Trong kỷ nguyên số, khi nội dung số được lan tỏa chỉ trong vài giây, câu chuyện về bản quyền từ âm nhạc đến điện ảnh, từ xuất bản đến phát hành, mỹ thuật đến kiến trúc, rồi từ thể thao đến hình ảnh trên các không gian khác nhau đang trở thành một đề tài nóng hơn bao giờ hết.
Vi phạm bản quyền không chỉ gây thiệt hại về kinh tế mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sáng tạo của chủ thể, đến hình ảnh quốc gia và đáng lo hơn là ảnh hưởng đến sự phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa.

Nhận diện vấn đề vi phạm bản quyền và tìm giải pháp là nội dung cuộc tọa đàm do Báo Nhân Dân tổ chức nhân Ngày Sở hữu Trí tuệ thế giới 26/4. Cuộc tọa đàm có sự tham dự của hai diễn giả rất am hiểu trong lĩnh vực này, là bà Phạm Thị Kim Oanh, Phó Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) và bà Phan Cẩm Tú, Ủy viên Ban thường vụ Hiệp hội Xúc tiến phát triển điện ảnh Việt Nam, đồng thời là chuyên gia tư vấn của Hiệp hội Điện ảnh Hoa Kỳ. Dẫn chương trình là nhà báo Hữu Việt, Báo Nhân Dân.

Thực trạng bản quyền
trong môi trường số

Nhà báo Hữu Việt: Xin cảm ơn hai vị khách mời đã tham gia chương trình của chúng tôi. Chúng tôi xin phép được bắt đầu ngay chương trình. Phần thứ nhất, chúng ta sẽ cùng trao đổi về thực trạng vi phạm bản quyền, đặc biệt là trong môi trường số hiện nay. Bắt đầu cuộc trao đổi hôm nay, chúng ta cùng nhau đề cập đến một vấn đề mang tính tổng quan, bức tranh bản quyền trong giai đoạn hiện nay tại Việt Nam, đặc biệt là khi môi trường số phát triển mạnh mẽ, tác động sâu rộng đến mọi lĩnh vực.

Câu đầu tiên chúng tôi xin được hỏi bà Phạm Thị Kim Oanh. Nếu nhìn một cách tổng thể, bức tranh hiện nay sẽ như thế nào? Các văn bản pháp quy hiện tại trong vấn đề bản quyền đã đáp ứng được các công ước quốc tế mà chúng ta ký kết chưa, đem lại những thuận lợi hay rào cản gì? Thêm nữa là đội ngũ tham gia, nhận thức, ý thức của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong vấn đề này như thế nào? Xin mời đại diện của Cục Bản quyền tác giả Việt Nam đưa ra một nhận định tổng thể.

Bà Phạm Thị Kim Oanh: Đây là một câu hỏi rất lớn bởi vì nó gần như là sự đánh giá một cách tổng thể. Xin đi từ khía cạnh đầu tiên là hành lang pháp lý. Thực ra cho đến thời điểm hiện nay, chúng ta đã nhìn thấy một bức tranh màu sáng trong hành lang pháp lý về bản quyền của Việt Nam. Trên quốc tế hiện nay có 9 điều ước quốc tế thì Việt Nam chúng ta đã là thành viên của 8/9 điều ước quốc tế đa phương về quyền tác giả và quyền liên quan. Chúng ta cũng đã là thành viên của 17 Hiệp định thương mại tự do (FTA) có những nội dung cam kết về bản quyền. Điều đó cho thấy Chính phủ Việt Nam đã nỗ lực rất lớn, hội nhập một cách chủ động và thực hiện các cam kết một cách mạnh mẽ.

Tám điều ước quốc tế đó là những gì? Thứ nhất là Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học. Rồi Công ước Rome về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát sóng; Công ước Geneva về bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống việc sao chép không được phép bản ghi âm của họ. Khi tham gia tổ chức WTO, ngay lập tức chúng ta đã phải thực thi Hiệp định TRIPS về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ. Những nội dung này rất lớn, đa dạng và bao quát lĩnh vực bản quyền, sở hữu trí tuệ.

