Các nhà khoa học nữ ngày càng có nhiều đóng góp quan trọng

Bằng những công trình nghiên cứu có giá trị khoa học và thực tiễn, các nhà khoa học nữ đã có những đóng góp tích cực và đáng kể trong nhiều lĩnh vực. Họ chính là những đóa hoa của trí tuệ và ánh sáng tri thức, là niềm tự hào của nền khoa học nước nhà.
Tiến sĩ Lê Thị Phương (đứng giữa) cùng nhóm nghiên cứu tham dự Hội nghị Vật liệu sinh học thế giới - WBC 2024 tại Hàn Quốc.
Tiến sĩ Lê Thị Phương (đứng giữa) cùng nhóm nghiên cứu tham dự Hội nghị Vật liệu sinh học thế giới - WBC 2024 tại Hàn Quốc.

Nữ giáo sư trẻ của ngành tâm lý học

Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Hoàng Minh sinh năm 1979, hiện đang là Chủ nhiệm Khoa Các khoa học giáo dục kiêm Viện trưởng Viện Nghiên cứu lâm sàng về xã hội tâm lý và giáo dục, Trường đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội). Chị là giáo sư trẻ nhất được phong năm 2023 và hiện nay cũng là giáo sư trẻ nhất ngành tâm lý học.

Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Hoàng Minh có một niềm say mê đặc biệt với ngành Tâm lý học. Chị lớn lên trong gia đình có cha mẹ làm trong ngành Giáo dục và Y tế. Năm 1997, khi bạn bè đều chọn thi vào các trường đại học thuộc khối kinh tế vốn đang được ưa chuộng về khả năng việc làm và phát triển sau khi tốt nghiệp, thì Đặng Hoàng Minh lại chọn ngành Tâm lý học.

Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Hoàng Minh kể: "Mẹ tôi là một bác sĩ chuyên điều trị các vấn đề về tâm thần cho bệnh nhân có nói rằng, thế kỷ tới sẽ là thế kỷ của ngành tâm lý, bởi vì khi xã hội phát triển hơn, việc hiểu biết con người về mặt tâm trí sẽ càng quan trọng. Thế hệ chúng tôi lúc học phổ thông gần như không biết gì nhiều về khía cạnh tâm lý, nhưng khi bước chân vào đại học ngành tâm lý tôi khám phá ra thật nhiều điều thú vị".

Chị Đặng Hoàng Minh chọn chuyên ngành tâm lý lâm sàng, quan tâm và nghiên cứu những vấn đề về rối loạn tâm trí con người, những rối loạn liên quan tâm lý và hành vi ứng xử của con người. Nữ giáo sư, Tiến sĩ kể: "Khi học các bệnh về tâm thần, tôi nhận thấy có những bệnh nhân não và thực thể không có tổn thương nhưng lại đau bụng hay liệt tay chân như là có liên quan các dây thần kinh. Thực chất ra họ đang mắc các vấn đề liên quan tâm trí, đó gọi là tâm bệnh".

Sau khi tốt nghiệp ngành tâm lý học của Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) chị Đặng Hoàng Minh nhận bằng thạc sĩ vào năm 2002 và đến năm 2007, nhận bằng Tiến sĩ ngành tâm lý học tại Đại học Toulouse II-Le Mirail (Pháp), sau đó tiếp tục thực tập sau Tiến sĩ tại Đại học Vanderbilt (Mỹ).

Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Hoàng Minh đã qua nhiều vị trí công tác như: Điều phối viên chương trình thạc sĩ Tâm lý học hướng nghiệp-Viện quốc gia về lao động hướng nghiệp Pháp (L’INETOP), Trung tâm Đại học Pháp và Khoa sư phạm (Đại học Quốc gia Hà Nội); điều phối viên chương trình thạc sĩ và tiến sĩ học lâm sàng, Giám đốc Trung tâm Thông tin hướng nghiệp và nghiên cứu ứng dụng tâm lý, Chủ nhiệm Bộ môn Giáo dục và Trị liệu, Trường đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội).

