Chủ động thay đổi để phát triển

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số nhà giáo, nghệ sĩ, nhà sưu tập trong và ngoài nước về sự chuyển dịch của vị thế mỹ thuật Việt Nam trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Nam nói riêng, trên bình diện quốc tế nói chung. 

Lê Anh Vân, Chiến lũy, sơn dầu, 100 x 129,5cm, 1984. trong Sưu tập của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.
Lê Anh Vân, Chiến lũy, sơn dầu, 100 x 129,5cm, 1984. trong Sưu tập của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.

Cùng với đó là những tin tưởng, mong chờ của họ về tương lai gần của nền mỹ thuật Việt Nam.

le-anh-van-abc.jpg

Phó giáo sư, Nhà giáo Nhân dân, họa sĩ Lê Anh Vân, nguyên Hiệu trưởng Trường đại học Mỹ thuật Việt Nam:

Giải pháp để thu hẹp khoảng cách

Thời điểm hiện nay, số lượng người Việt Nam trẻ sưu tập tranh ngày một nhiều. Họ không những có điều kiện tốt về tài chính mà còn chịu khó dành thời gian tự tìm đọc sách, nghiên cứu cẩn thận về những tác giả mà họ yêu thích, rồi tìm tới đặt vấn đề sưu tập. Họ có ý thức gây dựng từng bộ tranh theo chủ đề hoặc theo tác giả. Đấy là điều rất đáng quý.

Bên cạnh đó, còn có nhiều người ở các độ tuổi khác nhau cũng vẫn tiếp tục sưu tập tranh. Thực tế này phong phú hơn nếu so sánh với thế hệ đầu tiên của các nhà sưu tập mỹ thuật trong nước, số lượng rất ít ỏi và gần gần tuổi nhau. Số lượng người mua tranh, tượng vì yêu thích, để bài trí trong nhà cũng tăng lên nhiều so trước kia, cho thấy xã hội có xu hướng chú trọng nhu cầu nâng cao nhận thức thẩm mỹ.

Cách mà xã hội ứng xử với mỹ thuật luôn cho thấy sự trân trọng, cho dù chúng ta đang ở thời kỳ bùng nổ của truyền thông thị giác, nhất là khi trí tuệ nhân tạo AI “lên ngôi”. Tôi đã trải qua chuyện vui: một số cá nhân bất chợt bắt gặp hình ảnh tác phẩm của tôi trên internet đã chủ động tìm cách liên hệ tôi để xin quyền sử dụng. Hay việc nhiều tờ báo, tạp chí vẫn mời họa sĩ minh họa, vẽ tranh để làm bìa các số xuất bản đặc biệt là minh chứng cho sự trọng dụng của xã hội dành cho mỹ thuật.

Tuy nhiên, vẫn phải thẳng thắn nhìn nhận: Khoảng cách giữa mỹ thuật của nước ta với thế giới là không nhỏ. Để thu hẹp lại, có rất nhiều việc mà cơ quan chức năng cũng như các nhà trường đào tạo mỹ thuật cần phải chủ động làm nhiều hơn. Chẳng hạn, cần tổ chức thật nghiêm túc, bài bản việc giới thiệu nghệ thuật Việt Nam ra quốc tế, thông qua các cơ quan và tổ chức có tính chất đại diện. Tôi lấy thí dụ: nhân 100 năm Ngày khai giảng Khóa 1- Trường Mỹ thuật Đông Dương do chính người Pháp mở tại thủ đô Hà Nội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam đứng ra tổ chức triển lãm các tác phẩm mỹ thuật của những tác giả từng học tại ngôi trường này thời trước năm 1945 tại Paris, thủ đô của Pháp. Tôi tưởng tượng, đó sẽ là một sự kiện mang ý nghĩa văn hóa và lịch sử rất đặc biệt, sẽ mở ngỏ nhiều cơ hội khác cho mỹ thuật Việt Nam.