Tiếp tục, chúng ta tham gia các điều ước trên môi trường số. Hai hiệp ước WCT và WPPT đã có hiệu lực tại Việt Nam vào năm 2022 và 2023. Đó là những "cây gậy bản quyền" rất lớn khi Việt Nam muốn hội nhập, muốn tham gia vào sân chơi chung. Tác phẩm của Việt Nam muốn đưa ra thế giới, chúng ta muốn bảo vệ tác phẩm trên môi trường số thì phải hội nhập, phải tham gia. Đồng thời, chúng ta sẽ phải thực hiện bảo vệ bản quyền cho các chủ thể quyền của các quốc gia và các nước thành viên. Mỗi điều ước có trên 100 quốc gia thành viên, có những điều ước gần 200 quốc gia thành viên. Nếu nhân con số ra thì rất lớn, cho thấy chúng ta đã nỗ lực rất nhiều.

Điều ước quốc tế đã có, chúng ta đã có hành lang pháp lý quốc tế, quay trở về Việt Nam thì chúng ta đã có gì? Thưa ông, chúng ta đã có Luật Sở hữu trí tuệ. Quốc hội cũng đã sửa đổi một số lần để thực thi các cam kết cũng như nghĩa vụ không chỉ trong 8 điều ước quốc tế đa phương mà còn 17 hiệp ước quốc tế song phương, cũng như chuẩn bị hành lang pháp lý cho một số FTA đang đàm phán. Về mặt cơ bản, chúng tôi đánh giá pháp luật Việt Nam đã đạt được các tiêu chuẩn quốc tế. Chúng ta có Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và sửa đổi, bổ sung một số lần, ví dụ như năm 2009. Năm 2009 chính là thời điểm chúng ta tham gia WTO và khi là thành viên, chúng ta buộc phải sửa những điều khoản như việc sử dụng các tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình trên chương trình phát sóng. Luật phân biệt rõ trường hợp nào không phải xin phép nhưng phải trả tiền, trường hợp nào không phải xin phép cũng không phải trả tiền và cách trả tiền như thế nào. Ngày đó chúng ta đã phải sửa để tương thích với Công ước Berne. Gần đây, những điều khoản liên quan đến thực thi bản quyền trên môi trường số đã được tiếp tục sửa đổi, bổ sung trong Luật Sở hữu trí tuệ.

Về hành lang pháp lý, gần đây nhất là Nghị định số 341 ban hành ngày 26 tháng 12 năm 2025 và có hiệu lực thi hành ngày 15 tháng 1 năm 2026 về xử phạt vi phạm hành chính quyền tác giả và quyền liên quan. Trong đó, mức phạt đã được nâng cao, các nhóm hành vi đã được bổ sung, đặc biệt trong môi trường số. Gần nhất nữa, ngày 6 tháng 4 năm 2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 134 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 17 năm 2023 về quyền tác giả, quyền liên quan, trong đó có những điều khoản liên quan đến trí tuệ nhân tạo vừa có hiệu lực ngày 9/4.

Về thực tế, pháp luật đã có nhưng có còn tình trạng vi phạm hay không? Về cơ bản những năm gần đây, việc thực thi đã được đẩy lên cao, ý thức mọi người cũng đã được nâng cao. Tuy nhiên, phải nói thực với nhau rằng trên môi trường số vẫn tồn tại sự vi phạm một cách khốc liệt mà các chủ thể quyền đang phải đối mặt. Dù rất hân hoan với những quy định trong hành lang pháp lý, chúng tôi vẫn còn đau đáu với những vi phạm này. Với chúng tôi, nguyên nhân là sự phát triển quá nhanh của công nghệ. Việc vi phạm bản quyền trên môi trường số diễn ra dễ dàng hơn. Một bộ phim vừa chiếu, ai đó ngồi trong rạp quay trộm, ngay lập tức mạng xã hội đã xuất hiện tác phẩm bị xâm phạm bản quyền. Việc lẩn trốn cũng rất dễ dàng bởi không phải mạng nào cũng đặt máy chủ tại Việt Nam. Rất nhiều trang web đặt máy chủ ở nước ngoài nên việc phối hợp rất khó khăn. Nguồn thu của những đối tượng này quá lớn, họ có thể lấy hàng triệu tác phẩm bị vi phạm không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới để đưa vào kho lưu trữ, thu lợi từ quảng cáo khổng lồ để duy trì các web lậu, web xấu. Đây là một mảng tối và là tình trạng rất nhức nhối hiện nay.