Chị cũng từng là Thư ký, sau đó là Chủ tịch Hội đồng khoa học liên ngành Tâm lý- Giáo dục, Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (Nafosted), Giám đốc Quỹ Tài năng trẻ Tâm lý-Giáo dục, Hội Khoa học tâm lý-Giáo dục Việt Nam…

Trong chuyên ngành tâm lý học lâm sàng, Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Hoàng Minh nghiên cứu theo ba hướng chính. Hướng thứ nhất là các vấn đề tâm bệnh của trẻ em và vị thành niên. Các nghiên cứu đánh giá tỷ lệ các rối loạn tâm thần ở trẻ em và vị thành niên Việt Nam như rối loạn, trầm cảm, lo âu, trải nghiệm tuổi thơ tiêu cực, các công cụ đánh giá tâm bệnh.

Hướng thứ hai là năng lực sức khỏe tâm thần của các nhóm dân số khác nhau. Các nghiên cứu tập trung phân tích kiến thức, thái độ của người dân về sức khỏe tâm thần… cũng như các chương trình nâng cao năng lực sức khỏe tâm thần.

Hướng thứ ba là xây dựng và triển khai các chương trình trị liệu tâm lý và can thiệp sức khỏe tâm thần, đặc biệt là các chương trình dựa vào trường học. Giáo sư Đặng Hoàng Minh đã hướng dẫn bốn nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án tiến sĩ, đã hoàn thành hai đề tài nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, ba đề tài cấp Nhà nước, năm đề tài quốc tế, công bố 90 bài báo khoa học, trong đó có 23 bài báo khoa học trên tạp chí quốc tế có uy tín, xuất bản 18 cuốn sách thuộc các nhà xuất bản uy tín.

Là một nhà nghiên cứu, nhà giáo đồng thời là nhà trị liệu, Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Hoàng Minh rất trăn trở về các vấn đề liên quan sức khỏe tâm thần trong xã hội hiện đại. Chị cho biết, nước ta hiện có tới 20-25% dân số có vấn đề về sức khỏe tâm thần, 50% trong số này liên quan giới trẻ. Những vấn đề về sức khỏe tâm thần thường được khởi phát từ rất sớm, ở độ tuổi 13-14.

Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Hoàng Minh đặc biệt quan tâm vấn đề giáo dục, tư vấn, chăm sóc sức khỏe tâm thần trong trường học. Chị cùng các cộng sự của mình đang thực hiện nhiều dự án vừa trị liệu, vừa nâng cao hiểu biết của mọi người về các vấn đề liên quan sức khỏe tâm thần. Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Hoàng Minh cho biết: "Hiện nay, trong trường học có sự tham gia của các chuyên viên tham vấn tâm lý cho học sinh, tuy nhiên ở trường công việc đó là các giáo viên làm kiêm nhiệm mà chưa hẳn đã có vị trí tuyển dụng.

Trong ngành y tế thì từ năm 2023, tâm lý lâm sàng đã trở thành một chuyên ngành được Bộ Y tế công nhận phải có chứng chỉ hành nghề. Điều này bảo đảm về một công việc ổn định, rõ ràng cho những sinh viên theo học ngành tâm lý lâm sàng. Đây sẽ là khởi đầu tốt cho công tác đào tạo và thực tế cho thấy, mấy năm gần đây, số sinh viên theo học ngành tâm lý ngày càng nhiều hơn".

Đam mê phát triển khoa học vật liệu ứng dụng trong y học

Với niềm đam mê và tinh thần nhiệt huyết nghiên cứu khoa học, sau hơn 12 năm gắn bó với lĩnh vực khoa học vật liệu, Tiến sĩ Lê Thị Phương, Phó Trưởng phòng Vật liệu sinh dược, Viện Khoa học vật liệu ứng dụng (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) đạt nhiều thành tích nổi bật, trong đó sở hữu một bằng độc quyền sáng chế quốc tế, hai bằng độc quyền sáng chế quốc gia.

Tiến sĩ Lê Thị Phương (37 tuổi) là một trong những nhà khoa học nữ trẻ trong nghiên cứu khoa học vật liệu, nhất là trong nghiên cứu các vật liệu phục vụ điều trị ung thư và ứng dụng trong y học.

Sau khi tốt nghiệp ngành Kỹ thuật hóa học của Trường đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh), chị Phương về làm việc ở Viện Khoa học vật liệu ứng dụng, nơi vun đắp tình yêu với con đường nghiên cứu khoa học, từ đó có cơ hội làm nghiên cứu sinh tại Đại học Ajou (Hàn Quốc) trong 10 năm.