Một điều nữa, chúng ta có kho báu hội họa sơn mài, mà Trung Quốc từng cử họa sĩ sang tận Trường Mỹ thuật Hà Nội để học hỏi. Nhưng nay, để giới thiệu hội họa sơn mài Việt Nam ra thế giới, nếu ta không làm bài bản, làm sao thế giới họ hiểu đầy đủ được giá trị? Nhưng để làm được, lại cần phải đào tạo thật bài bản nhân lực trong lĩnh vực mỹ thuật, bên cạnh người sáng tác, còn là đội ngũ nghiên cứu, phê bình lý luận, giám tuyển, người làm truyền thông, tiếp thị nghệ thuật…

Sự năng động đổi mới nội dung giảng dạy và tăng cường hợp tác quốc tế của các cơ sở đào tạo bậc đại học và sau đại học về mỹ thuật là rất quan trọng. Từ gần 30 năm trước, Trường đại học Mỹ thuật Hà Nội (từ năm 2008 đến nay, mang tên Trường đại học Mỹ thuật Việt Nam) đã thường xuyên có các hợp tác quốc tế trong đào tạo, cung cấp thông tin về tình hình mỹ thuật thế giới. Tiếp đó, nhà trường từng mở một số môn học nghệ thuật thị giác đương đại… Tiếc là hướng tiếp cận quốc tế này dần dần không còn sôi nổi nữa.

Kỷ niệm 100 năm ngày khai giảng khóa học đầu tiên của Trường Mỹ thuật Đông Dương là thời cơ lớn để ngôi trường hôm nay nắm lấy, chủ động thay đổi mình để phát triển. Tôi mong là vậy.

oanh-1.jpg
Nghệ sĩ Phi Phi Oanh bên một tác phẩm của chị. Nguồn: Fost Gallery, Singapore

Phi Phi Oanh là nghệ sĩ người Mỹ gốc Việt, hiện được biết đến như một nghệ sĩ thị giác đương đại tên tuổi trong khu vực châu Á. Tác phẩm của chị được giới thiệu, sưu tập bởi nhiều bảo tàng, tổ chức nghệ thuật lớn trong khu vực châu Á.

Nghệ sĩ thị giác Phi Phi Oanh:

Mong chờ sự đổi mới về giáo dục nghệ thuật

Trong hai thập kỷ qua ở Việt Nam, tôi quan sát thấy sự cởi mở trong định nghĩa về nghệ thuật, cùng với sự chuyên nghiệp hóa của các nghệ sĩ. Điều này không thể diễn ra một cách tự nhiên mà phụ thuộc vào sự phát triển của toàn bộ hệ sinh thái chung quanh lĩnh vực sáng tạo, được hỗ trợ bởi các trường đại học, không gian triển lãm, các nhà nghiên cứu lịch sử, phê bình nghệ thuật và thị trường nghệ thuật.

Ngay từ những ngày đầu làm việc tại Việt Nam, tôi luôn cảm nhận được vị trí trung tâm của nghệ thuật trong xã hội. Nghệ thuật được coi trọng, với cảm xúc sâu sắc, và được nhìn nhận một cách có trách nhiệm thông qua các nguồn lực, thời gian, sự chú ý và nỗ lực của mọi người. Ngay cả ngày nay, bên dưới sự phức tạp, đa diện của biểu hiện nghệ thuật, sự chiếm ưu thế chi phối sáng tác của thị trường, vẫn còn nguyên ý thức sâu sắc về xây dựng bản sắc dân tộc và sự phản hồi tới bối cảnh xã hội, nếu cần thiết.

Tôi rất vui mừng về sự phát triển này bởi vì các giá trị và sự thịnh vượng của một xã hội không thể chỉ được đo lường bằng GDP, mà còn thông qua nghệ thuật như một sự tôn vinh năng lực con người và sự thể hiện suy nghĩ, cảm xúc của người dân.

Trên bình diện quốc tế, theo kinh nghiệm của tôi, tôi thấy các tổ chức uy tín kết nối hay không kết nối với nghệ sĩ Việt Nam không phải bởi vì họ là người Việt Nam mà vì cách họ đóng góp vào cuộc hội thoại, trao đổi nghệ thuật trong hiện tại. Như là cá nhân tôi, tôi vô cùng yêu tranh sơn mài, bị cuốn hút đặc biệt khi làm việc với sơn ta, bởi mối tương quan của chất liệu này với nơi chốn, khí hậu, và lịch sử; nó là một trong những chất liệu hấp dẫn và lôi cuốn nhất. Đối với tôi, nó là hiện thân, và có thể đóng góp vào sự phát triển của tư duy địa phương đồng thời cũng có thể cộng hưởng ở nước ngoài thông qua cách chúng ta chia sẻ mối bận tâm chung về sinh thái xã hội. Tôi luôn cảm thấy rằng, một khuôn khổ lý thuyết tinh tế hơn cho hội họa sơn mài sẽ đóng góp đáng kể vào sự phát triển của nó cũng như cách mà nó được tiếp nhận, đặc biệt là trong nghệ thuật đương đại. Tôi luôn cố gắng tạo ra những tác phẩm tương ứng với khuôn khổ như vậy, nhưng tôi tin rằng điều đó đòi hỏi sự cộng hưởng của cả cộng đồng nghệ thuật, và tất nhiên, đòi hỏi thời gian nữa.