Nhà báo Hữu Việt: Thưa bà Phan Cẩm Tú, với lĩnh vực điện ảnh là chuyên môn của bà, hiện nay chúng ta đang đối mặt với những biến động rất lớn trên môi trường số, đặc biệt là sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ phân phối. Nhiều đánh giá cho thấy Việt Nam thuộc nhóm có tỷ lệ xâm phạm bản quyền cao của khu vực, đặc biệt với phim và các chương trình truyền hình. Là một người có kinh nghiệm và am hiểu trong lĩnh vực điện ảnh, bà có thể cho biết những hình thức vi phạm phổ biến trong lĩnh vực bản quyền điện ảnh là gì và mức độ tinh vi như bà Oanh vừa đề cập cụ thể ra sao?

Bà Phan Cẩm Tú: Như chị Kim Oanh vừa đề cập, việc vi phạm trên môi trường số đương nhiên cực kỳ tinh vi và có ảnh hưởng lớn. Hình thức vi phạm hiện nay phổ biến tới mức chỉ cần mở trang web, gõ tên phim là chúng ta sẽ có hàng chục trang cung cấp phim. Có phụ đề tiếng Việt, có lời dịch, cực kỳ thông dụng và dễ tiếp cận. Ngày xưa vi phạm qua đĩa lậu, đĩa quang đơn giản hơn, nhưng ít nhất người ta hiểu đấy là đồ lậu. Bây giờ một người dân bình thường muốn xem phim chỉ cần lên mạng gõ tên phim và xem trên các trang web đó. Chắc rất ít người hiểu rằng xem phim trên các trang web đó là hành vi vi phạm. Tất nhiên người xem không vi phạm, nhưng phim được chiếu trên các trang web đấy là bất hợp pháp.

Các đối tượng làm trang web vi phạm hiện nay cực kỳ hiểu biết. Những bản phim quay lậu trong rạp, chất lượng xấu không còn phổ biến nữa. Người ta cung cấp những bản phim đẹp nhất, gần như bản gốc. Các trang web được thiết kế rất chuyên nghiệp, người xem gần như không phân biệt được đâu là trang web chính thống có trả tiền, đâu là trang web vi phạm. Hành vi vi phạm trên trang web cực kỳ phổ biến. Ngoài ra, việc chia sẻ qua torrent cũng rất phổ biến, nhiều người chia sẻ phim và coi đó là cộng đồng yêu điện ảnh, xem một cách rất thoải mái. Về độ tinh vi, các trang web này được làm cực kỳ đẹp, khó phân biệt, không thua kém nhiều so với các nền tảng lớn như Netflix hay Apple TV.

Thách thức trong nhận diện và xử lý vi phạm bản quyền

Nhà báo Hữu Việt: Có thể nói tình trạng vi phạm bản quyền biến tướng ngày càng tinh vi. Sau đây chúng ta sẽ cùng đưa ra những đánh giá về công tác bảo vệ bản quyền gần đây, đặc biệt trên môi trường số khi các nền tảng xuyên biên giới như mạng xã hội, YouTube, trang web lậu đặt ra rất nhiều thách thức.

Thưa bà Phạm Thị Kim Oanh, công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI), cùng các nền tảng xuyên biên giới đang thay đổi toàn bộ cách phân phối nội dung... Theo bà, những yếu tố này đang gây ra thách thức lớn nhất nào cho công tác bảo vệ bản quyền, cụ thể là kiểm soát các hành vi vi phạm?

