Tuy nhiên, vùng đất này đang đứng trước những thách thức mang tính sống còn khi an ninh nguồn nước bị đe dọa nghiêm trọng bởi cả tác động ngoại sinh lẫn những vấn đề nội tại của vùng.
Viện Khoa học thủy lợi miền nam cho biết: Hiện Đồng bằng sông Cửu Long đang bước vào cao điểm hạn, mặn. Thực trạng đáng báo động hiện nay là mùa lũ nước về tràn đồng ngày càng ít, trong khi mùa khô lại chứng kiến hạn hán, xâm nhập mặn và sạt lở diễn biến ngày càng khốc liệt. Sự thay đổi này không hề ngẫu nhiên.
Nguồn nước mặt của Đồng bằng sông Cửu Long phụ thuộc tới 95% vào dòng chảy từ thượng nguồn sông Mekong, trong khi nguồn nước nội sinh chỉ đóng góp vỏn vẹn 5% (khoảng 22 tỷ m³) và chủ yếu tập trung vào mùa mưa. Sự phụ thuộc quá lớn này khiến khu vực trở nên dễ bị tổn thương trước các hoạt động khai thác và điều tiết nước ở thượng nguồn.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Anh Tuấn (Giảng viên cao cấp Đại học Cần Thơ), có 3 thách thức lớn từ bên ngoài đang bóp nghẹt nguồn nước của vùng. Đó là biến đổi khí hậu và nước biển dâng làm thay đổi quy luật tự nhiên. Hệ thống thủy điện thượng nguồn làm suy giảm nghiêm trọng lượng phù sa và bùn cát, vốn là "nhựa sống" để bồi đắp đồng bằng và nguy cơ chuyển hướng dòng chảy từ các dự án như kênh đào từ thượng nguồn có thể khiến nguồn nước về Đồng bằng sông Cửu Long trong mùa khô bị sụt giảm đáng kể.
Hệ quả là ranh mặn đang lấn sâu vào nội đồng với tốc độ đáng lo ngại. Dự báo đến năm 2050, ranh mặn 4g/l trên sông Tiền có thể xâm nhập sâu tới 62,5km. Trung bình, ranh mặn sẽ lấn thêm khoảng 6,7km vào giữa thế kỷ này, làm đảo lộn hoàn toàn đời sống và sản xuất.
Không thể đổ lỗi hoàn toàn cho khách quan, Đồng bằng sông Cửu Long đang tự làm yếu mình bởi các vấn đề nội tại chưa có lời giải triệt để. Tình trạng khai thác nước ngầm quá mức để phục vụ sản xuất, người dân và doanh nghiệp đang rút cạn tài nguyên dưới lòng đất, dẫn đến suy giảm trữ lượng và gây sụt lún đất nghiêm trọng.
Ô nhiễm nguồn nước do lạm dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong canh tác nông nghiệp đang khiến chất lượng nước mặt suy giảm. Tài nguyên nước chưa được quản lý và sử dụng tiết kiệm, gây lãng phí lớn. Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất thiếu quy hoạch đang tác động tiêu cực đến khả năng lưu giữ và lưu thông nước tự nhiên.
Đáng chú ý, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Anh Tuấn cũng cảnh báo về hệ thống đê bao khép kín và việc duy trì lúa 3 vụ tại các vùng như Tứ giác Long Xuyên hay Đồng Tháp Mười. Việc kiểm soát lũ quá mức đã triệt tiêu khả năng trữ nước tự nhiên của đồng bằng, đồng thời đẩy nguy cơ ngập úng tại các đô thị lên cao hơn. Ngay cả giải pháp đào ao trữ nước nếu thực hiện không đúng cách (sâu quá 3m) cũng có thể phản tác dụng, gây xì phèn và hút nước từ xung quanh, làm trầm trọng thêm tình trạng thiếu nước cục bộ.
Thành phố Cần Thơ, trung tâm của vùng, mặc dù có hệ thống sông ngòi, kênh rạch dày đặc và nguồn nước tương đối dồi dào, nhưng đang chịu tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu. Các hiện tượng như ngập úng do triều cường, hạn hán, xâm nhập mặn và thiếu nước ngọt vào mùa khô diễn ra ngày càng phổ biến.
