Cần hành động ngay để thúc đẩy cổ phần hóa, thoái vốn

Có thể nói, vấn đề thoái vốn, cổ phần hóa trong thời gian qua đang chững lại và chậm so yêu cầu đề ra. Trả lời Nhân Dân cuối tuần, Cục trưởng Tài chính doanh nghiệp (Bộ Tài chính) Đặng Quyết Tiến chỉ ra những bài học kinh nghiệm sâu sắc rút ra từ giai đoạn 2016-2020.

Cần hành động ngay để thúc đẩy cổ phần hóa, thoái vốn

Những chậm trễ trong thực hiện tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước không thể né tránh trách nhiệm của chính các doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp chậm, cả tiến trình sẽ chậm. Lúc này, sự chủ động của doanh nghiệp rất cần.

- Ông nhìn nhận thế nào về quá trình cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2016-2020?

Trong giai đoạn 2016-2020 chúng ta chưa đạt mục tiêu kế hoạch đề ra, dù trên thực tế con số có thể cao hơn. Cụ thể, giai đoạn 2016-2020 chúng ta chỉ đạt 30% kế hoạch CPH đề ra. Lũy kế giai đoạn 2016-2020, đã có 180 doanh nghiệp được cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án CPH với tổng giá trị doanh nghiệp là 489.690 tỷ đồng, trong đó giá trị vốn nhà nước là 233.792 tỷ đồng. Tuy nhiên, trong 180 doanh nghiệp đã CPH chỉ có 39/128 doanh nghiệp CPH thuộc danh mục cổ phần hóa theo Công văn số 991/TTg-ĐMDN và Quyết định số 26/2019/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (đạt 30% kế hoạch).

Năm 2021, cũng chỉ ghi nhận bốn doanh nghiệp cổ phần hóa với tổng giá trị doanh nghiệp là 333 tỷ đồng, trong đó giá trị thực tế phần vốn nhà nước là 196 tỷ đồng. Tương tự, về công tác thoái vốn, lũy kế tổng số thoái vốn từ năm 2016-2020: thoái 27.312 tỷ đồng, thu về 177.397 tỷ đồng. Có thể nói vấn đề thoái vốn, cổ phần hóa trong thời gian qua đang chững lại và chậm so yêu cầu đề ra.

- Cũng trong giai đoạn này, hệ thống cơ chế, chính sách pháp luật phục vụ quá trình cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước đã được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện. Phải chăng chính sách vẫn chưa đến được với thực tế, thưa ông?

Có ba nguyên nhân dẫn đến tình trạng nói trên. Thứ nhất, do nền kinh tế của chúng ta có những biến động trong bối cảnh kinh tế chính trị thế giới có những biến động với chiến tranh thương mại Mỹ-Trung Quốc, dịch Covid-19 diễn ra và kéo dài đến hiện nay. Tuy nhiên, nguyên nhân chủ quan vẫn là những nguyên nhân chính dẫn đến sự chậm trễ của cổ phần hóa, thoái vốn. Đặc biệt là do nhận thức. Trong nhận thức vẫn còn tư tưởng ngại thậm chí không muốn cổ phần hóa. Bên cạnh đó, có những vấn đề phát sinh trong cổ phần hóa, những vướng mắc xảy ra còn sự tranh luận khác nhau và vẫn chưa thống nhất trong vấn đề đưa vào thể chế để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Thứ hai, trong tổ chức thực hiện, các tập đoàn, tổng công ty còn lúng túng ở hai vấn đề: Việc xây dựng danh mục đưa vào cổ phần hóa chưa sát, dẫn đến cổ phần hóa doanh nghiệp ngoài danh mục thực hiện được nhiều hơn trong danh mục. Các doanh nghiệp còn lúng túng trong vấn đề chuẩn bị cổ phần hóa, đặc biệt là khi áp dụng Luật Quản lý tài sản công, sắp xếp lại cơ sở nhà đất, đến khi cổ phần hóa, doanh nghiệp mới vội vàng sắp xếp, trong khi việc sắp xếp lại nhà đất không phải chỉ doanh nghiệp cổ phần hóa mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải sắp xếp. Chính vì sắp xếp chậm nên còn lúng túng, dẫn đến kéo dài thời gian chuẩn bị cổ phần hóa, dẫn đến nhiều doanh nghiệp sau nhiều năm vẫn chưa sắp xếp xong. Mặt khác, dù là vấn đề do lịch sử để lại song việc sắp xếp lại nhà đất trở thành vấn đề tồn tại, bất cập, và cũng mang tính chủ quan của những người đứng đầu doanh nghiệp. Thứ ba, trong công tác kiểm tra giám sát. Chúng ta có kiểm tra giám sát, có đánh giá, có chỉ ra chỗ này chỗ kia cổ phần hóa chậm, nhưng sau đó xử lý như thế nào, kiểm điểm trách nhiệm ra sao thì còn thiếu chế tài, dẫn đến tính thực thi pháp luật, tuân thủ mệnh lệnh cấp trên, của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ còn chưa cao.

