Bí quyết làm bài môn Ngữ văn đạt điểm cao trong Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2025

Kỳ thi tốt nghiệp Trung học phổ thông (THPT) năm 2025 là năm đầu tiên triển khai theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Một trong những điểm mới đáng chú ý ở môn Ngữ văn là đề thi có thể sử dụng ngữ liệu ngoài sách giáo khoa, như các đoạn văn thơ hoặc tình huống mang tính thời sự, đời sống xã hội.

Thí sinh phấn khởi sau khi hoàn thành môn thi tại kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2014. (Ảnh: THÚY QUỲNH)
Thí sinh phấn khởi sau khi hoàn thành môn thi tại kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2014. (Ảnh: THÚY QUỲNH)

Trước thay đổi này, giáo viên dạy môn Ngữ văn đã chủ động điều chỉnh phương pháp ôn tập để học sinh thích nghi tốt hơn với cấu trúc đề thi mới và nêu ra một số bí quyết giúp học sinh làm bài đạt điểm cao trong kỳ thi tốt nghiệp THPT.

Chủ động làm quen với ngữ liệu ngoài sách giáo khoa

Khác với những năm trước, đề thi Ngữ văn năm nay được thiết kế mở hơn, với ngữ liệu có thể không nằm trong sách giáo khoa. Tuy nhiên, theo cô giáo Hoàng Thị Hồng Minh, giáo viên môn Ngữ văn Trường THPT Thuận Thành 1, Bắc Ninh, chia sẻ: Điều này không còn quá mới mẻ với học sinh. Từ lớp 10, các em đã được tiếp cận với dạng đề có ngữ liệu ngoài sách giáo khoa thông qua các bài kiểm tra định kỳ và kỳ thi khảo sát. Nhờ đó, học sinh bước vào giai đoạn ôn thi lớp 12 với tâm thế vững vàng, không còn bỡ ngỡ khi gặp văn bản mới trong đề thi.

Dù vậy, để đạt kết quả cao, việc ôn tập không chỉ dừng ở làm quen với văn bản, mà cần đi sâu vào rèn luyện kỹ năng làm bài. Giáo viên chủ yếu tập trung hướng dẫn học sinh cách trả lời từng dạng câu hỏi trong cấu trúc đề thi, đặc biệt là tăng cường luyện viết và chấm chữa bài cụ thể để giúp các em nâng cao kỹ năng diễn đạt và lập luận.

Ngoài ra, giáo viên thường xuyên cho học sinh luyện đề với những tác phẩm văn học nằm ngoài sách giáo khoa, giúp học sinh tiếp cận thêm nhiều ngữ liệu mới, đồng thời nắm vững đặc trưng thể loại để xử lý hiệu quả các yêu cầu trong đề.

Trong bối cảnh đề thi có thể sử dụng ngữ liệu mới, học sinh cần được rèn luyện một loạt kỹ năng như: đọc và phân tích đề, trả lời câu hỏi Đọc hiểu, viết bài đúng kiểu bài, phân tích và tổng hợp vấn đề. Đặc biệt, kỹ năng liên hệ, kết nối nội dung văn học với đời sống và trải nghiệm cá nhân sẽ giúp bài viết trở nên sâu sắc và có chiều sâu hơn.

Cũng theo cô giáo Hoàng Thị Hồng Minh, để làm tốt bài thi Ngữ văn, học sinh cần lưu ý một số điểm quan trọng: Trước hết là đọc kỹ đề bài, xác định đúng yêu cầu và phạm vi kiến thức cần triển khai. Ở phần đọc hiểu, cần trả lời ngắn gọn, rõ ràng và đúng trọng tâm. Với phần Viết, học sinh phải bảo đảm đúng dung lượng bài viết theo yêu cầu (đoạn văn khoảng 200 chữ, bài văn khoảng 600 chữ), đồng thời lập dàn ý rõ ràng trước khi viết để bảo đảm bố cục mạch lạc.