Cho đến nay, khi nói đến "Việt Nam", chúng ta thường nhắc đến Hà Nội và Sài Gòn-Thành phố Hồ Chí Minh, những siêu đô thị với các trường nghệ thuật uy tín và đời sống văn hóa thịnh vượng. Tôi hy vọng rằng sự thịnh vượng này sẽ tạo ra những làn sóng lan tỏa ra các địa phương nhỏ hơn, và sự thịnh vượng này được theo đuổi bằng quy hoạch đô thị bền vững cùng các chính sách văn hóa phù hợp.

Tôi hiện sống và làm việc tại Đà Nẵng, nơi các con tôi theo học trường phổ thông công lập với chương trình học nghiêm ngặt về ngôn ngữ, toán và khoa học. Tuy nhiên, tôi mong chương trình giáo dục về nghệ thuật được cải thiện để tập trung vào giao tiếp thị giác, tư duy sáng tạo và giải quyết vấn đề. Các giáo viên mỹ thuật sẽ nhận được nhiều hỗ trợ đào tạo và thời gian hơn để hướng dẫn thế hệ trẻ về trí tuệ thị giác. Tôi cũng hy vọng trong tương lai gần, sẽ có thêm nhiều trung tâm giáo dục đại học trong các lĩnh vực sáng tạo để các thành phố nhỏ hơn, như Đà Nẵng, có thể tăng trưởng về nghệ sĩ, nghệ nhân và hệ sinh thái sáng tạo địa phương.

laurent.jpg

Laurent Colin là một người Pháp theo dõi và sưu tập nghệ thuật Việt Nam trong suốt hơn 30 năm qua, kể từ khi ông có khoảng thời gian ngắn làm việc trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam, đầu những năm 1990.

Ông Laurent Colin:

Nên ưu tiên hỗ trợ nghiên cứu

Khán giả quan tâm đến nghệ thuật thị giác luôn hạn chế về số lượng, thực tế này không chỉ riêng ở Việt Nam. Điều thú vị là hồ sơ về khán giả nội địa của mỹ thuật Việt Nam đã thay đổi đáng kể.

Trước đây, các nhà sưu tập chủ yếu là người nước ngoài hoặc người Việt Nam xa xứ; nay, có một thế hệ người Việt Nam tích cực mua các tác phẩm mỹ thuật nội địa. Trở thành một “nhà sưu tập” hiện là một loại “địa vị xã hội” ở Việt Nam, một dấu hiệu của sự thành công trong nghề nghiệp. Tuy nhiên, phần nhiều trong số những “nhà sưu tập” này chủ yếu coi nghệ thuật là một “khoản đầu tư”: Họ mua một “chữ ký” và coi một “bức tranh” là một món đồ có tính lịch sử, thay vì thật sự quan tâm đến chất lượng thẩm mỹ nội tại hay tính độc đáo của tác phẩm. Phần lớn số tác phẩm mà họ mua được cho là do những thế hệ sinh viên đầu tiên của Trường Mỹ thuật Đông Dương sáng tác. Về nguyên tắc, đây có thể là tin tốt nhưng trên thực tế, nó lại biểu hiện cho một thị trường nghệ thuật hoàn toàn chưa trưởng thành.

Điều kỳ cục là, 30 năm trước tại Hà Nội, tôi dễ dàng hiểu những nét tinh tế của nghệ thuật Việt Nam hơn khi trò chuyện với các nghệ sĩ (nói được tiếng Pháp) thuộc thế hệ đi trước, hay như với nhà phê bình Thái Bá Vân, những người chứng kiến ​​một thời kỳ nghệ thuật chưa phải là “thị trường”. Hiện giờ, vẫn còn đó những người chứng kiến thuộc thế hệ trẻ với con mắt tinh tường về nghệ thuật. Tuy nhiên, ý kiến ​​của họ hầu như không được quan tâm trước những giá trị mới do thị trường áp đặt.