- Ông có thể nói rõ hơn việc còn nhiều quan điểm khác nhau về nguyên nhân nhận thức trong quá trình thực hiện dẫn tới quá trình cổ phần hóa bị chậm trễ?

Thực tế, một trong những nguyên nhân dẫn tới cổ phần hóa chậm trễ do nhận thức còn nhiều quan điểm khác nhau về các vấn đề như: xác định giá trị lợi thế, giá trị đất đai, giá trị lịch sử văn hóa... Bên cạnh đó, vấn đề xử lý những tồn tại trong quá trình sắp xếp đất đai còn có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng lại chậm được các cơ quan chức năng tháo gỡ, các thể chế chậm được ban hành. Thí dụ, việc sửa những vấn đề vướng mắc trong cổ phần hóa thì tới năm 2020 chúng ta mới ban hành Nghị định 140/NĐ-CP, còn việc sắp xếp đất đai theo Luật Quản lý tài sản công thì đến năm 2021 chúng ta mới ban hành Nghị định 67/NĐ-CP sửa Nghị định 167/2017/NĐ-CP. Rõ ràng, đây là vấn đề phải tuân thủ pháp luật, nhưng hệ thống thể chế chậm được ban hành thì doanh nghiệp thực hiện gặp vướng mắc cũng sẽ bị chậm.

- Thưa ông, từ những đúc kết nói trên, có thể đưa ra những giải pháp gì thúc đẩy cổ phần hóa trong giai đoạn tới?

Tôi cho rằng, muốn thúc đẩy cổ phần hóa, thoái vốn, cần tập trung vào những vấn đề sau: Cần xử lý, sắp xếp nhà đất để bảo đảm thúc đẩy sản xuất, kinh doanh chính, thay vì sau cổ phần hóa, doanh nghiệp lại đi vào kinh doanh bất động sản, không đúng với mục tiêu đặt ra; sắp xếp đất đai để tiết kiệm nguồn lực bằng cách thu hồi lại các nguồn lực để giải phóng nguồn lực đó cho các thành phần kinh tế khác. Đây là mục tiêu đòi hỏi phải có giải pháp căn cơ. Đồng thời, rà soát lại khâu chuẩn bị cổ phần hóa, khâu xác định giá trị doanh nghiệp, xem còn vấn đề gì bất cập, chưa chính xác, chưa sát thực tế, sau đó hoàn thiện thể chế theo hướng cơ chế thị trường, công khai minh bạch, tôn trọng việc thẩm định giá của các cơ quan tư vấn thẩm định giá tuân thủ theo các quy định thẩm định giá, như vậy để tránh được sự can thiệp của cơ quan quản lý nhà nước vào vấn đề định giá mà không theo cơ chế thị trường…

- Tuy nhiên, làm thế nào để xác định đúng giá trị doanh nghiệp và có nên tách sắp xếp đất đai ra khỏi quá trình cổ phần hóa hay không, thưa ông?