Bà Phạm Thị Kim Oanh: Tôi rất tâm đắc câu hỏi của ông bởi vì đánh đúng vào điểm mà mọi người đang rất quan tâm, đó là trí tuệ nhân tạo (AI). Sự phát triển công nghệ mang lại cả mặt tích cực và khó khăn. Tích cực là chúng ta tiếp cận nhanh hơn, nhiều hơn các sáng tạo trí tuệ để nghiên cứu hoặc thụ hưởng. Người sáng tạo có thể phân phối tác phẩm đến công chúng dễ dàng hơn. Nhưng mặt trái là mọi người có thể lạm dụng điều đó để xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Vấn đề AI và bản quyền thực sự là câu hỏi lớn và khó. Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO) đã tổ chức hơn 10 hội nghị với hàng chục nghìn người tham gia để tìm hướng dẫn cho các nước.

Việt Nam là một trong những nước đầu tiên trên thế giới có văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến AI. Quốc hội vừa qua đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, trong đó quy định nguyên tắc phát sinh quyền khi cá nhân, tổ chức sử dụng AI trong quá trình sáng tạo tác phẩm. Vấn đề đầu vào để đào tạo AI cũng rất khó khăn, việc lấy tác phẩm của người khác như thế nào là hợp pháp? Nếu sử dụng AI tạo ra sản phẩm giống với kịch bản, hình ảnh, tiếng nói của người khác thì sẽ vi phạm bản quyền. Hành lang pháp lý đang phải giải quyết câu hỏi: Sử dụng trí tuệ nhân tạo thì ai là tác giả, và như thế nào được coi là tác phẩm để bảo hộ bản quyền?

Thưa quý vị, Điều 5A Nghị định số 134 ngày 6/4/2026 đã quy định rõ: Về nguyên tắc, chúng ta bảo vệ sáng tạo trí tuệ của con người. Nếu sử dụng AI như công cụ hỗ trợ và đáp ứng điều kiện pháp luật thì tác phẩm mới được bảo hộ bản quyền. Thứ hai, quá trình tạo dữ liệu đào tạo AI phải có điều kiện. Dù khuyến khích phát triển công nghệ, nhưng không thể bỏ quên các tác giả, chủ sở hữu quyền đã đầu tư công sức, tiền bạc tạo ra tác phẩm. Bản quyền cần sự cân bằng. Các điều 37A, 37B, 37C và 37D của Nghị định đưa ra những nguyên tắc pháp lý mới nhằm tạo điều kiện phát triển AI đồng thời bảo vệ quyền của chủ sở hữu.
Nếu vi phạm, ai sẽ chịu trách nhiệm? Nếu AI tạo ra tác phẩm tương tự tác phẩm gốc thì xử lý ra sao? Hành lang pháp lý cần tiếp tục hoàn thiện. Các cá nhân, tổ chức khi sử dụng AI hãy cẩn trọng và trung thực trong sáng tạo. Nếu là sáng tạo trí tuệ con người, nhà nước sẽ bảo hộ. Nhưng nếu quá lệ thuộc vào AI, chúng ta sẽ dần mất đi khả năng tư duy và kiến thức cơ bản. Mong mọi người thông minh trong sử dụng AI, vừa tạo ra sản phẩm, vừa không vi phạm quyền lợi hợp pháp của người khác. Khi có sai phạm, pháp luật quy định rõ người sử dụng phải chịu trách nhiệm pháp lý, không thể lấy lý do là dùng AI nên không biết.

Nhà báo Hữu Việt: Gần đây, tôi có trao đổi với một đại diện Hội đồng Lý luận Trung ương. Anh ấy lo ngại nhất hiện nay là việc tổ chức các cuộc thi âm nhạc, có những tác phẩm tạo bằng AI lại hay hơn sản phẩm do người viết.