Chưa hết, đời sống mỹ thuật ở Việt Nam còn bị “ô nhiễm” bởi những chuyên gia “tự xưng”, “nhà nghiên cứu/giám tuyển độc lập” được thúc đẩy bởi lợi ích kinh doanh cá nhân của họ. Đến nỗi, họ không giấu tham vọng viết lại lịch sử nghệ thuật Việt Nam bằng cách giao vai trò không chính danh cho một số người hoặc đã qua đời từ lâu hoặc bản thân những người này cũng không cần cách tiếp thị như vậy.

Trong bối cảnh này, nghệ thuật đương đại dường như vẫn bị phần lớn công chúng trong nước bỏ qua mặc dù một số phòng tranh ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đã có những tác phẩm chất lượng. Bên cạnh đó, nếu nhìn vào những gì được trưng bày tại các sự kiện triển lãm, hội chợ quốc tế, ta thấy phần lớn là tên tuổi nghệ sĩ Việt Nam được đào tạo ở nước ngoài, những người đôi khi thuận theo các quy tắc toàn cầu hóa với một chút khác biệt.

Các tổ chức nước ngoài chỉ quan tâm đến những gì họ biết về mỹ thuật Việt Nam, tức là rất ít. Các nhà đấu giá cũng như bảo tàng bên ngoài Việt Nam, đặc biệt là ở Pháp, tập trung vào một số tên tuổi của những người từng là sinh viên Trường Mỹ thuật Đông Dương, mà chủ yếu là những người đã tạo dựng sự nghiệp của họ tại Pháp. Những gì đã xảy ra trong đời sống mỹ thuật sau năm 1954 ở Việt Nam thật sự không được để tâm nhiều.

Nếu phải đưa ra một vài điều ước cho mỹ thuật Việt Nam trong tương lai gần, tôi sẽ nói:

Nghiên cứu nên được ưu tiên hỗ trợ để thu thập và phân tích chính xác, khách quan những thông tin liên quan đến lịch sử mỹ thuật Việt Nam, giống như ở bất kỳ quốc gia nào. Điều này đồng nghĩa với việc đào tạo và hỗ trợ tài chính cho các nhà nghiên cứu độc lập, ở cả Việt Nam và nước ngoài. Nghiên cứu phải được thực hiện tốt nhất bởi các nhà nghiên cứu (trong và ngoài Việt Nam) về lịch sử nghệ thuật, có nền tảng học thuật, có phương pháp luận và tốt nhất là nói tiếng Việt, nếu nhà nghiên cứu đến từ nước ngoài.

Giáo dục đến sau khi nghiên cứu đã thiết lập được bối cảnh và tham chiếu phù hợp. Giáo dục rõ ràng không chỉ giới hạn ở hệ thống giáo dục mà còn bao gồm các nhà đấu giá, tạp chí nghệ thuật, triển lãm, các phòng tranh. Nghệ thuật là thứ bạn cần học dần dần; con mắt là một loại "cơ bắp" mà bạn cần rèn luyện qua nhiều năm. Tôi chắc chắn rằng một ngày nào đó "những nhà sưu tập giàu có" của chúng ta sẽ thức tỉnh khi chất lượng, tính độc đáo, sự hiếm có, giá trị lịch sử... của khoản đầu tư của họ sẽ bị đặt câu hỏi và "bong bóng" tranh Đông Dương sẽ vỡ tung, để lại cho họ hàng tá "kiệt tác" trong những khung vàng với giá quá cao. Các nhà đấu giá ở nước ngoài và tại Việt Nam hãy dần dần hoạt động chuyên nghiệp, minh bạch và có đạo đức.