Đây là hai vướng mắc lớn nhất cản trở quá trình cổ phần hóa thời gian qua. Với vai trò là cơ quan ban hành chính sách, Bộ Tài chính sẽ nghiên cứu để hoàn thiện khung pháp lý về các vấn đề. Thứ nhất, về định hướng tách giá trị đất ra khỏi phương án tính giá trị cổ phần hóa thì phải rà soát, tính toán kỹ để bảo đảm tính đúng, tính đủ, tránh thất thoát, phải bảo đảm đất đai được quản lý chặt chẽ, tránh bị lợi dụng. Thứ hai, về định giá, phải làm sao tính đúng tính đủ, nhưng phù hợp thực tiễn.

Để đưa ra quy định cụ thể, một cơ chế chính sách rõ ràng, Bộ Tài chính sẽ cần tiếp tục phải lắng nghe nhiều hơn, bên cạnh ý kiến của các chuyên gia, các Tập đoàn, Tổng công ty, thì cần lắng nghe ý kiến của các thành phần kinh tế khác. Khi hội tụ đủ ý kiến của các thành phần liên quan, nhiều chiều, chiếu theo các quy định của pháp luật, định hướng của Đảng, chúng ta mới ban hành được cơ chế chính sách phù hợp để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Trước mắt, trong giai đoạn phục hồi nền kinh tế cần phải có ngay những hành động tháo gỡ trong khuôn khổ pháp luật cho phép để thúc đẩy cổ phần hóa, thoái vốn ở mức hợp lý.

-Trân trọng cảm ơn ông!

Cần hành động ngay để thúc đẩy cổ phần hóa, thoái vốn -0

PGS, TS Trần Hoàng Ngân - Thành viên Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội:

Chậm mà chắc hơn nhanh mà thất thoát

Thời gian qua, vấn đề được phản ánh nhiều, gây nhiều bức xúc là chậm cổ phần hóa. Nhưng chậm cũng chưa chắc là không tốt, vì thế cần có sự phân biệt. Chậm bán cổ phần của Nhà nước, nhưng nếu doanh nghiệp nhà nước hoạt động hiệu quả thì khi cổ phần hóa lại thu được nhiều tài sản hơn. Bên cạnh đó, là cách thức thoái vốn nữa. Làm chậm, nhưng chắc vẫn hơn làm nhanh, vội vã mà lại để xảy ra thất thoát. Đã có thời kỳ chúng ta nóng vội, dẫn đến thất thoát tài sản, mất mát cán bộ. Chậm mà kỹ, để rà soát lại luật pháp, thể chế, làm đúng quy định, thậm chí có cách thoái vốn khôn khéo để thu về cho Nhà nước nhiều nhất có thể thì vẫn tốt hơn là nhanh mà ẩu.

Nhưng đất đai đúng là một vấn đề lớn, vì thị trường đất đai tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và các thành phố lớn đang rất biến động. Tôi nhớ Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư hướng dẫn về vấn đề đất đai cách đây một năm (Thông tư số 03/2021/TT-BTNMT - PV), nhưng như Bộ trưởng Bộ Tài chính vừa cho biết, vừa qua tài sản Nhà nước bị thất thoát nhiều qua cổ phần hóa chủ yếu liên quan đến đất. Khung khổ pháp lý hiện nay có những bất cập. Theo Nghị định 32 của Chính phủ, tài sản doanh nghiệp gắn liền với đất thuê hằng năm không được tính vào giá trị doanh nghiệp, nhưng nộp tiền đất một năm thì lại được gắn vào giá trị doanh nghiệp. Bộ trưởng Hồ Đức Phớc nhìn nhận "đây là lỗ hổng cần xử lý để không thất thoát đất đai khi chuyển sang cổ phần hóa doanh nghiệp". Bên cạnh đó là vấn đề chuyển mục đích sử dụng đất không sát giá thị trường, tạo ra thất thoát khi tài sản nhà nước chuyển qua tài sản tư nhân… Những bất cập này - và có thể còn nhiều điều khác nữa - cần sớm được khắc phục.