Ban tổ chức phải đối mặt với câu hỏi khó: Tại sao lại từ chối tác phẩm AI khi nó hay, đúng chủ đề và đáp ứng yêu cầu hơn người tự viết? Việc này hiện đang cực kỳ khó. Chúng ta cần hoàn thiện hành lang pháp lý để AI hỗ trợ khai phóng sáng tạo con người thay vì từ chối hay lệ thuộc vào nó.

Thưa bà Phan Cẩm Tú, từ góc độ người làm luật, các công nghệ và nền tảng xuyên biên giới đã đặt ra thách thức gì đối với lĩnh vực bảo hộ bản quyền điện ảnh? Đồng thời là chuyên gia tư vấn của Hiệp hội Điện ảnh Hoa Kỳ, bà có thể cho biết các nước khu vực và thế giới có gặp thách thức này không?

Bà Phan Cẩm Tú: Về khung pháp lý và nỗi lo AI tác động đến bản quyền như chị Oanh trình bày là rất chính xác. Tôi xin nhìn lùi lại một chút, bởi vì đứng từ góc độ người làm việc với các hãng phim, nỗi lo của họ chưa chờ đến lúc AI xuất hiện. Cuộc chiến với những người vi phạm bản quyền vốn dĩ đã vô cùng khốc liệt. Bây giờ những người vi phạm có thêm vũ khí mạnh hơn là AI.

Nhìn lại từ trước tới nay, chủ sở hữu quyền đã được bảo vệ đến đâu? Mình không thể phủ nhận sự tiến bộ của nền pháp lý Việt Nam thời gian qua. Năm 2024, 2025 là những năm đầu tiên các vụ việc vi phạm bản quyền được xét xử hình sự tại Việt Nam. Mặc dù quy định xử lý hình sự đã có từ năm 2010, nhưng đến tận bây giờ những vụ án lớn như Phimmoi hay Fmovies mới được đưa ra xét xử. Một thách thức không thể chối cãi là Việt Nam bị coi là quốc gia xuất khẩu web lậu lớn của thế giới. Ví dụ như Fmovies, từ tháng 1 năm 2023 đến tháng 6 năm 2024 có tới 6,7 tỷ lượt người truy cập. Việc Việt Nam mang vụ đó ra xét xử hình sự và có bản án là điều rất đáng khích lệ.

Tuy nhiên, liệu chúng ta đã xử lý triệt để được chưa? Thách thức còn vô cùng nhiều, chưa cần nhắc đến AI. Các quy định pháp luật được xây dựng từ trước khi có các trang web lậu tinh vi như hiện nay. Một thí dụ nhỏ, khi chủ sở hữu quyền tố cáo vi phạm, theo luật Việt Nam, họ không thể đưa ra toàn bộ bằng chứng chứng minh sở hữu đối với hàng chục nghìn bộ phim vì lượng giấy tờ rất khổng lồ. Việc xét xử và xử lý thường chỉ dựa trên mười mấy bộ phim có đủ bằng chứng.

Trong khi đó, kho phim của các đối tượng vi phạm lên tới 50.000 bộ phim. Các cơ quan điều tra, kiểm sát, tòa án gặp rất nhiều khó khăn vì không thể dùng điều luật hiện hành để xử lý yêu cầu cung cấp bằng chứng cho toàn bộ số phim đó. Trên thế giới không ai làm được như thế, nhưng yêu cầu pháp lý tại Việt Nam thì vẫn bắt buộc.

Về câu hỏi các nước thế giới có đối mặt với thách thức này hay không, câu trả lời là có. Nhưng hệ thống bảo vệ bản quyền và sự hỗ trợ của cơ quan thực thi tại các nước đó mạnh hơn Việt Nam khá nhiều. Chủ sở hữu quyền vẫn gặp nhiều khó khăn khi xử lý vi phạm tại Việt Nam.

Bà Phạm Thị Kim Oanh: Tiếp nối ý của chị Phan Cẩm Tú, vì bản quyền là quyền dân sự, cho nên việc đầu tiên là chủ thể quyền phải chứng minh quyền tài sản của mình. Do đó, các cơ quan thực thi buộc phải yêu cầu bằng chứng pháp lý ban đầu. Các nước cũng phải áp dụng công nghệ để giải quyết vấn đề bằng chứng, chủ động phối hợp với cơ quan thực thi.