Tôi cũng muốn nói thêm rằng, đã đến lúc có nhiều nhà sưu tập trẻ quan tâm và ủng hộ nghệ thuật đương đại và các phòng tranh liên quan, đồng thời hạn chế tối đa việc nghe lời các giám tuyển.

hgk3205-salecat-61.jpg
Nguyễn Phan Chánh, Người bán gạo, mực tàu và bột mầu trên lụa, 64,5x50,5cm, 1932. Nguồn: Christie's

Có thể bạn quan tâm

Công binh mũ nồi xanh Việt Nam lần đầu làm nhiệm vụ tại châu Phi. Ảnh: Thành Đạt

Sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân

“Với việc lần đầu tiên Nghị quyết Đại hội Đảng xác định Ngoại giao, đối ngoại là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”, đối ngoại không đơn thuần là lĩnh vực quan hệ với bên ngoài mà đã trở thành cấu phần năng lực tổng hợp quốc gia. Đối ngoại không chỉ là nhiệm vụ của riêng cơ quan đối ngoại, mà là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị” – Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, trong lễ khai mạc Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 (ngày 1/8/2026, tại Hà Nội).

Quỹ “Truyền thống và Hữu nghị” trao tặng bằng khen những sinh viên có thành tích học tập xuất sắc.

Mang tri thức trở về

Từ nước Nga nhìn về quê hương, hầu như tất cả cộng đồng người Việt Nam tại Nga nói chung và đội ngũ trí thức... nói riêng đều có một niềm tin lớn lao đặt vào tương lai đất nước. Trong tinh thần chung đó, niềm mong mỏi được “trở về Việt Nam”, hay “kết thúc khóa học sớm để trở về Việt Nam” từ các chuyên gia, nghiên cứu sinh, sinh viên... để cống hiến, để làm việc, ngày càng trở nên thiết tha hơn.

Tác giả cùng Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại thành phố Saint Petersburg Evgeny Grigoriev (giữa) và Phó Chủ tịch Vyacheslav Kalganov (bên trái).

Con tàu lớn tiến nhanh về phía trước

Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại thành phố Saint Petersburg Evgeny Grigoriev bước vào cửa, Phó Chủ tịch Vyacheslav Kalganov lên tiếng: “Người bạn phóng viên Báo Nhân Dân à, anh biết đấy, một phần cuộc đời của ông Evgeny Grigoriev đây gắn liền với Đông Nam Á. Và khi tôi đến Ủy ban, ông ấy nói với tôi rằng, ông ấy chỉ có một đề nghị thôi, là hãy dành sự quan tâm lớn đến hợp tác với các nước Đông Nam Á, như Việt Nam, Lào, Campuchia”.

Phó Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế Trần Nhất Hoàng.

Sức mạnh mềm quốc gia có thể đến từ những điều thật giản dị

Được tổ chức định kỳ 5 năm, mỗi kỳ kéo dài sáu tháng, triển lãm World Expo (Expo) là một trong ba sự kiện có quy mô, ảnh hưởng lớn nhất toàn cầu, bên cạnh Cúp Bóng đá thế giới (World Cup) và Thế vận hội Olympic. Tại đây, nhà triển lãm của một quốc gia được ví như hình ảnh thu nhỏ của quốc gia đó, nơi thể hiện những nét đặc sắc nhất về văn hóa và con người, đồng thời chứa đựng một cách sống động những khát vọng chung về tương lai nhân loại.

Những người bạn du khách đến và mang về bao kỷ niệm khó quên với đất nước Việt Nam.

Ra về với hành lý đầy ắp kỷ niệm

Có những vị khách du lịch đến Việt Nam với một chiếc vali trống, rồi lấp đầy nó bằng những câu chuyện, những món ăn, những người bạn…, và cả lời hẹn tái ngộ. Ở chiều ngược lại, những người trẻ Việt Nam sống xa quê cũng đang tìm cách đưa tiếng Việt, những ký ức về quê hương đến với bạn bè quốc tế.

Đại sứ Cuba tại Việt Nam Rogelio Polanco Fuentes.

“Gìn giữ và làm phong phú thêm di sản hữu nghị Việt Nam – Cuba”

Trao đổi với Nhân Dân cuối tuần, Đại sứ Cuba tại Việt Nam Rogelio Polanco Fuentes bày tỏ niềm tin tưởng vào tương lai tươi sáng của mối quan hệ hữu nghị sắt son giữa hai dân tộc, cũng như những định hướng về chính sách đối ngoại được Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua.