Tiến sĩ Phương kể: Quãng thời gian học tập tại Hàn Quốc, chị phải vượt qua nhiều khó khăn, vất vả nhưng nỗ lực đó giúp nhận lại nhiều thành tựu đáng kể trong sự nghiệp nghiên cứu. Mang theo những bài báo khoa học cũng như công trình nghiên cứu được đăng ký bằng sáng chế, sở hữu quốc gia/quốc tế, đầu năm 2022, Tiến sĩ Phương quyết định trở về Việt Nam tiếp tục hành trình đam mê với khoa học tại Viện Khoa học vật liệu ứng dụng.

Một trong những công trình nghiên cứu nổi bật của Tiến sĩ Lê Thị Phương là phát triển một hệ thống liệu pháp kết hợp hai phương thức: Liệu pháp khí và bỏ đói, nhằm tăng cường hiệu quả điều trị ung thư. Hệ thống này được chế tạo dựa trên sự kết hợp của ba thành phần chính: Glucose Oxidase (GOx), Nano oxit kẽm chức năng hóa, Axit tannic.

Tiến sĩ Lê Thị Phương nhấn mạnh đến ưu điểm nổi bật của vật liệu này là khả năng tấn công đa phương thức: Nó vừa "bỏ đói" khối u bằng cách làm cạn kiệt nguồn glucose, vừa cung cấp liệu pháp khí thông qua giải phóng NO. Sự kết hợp này cho phép hệ thống đạt hiệu quả tiêu diệt tế bào ung thư cao hơn, đồng thời giảm các tác dụng phụ so với các liệu pháp đơn trị liệu như hóa trị hay xạ trị.

Về mặt ứng dụng, vật liệu này đang được thử nghiệm trong các nghiên cứu in vivo (phương pháp nghiên cứu tác động của thuốc trên đối tượng là sinh vật sống), với công bố trên tạp chí quốc tế uy tín định hướng điều trị ung thư. Hướng nghiên cứu này không chỉ mở ra một mô hình điều trị "xanh" với tác dụng phụ không đáng kể mà còn hứa hẹn cung cấp một giải pháp mới, an toàn và hiệu quả cho những bệnh nhân ung thư trong tương lai.

Hướng nghiên cứu chính của Tiến sĩ Lê Thị Phương là phát triển các hệ hydrogel mới sử dụng các chất có hoạt tính sinh học (như kháng khuẩn, kháng viêm, ngăn ngừa hình thành sẹo) trong chữa lành vết thương được chiết xuất từ các dịch chiết dược liệu.

Theo Tiến sĩ Phương, đây là hướng nghiên cứu tuy không phải mới mẻ trên thế giới cũng như Việt Nam, nhưng có tính thực tiễn cao và cấp thiết, nhất là với những đất nước đang phát triển như Việt Nam. Bởi nó mở ra liệu pháp giúp chăm sóc sức khỏe bệnh nhân ngay tại nhà, kịp thời mà không cần phải đến bệnh viện cũng như yêu cầu tay nghề của bác sĩ, chuyên viên như khi sử dụng các biện pháp phẫu thuật, khâu vá vết thương truyền thống, từ đó có thể giảm áp lực lên ngành y tế.

Cùng hơn 40 bài báo khoa học trên các tạp chí uy tín quốc tế, một sách chuyên khảo chương trình dạy đại học và sau đại học, với những đóng góp quan trọng trong nghiên cứu khoa học vật liệu, một lĩnh vực nghiên cứu đầy thách thức, Tiến sĩ Lê Thị Phương đã được nhận Giải thưởng Khoa học-Công nghệ Quả cầu vàng (năm 2022) và top 10 gương mặt trẻ Việt Nam triển vọng năm 2022 (lĩnh vực nghiên cứu khoa học).

Hiện làm công tác thỉnh giảng ở nhiều trường, Viện như Trường đại học Tôn Đức Thắng, Trường đại học Trà Vinh, Trường đại học Lạc Hồng, Trường đại học Công nghệ Sài Gòn, Học viện Khoa học và Công nghệ..., Tiến sĩ Lê Thị Phương góp phần lan tỏa niềm say mê nghiên cứu khoa học tới sinh viên, đó là "Tuổi trẻ giữ ngọn lửa đam mê, đồng thời không được xa rời thực tế. Hãy làm việc, cố gắng không ngừng sáng tạo và đừng nản chí khi thất bại, thành công sẽ tìm đến với các bạn đúng thời điểm…". Còn với Tiến sĩ Phương, chị luôn tin rằng mọi thách thức đều là cơ hội để phát triển và khẳng định giá trị của bản thân trong lĩnh vực khoa học.