Ông Nguyễn Hoàng Anh, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Cần Thơ cho biết: Trước thực tế đó, thành phố Cần Thơ đã và đang triển khai nhiều giải pháp đồng bộ nhằm bảo đảm nguồn nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất, đồng thời góp phần giảm sụt lún đất. Thành phố tập trung phát triển các công trình trữ nước ngọt phục vụ mùa khô; ưu tiên sử dụng nước mặt, giảm dần khai thác nước ngầm nhằm hạn chế sụt lún, sạt lở, đồng thời tăng cường phục hồi, bảo vệ các nguồn nước bị suy thoái, ô nhiễm. Bên cạnh đó, thành phố xác định biến đổi khí hậu, hạn hán, xâm nhập mặn và nước biển dâng là xu thế tất yếu, do đó cần chủ động thích ứng từ sớm, từ xa với tầm nhìn dài hạn để phát triển bền vững.
Trước những biến động chưa từng có, tư duy về quản lý nước tại Đồng bằng sông Cửu Long đang có sự chuyển dịch mạnh mẽ.
Ông Vũ Viết Hưng, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi (Bộ Xây dựng) cho biết: Giải pháp hiện nay được xây dựng theo hướng “thích ứng có kiểm soát”, trong đó chú trọng đến giải pháp công trình và phi công trình. Giải pháp công trình là tập trung đầu tư các công trình thủy lợi chiến lược mang tính liên vùng như hệ thống cống Cái Lớn-Cái Bé để xử lý các điểm nóng về nguồn nước; nâng cấp hệ thống hiện có theo hướng linh hoạt, đa mục tiêu, kết nối liên hoàn từ công trình đầu mối đến nội đồng để chủ động dẫn và điều tiết nước và xây dựng hệ thống cấp nước liên vùng, đưa nước ngọt từ sông Tiền, sông Hậu về các khu vực "khát" như ven biển và bán đảo Cà Mau.
Bên cạnh đó, ngành chức năng, các địa phương đẩy mạnh công nghệ quan trắc, dự báo và vận hành theo thời gian thực; thay đổi tư duy từ sản xuất nông nghiệp thuần túy sang kinh tế nông nghiệp và quy hoạch lại sản xuất theo từng vùng sinh thái, phát triển các loại giống cây trồng, vật nuôi có khả năng thích ứng cao với hạn mặn.
Thực tế cho thấy, khả năng thích ứng của người dân đã có những bước tiến rõ rệt thông qua việc chủ động điều chỉnh lịch thời vụ và lựa chọn mô hình nuôi trồng phù hợp. Tuy nhiên, sự thích ứng này vẫn chưa đồng đều và cần một nhạc trưởng quy hoạch tổng thể.
Tiến sĩ Nguyễn Minh Khuyến, Phó Cục trưởng Cục Tài nguyên nước, Bộ Nông nghiệp và Môi trường khuyến nghị: An ninh nguồn nước không còn là câu chuyện của riêng ngành thủy lợi, mà là cuộc chiến bảo vệ tương lai của vùng đất chín rồng. Để bảo đảm an ninh nguồn nước Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2050, các cấp, ngành cần thực hiện có hiệu quả quy hoạch tài nguyên nước đã được phê duyệt để tối ưu hóa lợi ích từ nguồn nước Mekong và tăng cường năng lực trữ nước nội vùng; kiểm soát chặt chẽ việc khai thác, bảo đảm không vượt ngưỡng cho phép để ngăn chặn sụt lún.
Các địa phương trong vùng phát triển hệ thống cấp nước liên vùng, đặc biệt khai thác nguồn nước từ các sông lớn như sông Tiền, sông Hậu để cấp nước cho các khu vực thường xuyên bị hạn mặn như ven biển và bán đảo Cà Mau; tăng cường khả năng trữ nước, nhất là tại các vùng như Tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười. Việc xây dựng các hồ chứa quy mô phù hợp và vận hành hiệu quả hệ thống thủy lợi là rất cần thiết, đồng thời kiểm soát chặt chẽ khai thác nước dưới đất, bảo đảm không vượt ngưỡng cho phép, đặc biệt ở các khu vực ven biển.