Nền kinh tế có độ mở cao như Việt Nam rất cần những khuôn khổ hợp tác ổn định. Ảnh: Thành Đạt

Rộng mở không gian hợp tác kinh tế từ các FTA thế hệ mới

Mạng lưới các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới mà Việt Nam đã tham gia có độ phủ rộng hầu hết các châu lục, với gần 60 nền kinh tế có tổng GDP chiếm gần 90% GDP thế giới. Đây là cơ hội để Việt Nam kết nối sâu hơn vào chuỗi giá trị và mạng lưới sản xuất toàn cầu. Song, cơ hội chỉ trở thành sức bật khi Việt Nam chuyển hóa được các cam kết FTA thành động lực cải cách thể chế, nâng cấp doanh nghiệp.

Nghị quyết số 80-NQ/TW coi văn hóa là sức mạnh nội sinh, nguồn lực và là động lực của phát triển nhanh, bền vững. Trong ảnh: Chương trình “Tổ quốc trong tim” năm 2026 do Báo Nhân Dân tổ chức. Ảnh: Thành Đạt

Từ mùa thu độc lập đến sức mạnh văn hóa thời đại

Tám mươi mốt năm trước, mùa Thu năm 1945 mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam. Hôm nay, khi đất nước bước vào một chặng phát triển mới, nội hàm của khái niệm “độc lập” đang được làm giàu thêm bằng yêu cầu tự chủ phát triển, tự chủ sáng tạo và khả năng tự thích ứng của quốc gia.

“Kiến tạo” đã trở thành tư duy của một đất nước ngày càng chủ động đóng góp cho hòa bình, ổn định, phát triển và thịnh vượng. Ảnh: Thành Đạt

Lợi ích dân tộc trong lợi ích chung nhân loại

81 năm đã đi qua kể từ thời khắc lịch sử huy hoàng “trời thu xanh ngát sáng Tuyên ngôn”. Hơn tám thập niên là một quãng thời gian đủ dài để một dân tộc đi qua biết bao biến thiên thời cuộc, bao thăng trầm lịch sử

Cần nhiều biện pháp chuyên nghiệp hóa lĩnh vực trồng trọt. Ảnh: Thành Đạt

Chuyên nghiệp hóa bằng chuỗi giá trị

Quá trình phát triển nền nông nghiệp hiện đại sẽ khó đạt mục tiêu, khi tính kỷ luật trong sản xuất không được tuân thủ triệt để. Dù công nghệ có phát triển, cơ giới hóa được đẩy mạnh, nhưng nếu vẫn là tư duy sản xuất nhỏ lẻ, đất đai phân tán, lạm dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật... thì chất lượng bữa ăn của người dân vẫn chưa thật sự an toàn.

Thời gian qua, không ít hội thảo được tổ chức, tìm giải pháp ứng dụng chế phẩm sinh học trong sản xuất nông nghiệp. Nguồn: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Phú Thọ

Chìa khóa cho phát triển xanh

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) sinh học, còn gọi là chế phẩm sinh học, được xem là chìa khóa để phát triển nông nghiệp xanh, an toàn, bảo vệ môi trường.

Ông Nghiêm Quang Tuấn.

Chặn mối nguy từ hàng hóa có độ rủi ro cao

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là hàng hóa có mức độ rủi ro cao. Nhìn nhận về nguy cơ từ những vi phạm chung quanh sản phẩm này, ông Nghiêm Quang Tuấn, Phó Cục trưởng Trồng trọt và Bảo vệ thực vật - Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị: Cần xây dựng các quy định hướng dẫn và lộ trình áp dụng truy xuất nguồn gốc một cách minh bạch.

Kỹ sư giới thiệu về phương pháp chăm sóc rau công nghệ cao.

Kinh nghiệm từ hợp tác xã “ngôi sao”

Giữa vùng đất Đà Lạt nổi tiếng cả nước về sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Tân Tiến (phường Lâm Viên-Đà Lạt, Lâm Đồng) đã chọn hướng đi phù hợp, mang lại hiệu quả cao.

Không ít hợp tác xã, nông hộ đầu tư nông nghiệp sạch, nhưng khó tiếp cận thị trường.

Xoay xở giữa khó khăn

Nhiều hợp tác xã (HTX) phát triển nông sản sạch, an toàn đang phải tự “bơi” trước hàng loạt rào cản như: Thủ tục, chi phí chứng nhận, kinh nghiệm đưa hàng vào siêu thị, hạn chế về marketing, thương hiệu và nhất là thiếu vốn đầu tư. Sản phẩm làm ra đạt chất lượng, nhưng để đến được thị trường vẫn là một hành trình đầy gian nan.