CẨM HÀ (thực hiện)

Cần hành động ngay để thúc đẩy cổ phần hóa, thoái vốn -0

Ông Dương Quang Thành, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN):

Thúc đẩy chuyển đổi vì mục tiêu doanh nghiệp số

Để nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, nhất là trong công tác đầu tư nhằm khơi thông nguồn lực, phát huy vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội, EVN đã hoàn thành chuyển Tổng công ty phát điện 2 và 3 sang công ty cổ phần, đang triển khai các bước cổ phần hóa Tổng công ty Phát điện 1; hoàn thành thoái toàn bộ vốn tại ba công ty cổ phần, gồm: Công ty Tài chính cổ phần Điện lực (EVNFinance); Công ty cổ phần Cơ điện Thủ Đức (EMC); Công ty cổ phần Phong điện Thuận Bình (TBW) với tổng giá trị thu về là 634,360 tỷ đồng, thặng dư 171,155 tỷ đồng.

Sau khi Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 852 phê duyệt Đề án tổng thể sắp xếp, tái cơ cấu doanh nghiệp thuộc EVN giai đoạn 2017-2020, ngày 31/7/2017, Hội đồng Thành viên EVN đã xây dựng kế hoạch chi tiết, ban hành Chỉ thị chỉ đạo công tác triển khai, phê duyệt Đề án tái cơ cấu cho các Tổng công ty thuộc EVN, đồng thời, chuyển giao Công ty Nhiệt điện Nghi Sơn 1 từ EVN về Tổng công ty Phát điện 1; thành lập mới các đơn vị (03 Ban QLDA điện 1, 2, 3; Trung tâm Dịch vụ sửa chữa EVN; xây dựng Đề án tách bạch về tổ chức khâu phân phối và khâu kinh doanh bán lẻ điện của các Tổng công ty Điện lực (TCTĐL) thuộc EVN, định hướng đến năm 2025; chuyển Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia (A0) thành công ty TNHH MTV, hạch toán độc lập trong EVN; thành lập Trung tâm Đào tạo và Nghiên cứu khoa học thuộc EVN; phê duyệt Đề án tách bạch khâu dịch vụ sửa chữa với khâu quản lý vận hành các nhà máy điện, lưới điện truyền tải và lưới điện phân phối của các đơn vị trong EVN…

Thực hiện Nghị quyết 68/NQ-CP của Chính phủ, EVN đang đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển các công nghệ tiên tiến của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thực hiện chuyển đổi số trong các lĩnh vực để sớm đưa EVN trở thành doanh nghiệp số; tiếp tục đổi mới trong công tác quản lý; chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, đáp ứng mục tiêu "Nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp"; tiếp tục hoàn thiện các nội dung quản trị tài sản theo hướng chuyên biệt; duy trì văn hóa doanh nghiệp với các giá trị cốt lõi như tận tâm-trí tuệ, chất lượng-tín nhiệm, hợp tác-chia sẻ, sáng tạo-hiệu quả; tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng đội ngũ chuyên gia chuyên sâu, xác định khung năng lực cần có cho các vị trí chuyên gia hướng đến các chuẩn mực ngang tầm khu vực và quốc tế; kết nối mạng lưới các ứng viên chuyên gia để cùng chia sẻ, hỗ trợ nhau giải quyết công việc hiệu quả hơn; người lao động trong mọi lĩnh vực được nhanh chóng tiếp cận kiến thức thông qua việc ứng dụng công nghệ thông tin rộng rãi trong quản trị nhân sự...