Đối với kênh dân sự, cần sự phối hợp giữa chủ thể quyền và các hiệp hội. Từng cá nhân chủ thể quyền không đủ năng lực tự bảo vệ, họ cần các hiệp hội, tổ chức chung tay đấu tranh chống vi phạm.

Nhà báo Hữu Việt: Tình trạng vi phạm hiện nay là cuộc chiến không có hồi kết. Bên cạnh yếu tố công nghệ và pháp lý, một điều rất quan trọng là nhận thức xã hội. Nhận thức của người sử dụng ảnh hưởng trực tiếp đến việc bảo vệ bản quyền. Ở nước ngoài, người ta coi việc mượn đĩa phim xem chung là vi phạm đạo đức vì ảnh hưởng tới thu nhập của nhà sản xuất. Thưa bà Phạm Thị Kim Oanh, theo quan sát của bà, nhận thức của công chúng hiện nay, đặc biệt trong giới trẻ về bản quyền có tín hiệu gì đáng mừng không? Làm sao hạn chế tình trạng "hồn nhiên" sử dụng sản phẩm lậu?

Bà Phạm Thị Kim Oanh: Nếu chúng ta có hành lang pháp lý, hệ thống thực thi tốt nhưng ý thức người dân không nâng lên thì không thể giải quyết triệt để.

Gần đây, ý thức tuân thủ pháp luật bảo vệ bản quyền đã được nâng lên rất nhiều. Thông qua các chương trình truyền thông, chúng tôi thấy giới trẻ, đặc biệt là thế hệ Gen Z, đã có ý thức hơn. Các bạn sẵn sàng bớt tiền ăn sáng, uống cà phê để mua tài khoản Netflix hoặc đóng góp mua bản quyền. Trong các Fan Club, các bạn kêu gọi nhau bảo vệ sản phẩm của thần tượng, chủ động tìm kiếm và báo cáo các trang web vi phạm. Đó là những điểm sáng.

Tọa đàm khoa học: “Nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật về bản quyền của sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền”

Tọa đàm khoa học: “Nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật về bản quyền của sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền”

Tuy nhiên, vẫn còn những người "hồn nhiên" nghĩ rằng cứ lên mạng xem phim lậu là bình thường. Họ không biết rằng hành động đó tước đi nguồn sống của văn nghệ sĩ, những người đã đầu tư nhiều công sức, tiền bạc.

Chúng tôi phải đưa giáo dục bản quyền vào trường học. Cần một chiếc "kiềng ba chân": Thứ nhất, đào tạo từ nhỏ trong nhà trường và các trường đại học, xây dựng quy chế rõ ràng đối với việc sinh viên vi phạm bản quyền. Thứ hai, truyền thông thay vì chỉ nhấn mạnh mức phạt tiền lớn hay phạt tù, cần giáo dục về giá trị đạo đức, hướng dẫn giới trẻ trân trọng giá trị nghệ thuật, trở thành công dân số văn minh. Thứ ba, các chủ sở hữu quyền cần tạo ra các phương thức khai thác nội dung có bản quyền với mức phí phù hợp để giới trẻ dễ dàng tiếp cận. Khi ba yếu tố này vững chắc, giới trẻ sẽ tôn trọng bản quyền, thúc đẩy sáng tạo, mang lại nguồn thu xứng đáng cho người làm nghệ thuật. Hãy thưởng thức văn hóa một cách văn minh, có bản quyền.