Khi viết đoạn hoặc bài nghị luận xã hội, cần kết hợp chặt chẽ giữa lý lẽ và dẫn chứng, khuyến khích thể hiện quan điểm cá nhân một cách thuyết phục. Đối với bài nghị luận văn học, học sinh cần làm nổi bật đặc trưng thể loại và biết vận dụng kiến thức lý luận văn học một cách hợp lý. Trình bày bài viết rõ ràng, sạch đẹp, tránh mắc lỗi chính tả và lỗi diễn đạt cũng là yếu tố quan trọng.

Việc học Ngữ văn không chỉ để thi mà còn là cơ hội để học sinh rèn tư duy, nâng cao khả năng diễn đạt và cảm nhận cuộc sống. Khi được ôn luyện bài bản, học đúng cách và có định hướng rõ ràng, các em hoàn toàn có thể tự tin bước vào kỳ thi tốt nghiệp THPT với kết quả xứng đáng.

Thay đổi phương pháp ôn tập để thích ứng đề thi

Trong khi đó, cô giáo Nguyễn Nguyệt Nga, giáo viên môn Ngữ văn, Trường THPT Việt Đức (quận Hoàn Kiếm, Hà Nội), cho biết: Với việc đề thi Ngữ văn năm nay có thể sử dụng ngữ liệu ngoài sách giáo khoa, phương pháp ôn tập sẽ cần có điều chỉnh đáng kể so với năm trước. Nếu như trước đây, học sinh chủ yếu học và ôn các văn bản quen thuộc trong sách giáo khoa, tập trung ghi nhớ nội dung, thì nay, việc đưa vào văn bản ngoài sách yêu cầu các em phải biết vận dụng linh hoạt kiến thức và kỹ năng đã học.

Trước thay đổi này, học sinh cần nắm chắc kiến thức về thể loại và kiểu văn bản thay vì học thuộc từng văn bản cụ thể. Đồng thời, cần tăng cường luyện tập kỹ năng đọc hiểu và viết với các văn bản ngoài sách giáo khoa, đặc biệt là những văn bản tương đương về thể loại, nội dung với các tác phẩm đã học trong chương trình Ngữ văn lớp 11 và 12. Quá trình luyện tập cũng cần chú trọng đến việc nhận diện và phân tích các yếu tố thể loại, nội dung và nghệ thuật của văn bản ngoài sách giáo khoa, kỹ năng then chốt giúp học sinh chủ động trước các dạng đề mới.

So với những năm trước, kỳ thi năm nay đòi hỏi học sinh có sự thích nghi rõ rệt với cách ra đề mới. Trước đây, học sinh chủ yếu ôn tập các văn bản đã học trong sách giáo khoa, làm quen với đề bài quen thuộc. Còn hiện tại, khi đề thi sử dụng văn bản ngoài sách giáo khoa, học sinh phải vận dụng tổng hợp kiến thức và kỹ năng đã được trang bị.

Điều này đồng nghĩa, học sinh cần nắm vững kiến thức về thể loại và kiểu văn bản, thay vì học thuộc nội dung từng văn bản cụ thể. Bên cạnh đó, cần tăng cường luyện tập đọc hiểu và viết với các văn bản ngoài sách giáo khoa, đặc biệt là văn bản tương đương với các tác phẩm đã học ở lớp 11 và 12.

Chia sẻ thêm về cách làm bài hiệu quả, cô giáo Nguyệt Nga nhấn mạnh: Học sinh cần ôn tập theo đúng định hướng và phương pháp phù hợp theo yêu cầu của Chương trình giáo dục phổ thông 2018 và hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Với phần đọc hiểu, các em nên rèn kỹ năng đọc kỹ văn bản, xác định rõ yêu cầu của từng câu hỏi theo các mức độ nhận biết, thông hiểu, vận dụng và trả lời theo đúng mức độ đó. Thí dụ, ở câu hỏi ở mức độ nhận biết, học sinh chỉ cần trả lời ngắn gọn, đúng thông tin, không cần phân tích, giải thích.

Ở phần viết, học sinh cần chú ý bảo đảm đúng hình thức đoạn văn hoặc bài văn, chú ý dung lượng phù hợp với yêu cầu của đề: khoảng 200 chữ cho đoạn văn và 600 chữ cho bài văn.