Sơ chế, đóng gói sản phẩm rau xanh tại HTX Chúc Sơn để cung cấp cho người dân Thủ đô Hà Nội. Ảnh: Vũ Sinh

Bịt lỗ hổng truy xuất, ngăn chặn thực phẩm bẩn

Quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm thời gian qua là vấn đề được Đảng, Nhà nước và Chính phủ đặc biệt quan tâm, với việc ban hành Luật An toàn thực phẩm cùng hệ thống các văn bản dưới luật. Công tác quản lý chất lượng thực phẩm cũng đã có những quy định cụ thể về hồ sơ, truy xuất nguồn gốc, song vẫn tồn tại nhiều lỗ hổng đáng lo ngại.

Tại Tỉnh Thái Nguyên, các cây máy điện tử tự phục vụ (Kiosk) tích hợp AI được bố trí ở hầu khắp các Trung tâm phục vụ hành chính công cấp xã. Ảnh: Hải Thắng

Xu hướng tất yếu trong mô hình quản trị mới

Trong bối cảnh cả nước đang đẩy mạnh chuyển đổi số, chính quyền cơ sở cần có thêm những công cụ đủ mạnh để xử lý khối lượng dữ liệu ngày càng lớn, phức tạp. Sử dụng hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong xử lý công việc hành chính công đã là một xu hướng tất yếu.

Chị Ngô Thị Minh Trinh (thứ ba từ trái sang), Bí thư Đảng ủy xã Ea Knuếc (tỉnh Đắk Lắk) thường xuyên trực tiếp tham gia các phiên livestream quảng bá, bán nông sản cho bà con địa phương.

Củng cố niềm tin nhờ “Dân vận khéo”

Triển khai vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, cấp xã là nơi đảm trách nhiệm vụ trực tiếp giải quyết phần lớn công việc của người dân, doanh nghiệp và xã hội. Điều đó đòi hỏi một sự thay đổi thực chất trong phương thức lãnh đạo, điều hành của đội ngũ cán bộ cơ sở.

Trong điều kiện đẩy mạnh xây dựng chính quyền số, yêu cầu nâng cao năng lực số, tư duy số và kỹ năng làm việc trong môi trường số của cán bộ cơ sở là bắt buộc.

Thiết lập nền hành chính hiện đại

Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở “ngang tầm nhiệm vụ” không chỉ là câu chuyện về số lượng cán bộ hay bằng cấp có được, mà quan trọng hơn là cách tổ chức, sử dụng và phát huy năng lực, ý thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.

GS, TS Phùng Hữu Phú, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương.

Giải quyết tận gốc bài toán thể chế, cơ chế bảo vệ cán bộ cơ sở

Kỳ vọng lớn từ chủ trương chọn năm 2026 là “Năm cán bộ cơ sở” chỉ có thể trở thành hiện thực nếu chúng ta giải quyết tận gốc bài toán thể chế, cơ chế bảo vệ cán bộ và quan trọng nhất là trả công tác cán bộ về đúng bản chất: Tìm đúng người yêu dân, vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Phóng viên Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với GS, TS Phùng Hữu Phú, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương chung quanh vấn đề này.

Công an xã Sín Thầu (tỉnh Điện Biên) hỗ trợ đồng bào dân tộc người Hà Nhì làm các thủ tục hành chính. Ảnh: Thành Đạt

Gia tăng năng lực tuyến đầu của quản trị công

Chưa bao giờ yêu cầu đặt ra đối với cán bộ cơ sở lớn như hiện nay. Khi chính quyền địa phương 2 cấp đi vào vận hành, cấp xã trở thành tuyến đầu của quản trị công, gánh trên vai nhiều trọng trách với phương thức hoạt động hoàn toàn mới. Việc lấy năm 2026 là “Năm cán bộ cơ sở” vì thế không chỉ là khâu đột phá mà còn là kế hoạch lâu dài. Không như trước, công chức xã bây giờ phải là người kiến tạo phát triển ở cơ sở.

