được Huế ra mắt kỳ vọng sẽ tạo cơ chế liên kết thực chất giữa Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp để thúc đẩy phát triển.

Hoạt động nghiên cứu tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. (Ảnh: MẠNH XUÂN)

Chú trọng công tác nghiên cứu khoa học cơ bản

Trong đột phá phát triển khoa học, công nghệ, nghiên cứu khoa học cơ bản được xác định là nền móng tri thức, vấn đề chiến lược, liên quan trực tiếp đến mô hình phát triển, năng lực tự chủ và vị thế quốc gia.

Thiết bị đinh phản quang năng lượng mặt trời được lắp đặt thí điểm trên đoạn Quốc lộ 6 qua xã Vân Hồ (Sơn La) để đánh giá hiệu quả ứng dụng công nghệ mới trong bảo đảm an toàn giao thông.

Đưa năng lượng mặt trời vào hạ tầng giao thông đường bộ

Lần đầu tiên, hệ thống đinh phản quang sử dụng năng lượng mặt trời được Cục Đường bộ Việt Nam cho phép thí điểm trên Quốc lộ 6. Không chỉ hướng tới nâng cao an toàn giao thông tại các đoạn đường đèo dốc, mô hình còn mở ra hướng ứng dụng công nghệ xanh, thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý và khai thác kết cấu hạ tầng đường bộ.