Để bảo đảm nguồn vốn đáp ứng nhu cầu đầu tư, EVN tiếp tục áp dụng một số chiến lược huy động vốn như: Đẩy mạnh việc vay vốn trực tiếp không có bảo lãnh Chính phủ từ các ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính nước ngoài, bao gồm cả vay vốn thông qua và không thông qua ECA; kiên trì tiếp cận nguồn vốn ODA/vốn ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài để đầu tư cho các dự án điện; tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các tổ chức tài chính trong và ngoài nước để đa dạng nguồn vốn vay, bao gồm cả các nguồn vốn viện trợ (EU, USTDA...); tiếp tục cải thiện Hệ số tín nhiệm của Công ty mẹ EVN và các đơn vị thành viên để tăng cường khả năng tiếp cận thị trường vốn quốc tế; tiếp tục đề nghị được bố trí nguồn vốn NSNN thực hiện triển khai đầu tư các dự án cấp điện nông thôn, miền núi, hải đảo nhằm tạo động lực xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần góp phần thực hiện công bằng, an sinh xã hội, tăng cường khối đại đoàn kết giữa các dân tộc, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, ổn định chính trị, giữ vững an ninh quốc phòng, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và biển đảo của Tổ quốc; tạo điều kiện chuyển đổi cơ cấu sản xuất của người dân khu vực nông thôn miền núi và hải đảo.

NGUYỄN THANH MAI (Thực hiện)

Có thể bạn quan tâm

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.

Diễn giả Nguyễn Quốc Vương trong một lần chia sẻ về văn hóa đọc với các em học sinh. Ảnh: NVCC

Như mạch nước kiên trì lan tỏa

Năm nay đánh dấu 10 năm tôi theo đuổi con đường khuyến đọc. Trong 10 năm đó, tất cả công việc của tôi đều tập trung vào hoạt động khuyến đọc bao gồm viết, đọc, nói (diễn thuyết). Và thật sự, con đường này vẫn vô cùng gian nan.

Không ít bạn trẻ lướt mạng thay vì đọc sâu. Ảnh: VĂN HỌC

Dừng lại, suy ngẫm và chuyển hóa

Khi sự chú ý liên tục bị phân tán bởi các luồng thông tin ngắn, phản hồi tức thời, việc dành thời gian cho một cuốn sách, ý tưởng hay quá trình suy tư ngày càng trở nên khó khăn.

Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương Bằng

Nông nghiệp với ngã rẽ chuyển đổi tư duy

Biến đổi khí hậu cùng với các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, sản xuất xanh và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chuẩn bắt buộc, để nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải chuyển đổi tư duy sản xuất, tập trung vào chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng.

Châu thổ Cửu Long.

Kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Trước câu hỏi, đâu là mô hình tăng trưởng phù hợp để vừa phát huy những lợi thế sẵn có vừa giữ gìn bản sắc văn hóa sông nước vùng châu thổ Cửu Long? Nhân Dân cuối tuần đã ghi lại những ý kiến trao đổi của lãnh đạo các địa phương.

Hàng loạt công trình hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia được đầu tư xây dựng, góp phần kiến tạo động lực để vùng Đồng bằng sông Cửu Long cất cánh. Trong ảnh: Thi công cao tốc trục ngang Châu Đốc - Trần Đề. Ảnh: Phương Bằng

Vận hội vươn mình trước làn sóng đầu tư

Sau nhiều thập niên là “vùng trũng” về hạ tầng giao thông và thu hút đầu tư, Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước vận hội mới. Những tuyến cao tốc, trục dọc, đường ngang, đường vành đai ven biển, ven biên giới, nhiều cầu lớn vượt sông dần nên hình hài... góp phần vào việc thu hẹp khoảng cách kinh tế một cách nhanh chóng và tạo đà tăng trưởng mạnh mẽ.

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Du lịch trải nghiệm (Experiential travel) hay còn có cái tên khác là du lịch hòa nhập (Immersive travel) đã và đang hiện diện ngày càng rõ ràng hơn trong nhiều loại hình sản phẩm khác nhau ở Việt Nam, với một điểm chung: Yếu tố trải nghiệm luôn được ưu tiên ở vị trí số một.

Du khách trải nghiệm làm rối nước tại thôn Bàn Thạch (tên nôm là thôn Rạch), phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: LƯƠNG VĂN PHƯƠNG

Thước đo mới cho giá trị điểm đến

Là một xu hướng mới tại Việt Nam, đặc biệt từ sau đại dịch Covid-19, du lịch trải nghiệm khuyến khích du khách tối đa hóa các giá trị nhận lại từ điểm đến bằng cách hòa mình kết nối và trở thành một phần của đời sống, văn hóa địa phương, thay vì chỉ đóng vai trò quan sát, nhìn ngắm hời hợt.