Nâng bước thanh niên kiến tạo kỷ nguyên Xanh

Nâng bước thanh niên kiến tạo kỷ nguyên Xanh

Phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh lần thứ XIII và nhiều diễn đàn về thanh niên, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm luôn nhấn mạnh yêu cầu khơi dậy mạnh mẽ khát vọng cống hiến, tinh thần tiên phong và trách nhiệm của tuổi trẻ đối với những nhiệm vụ chiến lược của đất nước. Vì thế, trên hành trình hiện thực hóa mục tiêu Net Zero, thanh niên không chỉ là lực lượng tham gia, mà còn phải trở thành chủ thể của quá trình chuyển đổi. 

Trên hành trình hướng đến mục tiêu xanh, thanh niên đang từng bước trở thành chủ thể trực tiếp của phát triển.Ảnh: AGriS

THẾ HỆ NET ZERO - lực lượng quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia

Chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững không còn là những lựa chọn mang tính khuyến khích, mà đã trở thành điều kiện để mỗi quốc gia duy trì sức cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu nhiều biến động. Trong cuộc đua ấy, quốc gia nào chuẩn bị tốt hơn nguồn nhân lực cho nền kinh tế xanh sẽ có lợi thế cạnh tranh trong nhiều thập niên tới.

Với lợi thế công nghệ, thanh niên ngày nay hoàn toàn có thể tham gia hiện đại hóa nông nghiệp. Ảnh: TTXVN

Hiện thực hóa khát vọng bằng hành động

LTS - Từ những chiến dịch tình nguyện vì môi trường, các dự án khởi nghiệp xanh đến những sáng kiến công nghệ phục vụ cộng đồng, thanh niên Việt Nam đang ngày càng hiện diện rõ nét trong hành trình hiện thực hóa mục tiêu phát thải ròng bằng “0”. Đằng sau những chuyển động ấy là vai trò kết nối, dẫn dắt của tổ chức Đoàn cùng tinh thần dấn thân của một thế hệ trẻ sẵn sàng biến khát vọng cống hiến thành những hành động cụ thể. Góc nhìn từ cán bộ Đoàn và các bạn trẻ tiêu biểu cho thấy: Net Zero không còn là một mục tiêu vĩ mô, mà đang được hiện thực hóa từ chính những việc làm gần gũi mỗi ngày.

Dự án Hải Lưu Ngược đã kết hợp truyền thông văn hóa với công nghệ thực tế tăng cường để tuyên truyền bảo vệ môi trường.

Bền vững bắt đầu từ ý tưởng, thực thi

Hành trình chuyển dịch xanh của một quốc gia không thể đơm hoa kết trái, nếu chỉ dừng lại ở những tiếng hô hào hay các bản đề xuất nằm trên giấy. Phát triển bền vững đòi hỏi tư duy hành động thực chất, được bảo chứng bằng năng lực thực thi bài bản.

Những cánh đồng mía bất tận khiến Trần Nguyễn Huy Ninh ngỡ ngàng, thay đổi hoàn toàn cái nhìn về nông nghiệp hiện đại. Ảnh: AgriS

Hãy hình dung về một nền nông nghiệp rất khác!

Tôi sinh ra trong một gia đình làm nông nghiệp truyền thống tại Đà Lạt, vì vậy hình ảnh đầu tiên trong ký ức tôi về nghề nông là những buổi sáng bắt đầu từ rất sớm, những mùa vụ phụ thuộc nhiều vào thời tiết và nỗi lo thường trực về giá cả, sâu bệnh, năng suất…

Hiện nay, không ít cơ hội đang mở ra để các bạn trẻ tiếp cận những nguồn vốn cho các ý tưởng xanh. Trong ảnh: Hội thảo “Kết nối những nhà đổi mới nổi bật cho các hành động bền vững” (P4G) do Mạng lưới Thanh niên Hành động vì Khí hậu YNet Việt Nam, Đại học Công nghệ Đan Mạch (DTU) tổ chức.

Đứng chân trên bản đồ nghề nghiệp mới

Khi các doanh nghiệp phải thay đổi để đáp ứng những tiêu chuẩn xanh ngày càng khắt khe của thị trường toàn cầu, một “bản đồ nghề nghiệp” mới cũng dần hình thành. Với thanh niên, đó là cơ hội để khởi nghiệp, để đổi mới sáng tạo và trực tiếp góp phần hiện thực hóa mục tiêu Net Zero của đất nước.