Trong bối cảnh đề thi môn Ngữ văn có ngữ liệu mới, học sinh cần phát triển một loạt kỹ năng quan trọng, bắt đầu từ kỹ năng đọc hiểu. Cô Nguyệt Nga cho rằng học sinh nên thực hành làm nhiều bài tập đọc hiểu với các ngữ liệu ngoài sách giáo khoa, những ngữ liệu này theo yêu cầu thể loại, kiểu văn bản của chương trình, tương đương các văn bản trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 11, 12.

Một phần quan trọng khác là kỹ năng viết đoạn nghị luận văn học, học sinh cần rèn luyện từ cách viết câu mở đoạn, thân đoạn đến kết đoạn sao cho rõ ý, đúng yêu cầu và mạch lạc. Song song với đó, cần luyện tập kỹ năng viết bài nghị luận xã hội, đặc biệt là các bước như phân tích đề, tìm ý, lập dàn ý, viết mở bài, thân bài và kết bài. Khi thành thạo các kỹ năng thành phần này, học sinh sẽ viết bài mạch lạc, có chiều sâu và thể hiện được chính kiến cá nhân, một yêu cầu quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông 2018.

Có thể bạn quan tâm

Một trong 4 ưu tiên của giáo dục Việt Nam trong quá trình chuyển đổi số là đẩy mạnh hợp tác quốc tế. Trong ảnh: Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn cùng các đại biểu tại Triển lãm Giáo dục và công nghệ giáo dục. (Ảnh: NGUYỄN MẠNH)

Bốn ưu tiên của giáo dục và đào tạo trong quá trình chuyển đổi số

Trong bối cảnh công nghệ số và AI mở ra những cơ hội rất lớn cho giáo dục, nhưng đồng thời đặt ra các thách thức, đòi hỏi người học, người thầy, nhà trường và cả hệ thống giáo dục cũng phải chuyển đổi để không chỉ thích ứng mà còn từng bước làm chủ, định hướng việc sử dụng AI vì sự phát triển của con người.

Các học viên lớp xóa mù chữ ở bản Làng Sáng (Ảnh: Báo Nhân Dân)

Quản lý bằng dữ liệu với giáo dục bắt buộc và xóa mù chữ, bảo đảm quyền học tập của người dân

Bộ Giáo dục và Đào tạo đang xây dựng quy định về điều kiện bảo đảm, quy trình kiểm tra công nhận đạt chuẩn giáo dục bắt buộc và xóa mù chữ với quan điểm xuyên suốt là bảo đảm quyền học tập của người dân, quản lý dựa trên dữ liệu, nâng cao trách nhiệm trong tổ chức thực hiện, duy trì kết quả giáo dục bắt buộc và xóa mù chữ.

Ký kết Bản ghi nhớ về hợp tác giáo dục giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland (Ảnh: NGUYỄN MẠNH)

24 biên bản hợp tác được trao tại Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số

Trong khuôn khổ Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số, 24 biên bản ghi nhớ (MOU) giữa các cơ quan quản lý giáo dục, cơ sở giáo dục, tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam với các đối tác quốc tế đã được ký kết. Nội dung hợp tác tập trung vào đào tạo, nghiên cứu khoa học, phát triển nguồn nhân lực, giáo dục nghề nghiệp.

Quang cảnh hội nghị. (Ảnh: NH)

Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực sức khỏe

Sáng 9/10, tại Hà Nội, Trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội tổ chức khai mạc Hội nghị Khoa học sức khỏe với chủ đề “Chăm sóc sức khỏe toàn diện trong kỷ nguyên số”. Hội nghị diễn ra trong hai ngày 9 và 10/10 với 59 báo cáo khoa học thuộc các lĩnh vực y khoa, răng-hàm-mặt, dược và điều dưỡng.