Du khách học cách làm món đồ uống độc đáo cà-phê trứng của Hà Nội. (Nguồn ảnh: Dine With Locals)

Cách để “bán” câu chuyện cuộc sống

Truyền thống lịch sử lâu đời cùng địa lý đa dạng và nền văn hóa giàu bản sắc là nền tảng, điểm tựa để Việt Nam phát triển du lịch bền vững với phong phú yếu tố trải nghiệm. Chung quanh chủ đề này, Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia và người trực tiếp làm công tác quản lý, vận hành dịch vụ/ mô hình du lịch trải nghiệm ở Việt Nam.

Khách du lịch tham gia các hoạt động trải nghiệm trong tour Về làng học thêu tay. Ảnh: DÃ LIÊN

Tạo sức hút và năng lực cạnh tranh mới

Mô hình trải nghiệm làng nghề ở Hà Nội đã có từ lâu, như ở làng gốm Bát Tràng, song phần lớn đều dừng ở mức đơn giản, nặng tính “cưỡi ngựa xem hoa”, hoặc như một gia vị cho hoạt động tham quan. Thời gian gần đây, nhiều làng nghề đã đổi mới cách làm, từ đó tạo nên sức hút và năng lực cạnh tranh mới.

Trước mắt anh Phương Nam, Côn Đảo mở ra biết bao nhịp sống xanh, nguyên sơ, trong trẻo. Ảnh: MINH LÊ

Những “điểm chạm” nguyên sơ, trong trẻo

Côn Đảo lâu nay thường được nhắc đến như một vùng đất chứa đựng ký ức lịch sử bi tráng của dân tộc, với hệ thống nhà tù của thực dân và đế quốc cùng những trang sử đấu tranh của các chiến sĩ cách mạng. Nhưng đối với nhiều du khách, sau những “điểm chạm” vào thiên nhiên ở nơi này, Côn Đảo còn là biết bao nhịp xanh, nguyên sơ, trong trẻo.

Bên cạnh gia đình luôn là khoảng thời gian chất lượng để vun trồng một thế hệ hạnh phúc. Ảnh: UNICEF Việt Nam

Hôm nay, tôi đã lắng nghe con mình chưa?

Trong nhiều cuộc tiếp xúc với phụ huynh, rất nhiều cha mẹ chia sẻ với tôi một nguyện vọng rất thật: “Mong con được hạnh phúc”. Song, khi được hỏi: “Hạnh phúc là gì?”, nhiều người lại ngập ngừng.

Bà Nguyễn Phạm Duy Trang.

An toàn là nền móng của hạnh phúc!

Mùa hè không chỉ là khoảng thời gian nghỉ ngơi, vui chơi của trẻ em, mà còn là thời điểm đặt ra nhiều nỗi lo về an toàn, sức khỏe tinh thần và môi trường phát triển của các em trong bối cảnh xã hội hiện đại.

Ước mơ trở thành phi hành gia của bạn Nguyễn Lê Hà Vy, lớp 5B, Trường tiểu học Phúc Tân.

Ðiều chúng em mong muốn!

Trong guồng quay hối hả của cuộc sống hiện đại, nhiều khi những mong mỏi của trẻ em chưa được lắng nghe, chưa được thấu cảm trọn vẹn. Cần lắm những diễn đàn, những kênh kết nối để trẻ em được cất tiếng nói.

Ảnh sử dụng đồ hoạ AI.

Agentic AI - Cơ hội không chia đều cho tất cả

Năm 2026, Agentic AI nổi lên như hiện tượng công nghệ định hình lại cách thế giới làm việc. Bài toán đặt ra cho Việt Nam không còn là "có nên ứng dụng", mà phải "làm thế nào để bắt kịp và làm chủ" trong bối cảnh công nghệ đang tái định nghĩa năng suất, lao động và lợi thế cạnh tranh.