Có thể bạn quan tâm

Phối cảnh công trình biểu tượng bông lúa Cà Mau.

"Biểu tượng bông lúa" ở Cà Mau: Không thể bóp méo giá trị văn hóa bằng vỏ bọc "thương dân"

Sự phát triển của một địa phương trong kỷ nguyên mới không chỉ được đong đếm một cách cơ học bằng những con đường rải nhựa, hay những cây cầu bê-tông nối nhịp đôi bờ. Tầm vóc và sức sống của một vùng đất còn được khắc họa đậm nét qua những biểu tượng văn hóa mang tầm nhìn chiến lược.

Đào tạo an ninh mạng tại CyRadar giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực phòng thủ.

Tăng năng lực phòng vệ của doanh nghiệp

Chuyển đổi số đang mở ra nhiều cơ hội tăng trưởng cho doanh nghiệp Việt Nam nhưng cũng kéo theo những rủi ro an ninh mạng phức tạp. Khi dữ liệu trở thành tài sản chiến lược, khả năng bảo vệ hệ thống và thông tin không còn là vấn đề kỹ thuật mà trở thành năng lực phòng vệ quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp.

Hoạt động nghiên cứu tại Phòng Thí nghiệm trọng điểm Công nghệ Lọc, Hóa dầu (Viện Hóa học công nghiệp Việt Nam).

Đầu tư hạ tầng nghiên cứu cho công nghệ chiến lược

Phát triển hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia là một trong những giải pháp để hiện thực hóa mục tiêu đột phá về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo Nghị quyết 57-NQ/TW. Thực trạng lạc hậu về công nghệ đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tổ chức lại hạ tầng nghiên cứu theo hướng tập trung, đồng bộ và hiệu quả.

Phòng An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao Công an thành phố Đà Nẵng đấu tranh tội phạm trên không gian mạng. (Ảnh: Công Vinh)

Nâng cao ý thức làm chủ, bảo vệ không gian mạng

Tại Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm tiếp tục khẳng định chủ trương của Đảng về bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới, khi nhấn mạnh yêu cầu: Tự chủ chiến lược, có năng lực kiểm soát rủi ro, có thể chế vững, có trật tự xã hội ổn định, có sự hội nhập quốc tế sâu rộng...

UAV được thử nghiệm phun thuốc cho cây cà-phê tại xã Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.

Cơ chế sandbox đã sang giai đoạn triển khai thực tế

Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết, bên cạnh chuẩn bị cấp phép mô hình thử nghiệm có kiểm soát đầu tiên về phát triển kinh tế tầm thấp, ứng dụng phương tiện bay không người lái (UAV) tại tỉnh Điện Biên, một số địa phương, doanh nghiệp cũng bày tỏ quan tâm đến việc triển khai thử nghiệm mô hình sandbox.

Định vị vị thế Việt Nam trên bản đồ sở hữu trí tuệ toàn cầu

Định vị vị thế Việt Nam trên bản đồ sở hữu trí tuệ toàn cầu

Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, sở hữu trí tuệ ngày càng khẳng định vai trò là một trụ cột quan trọng của nền kinh tế tri thức. Những năm qua, Việt Nam đã chủ động hoàn thiện thể chế, từng bước xây dựng hệ thống sở hữu trí tuệ tương thích với chuẩn mực quốc tế và đạt được nhiều kết quả tích cực.

Bảo đảm pháp lý khi chuyển chất xám trí tuệ thành dòng vốn trên thị trường

Bảo đảm pháp lý khi chuyển chất xám trí tuệ thành dòng vốn trên thị trường

Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025 được thông qua cho thấy những vấn đề pháp lý sở hữu trí tuệ đã được điều chỉnh gần và sát thực tiễn hiện nay. Trong đó, việc định giá tài sản sở hữu trí tuệ làm tài sản bảo đảm đang là nội dung thu hút sự quan tâm của đông đảo dư luận, nhất là với giới khởi nghiệp liên quan đổi mới sáng tạo.