Sinh viên Học viện Ngân hàng trao đổi, thảo luận trong giờ học. (Ảnh: HVNH)

Gắn đào tạo đại học với nhu cầu doanh nghiệp

Nhiều cơ sở giáo dục đại học đang đưa doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào đào tạo, từ xác định nhu cầu nhân lực, xây dựng chương trình đến thực hành, nghiên cứu. Qua đó, liên kết Nhà nước-nhà trường-doanh nghiệp từng bước đi vào thực chất, gắn đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo với nhu cầu thị trường.

Các cơ sở giáo dục và đào tạo của Việt Nam tích cực thúc đẩy hợp tác quốc tế và hội nhập giáo dục, mở rộng quan hệ giữa với các cơ sở đại học, tổ chức giáo dục quốc tế. (Ảnh: NGUYỄN MẠNH)

Các cơ sở giáo dục tích cực kết nối, mở rộng hợp tác, học hỏi kinh nghiệm quốc tế

Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số mở ra không gian kết nối các doanh nghiệp công nghệ, cơ sở đại học, tổ chức giáo dục, các đơn vị phát triển giải pháp. Nhiều hoạt động ký kết, hợp tác đã được thực hiện, góp phần mở rộng mạng lưới hợp tác giữa các cơ sở giáo dục, doanh nghiệp trong nước với đối tác quốc tế.

Phiên hội thảo chuyên đề Giáo dục phổ thông. (Ảnh: Bộ Giáo dục và Đào tạo)

Giá trị của AI phải được chứng minh bằng kết quả học tập

AI đang thay đổi cách dạy học và vận hành nhà trường, nhưng số hóa nhiều hơn chưa đồng nghĩa học sinh học tốt hơn. Tại Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số, ngày 8-9/10 tại Hà Nội, các chuyên gia nhấn mạnh giá trị của AI cần được kiểm chứng qua sự tiến bộ về kiến thức, tư duy và năng lực tự học của học sinh.

Quang cảnh tọa đàm chuyên gia “Định hình chân dung nhân tài thời đại 4.0” diễn ra chiều 8/10, trong khuôn khổ IECEE 2026. (Ảnh: BUV)

Trí tuệ nhân tạo làm thay đổi tiêu chí tuyển dụng đối với sinh viên mới tốt nghiệp

Không chỉ đòi hỏi kiến thức chuyên môn, doanh nghiệp ngày càng chú trọng khả năng ứng dụng công nghệ, giải quyết vấn đề, quản lý thời gian, giao tiếp và thích ứng của sinh viên mới tốt nghiệp. Đáng chú ý, trí tuệ nhân tạo (AI) đang bắt đầu làm thay đổi tiêu chí tuyển dụng ở nhiều vị trí việc làm.

Hội thảo quy tụ nhiều học giả, chuyên gia, nhà nghiên cứu và học viên cao học, nghiên cứu sinh trong nước và quốc tế. (Ảnh: FTU)

Hoàn thiện hệ sinh thái đào tạo sau đại học chuẩn quốc tế

Ngày 8/10, tại Hà Nội, Trường đại học Ngoại thương tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế dành cho người học sau đại học (ICGE 2026) với chủ đề "Tái định hình hợp tác trong một thế giới phân mảnh: Bằng chứng từ các doanh nghiệp, thị trường và chính sách".

Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số sáng khai mạc sáng 8/10. (Ảnh: NGUYỄN MẠNH)

Giáo dục trong kỷ nguyên số: Hợp tác để làm chủ công nghệ, phát triển con người

Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số tạo diễn đàn thúc đẩy hợp tác quốc tế và hội nhập giáo dục; mở rộng quan hệ giữa các cơ sở giáo dục Việt Nam và các tổ chức giáo dục quốc tế; chia sẻ mô hình, phương pháp và công nghệ đổi mới sáng tạo trong giảng dạy, học tập và quản trị.

Thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ và AI trong trường học

Thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ và AI trong trường học

Hưởng ứng Ngày Chuyển đổi số quốc gia (10/10) và Tuần lễ học tập suốt đời năm 2026, sáng 8/10, Ngày hội khoa học và công nghệ cho học sinh phổ thông phường Vĩnh Hưng (Hà Nội) đã được tổ chức tại Trường tiểu học và THCS Vĩnh Hưng với sự tham gia của gần 1.000 học sinh.