Nhà báo Hữu Việt: Đây là một thông điệp lớn và truyền cảm hứng. Tôi xin chia sẻ một câu chuyện, ông Trần Bá Dương trồng sâm Ngọc Linh, ông ấy nói sâm sợ nhất bị chuột cắn. Thay vì chỉ dùng bẫy hay thuốc độc tốn kém, ông ấy trồng thêm những loại củ khác làm thức ăn cho chuột để bảo vệ sâm. Đôi khi hành vi vi phạm xuất phát từ nhu cầu không được thỏa mãn hoặc chi phí quá lớn. Thưa bà Tú, nhiều chuyên gia đánh giá ý thức tôn trọng bản quyền của công chúng Việt Nam còn yếu, đặc biệt trong lĩnh vực điện ảnh và truyền hình. Nhiều khán giả vẫn coi xem phim lậu là bình thường. Theo quan sát của bà, ý thức tôn trọng tài sản trí tuệ trong lĩnh vực phim ảnh có xu hướng thay đổi tích cực không?

Bà Phan Cẩm Tú: Đánh giá của chị Kim Oanh về thị trường rất chính xác. Nhớ lại thời điểm chưa có các nền tảng chính thống như Netflix, Galaxy, K+, khán giả chỉ có thể xem trên các trang web lậu. Bây giờ thị trường đã khác. Nhờ công tác tuyên truyền của các cơ quan, đặc biệt là Cục Bản quyền tác giả, ý thức của người dân đã được nâng cao rất nhiều. Mọi người, kể cả giới trẻ, đều hiểu bản quyền là gì. Xu hướng phát triển chung là tích cực.

Tuy nhiên, nhìn vào mặt trái, tôi thấy công chúng chưa thực sự coi tác phẩm điện ảnh hay văn học nghệ thuật là "tài sản". Việc xem phim lậu, đọc sách lậu chưa bị coi là hành vi phi đạo đức. Ngay cả thuật ngữ tiếng Anh "intellectual property" dịch chuẩn là "tài sản trí tuệ", nhưng Việt Nam lại gọi là "sở hữu trí tuệ". Ăn cắp tài sản nghe rất nghiêm trọng, còn vi phạm quyền sở hữu trí tuệ nghe nhẹ nhàng hơn nhiều. Về mặt thực thi, Bộ luật Hình sự quy định mức phạt tiền hàng trăm triệu đồng hoặc phạt tù. Nhưng trên thực tế, so sánh mức phạt đó với số tiền hàng chục tỷ đồng mà các trang web lậu thu lợi, tính răn đe nằm ở mức độ nào? Nhiều đối tượng vi phạm sẵn sàng bất chấp vì lợi nhuận. Tính răn đe của luật pháp là một khía cạnh cần suy ngẫm.

Bà Phạm Thị Kim Oanh: Tôi xin chia sẻ thêm thông tin khá mới về hành lang pháp lý. Việt Nam là một trong không nhiều quốc gia có biện pháp xử phạt vi phạm hành chính đối với quyền dân sự như bản quyền. Nghị định số 341 ban hành ngày 26/12/2025 có hiệu lực từ ngày 15/2/2026 đã có những thay đổi lớn. Trong đó, biện pháp khắc phục hậu quả yêu cầu bên vi phạm phải trả lại lợi nhuận thu được cho chủ thể quyền. Đây là một kênh rất quan trọng bên cạnh việc xử lý hình sự, vốn có quy trình phức tạp. Mức phạt đã được nâng lên và buộc bồi thường theo số lượng hiển thị trên website. Mong các chủ sở hữu quyền nghiên cứu kỹ Nghị định 341 để phối hợp với cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm nhanh và hiệu quả hơn.

Bà Phan Cẩm Tú: Ở các nước khác không có cơ chế xử phạt hành chính như Việt Nam. Việc chứng minh số tài sản bị mất của chủ sở hữu quyền là một câu chuyện cực kỳ đau đầu. Có rất nhiều người cùng vi phạm nên việc chứng minh thiệt hại chính xác là rất khó. Tuy nhiên, đứng trước tình trạng vi phạm, mong mỏi lớn nhất của các chủ sở hữu quyền là hành vi vi phạm phải được dừng lại, hơn là đòi lại phần tiền. Đi theo con đường kiện tụng dân sự rất gian nan, nên nhiều chủ sở hữu quyền Việt Nam rất ngại ngùng. Những quy định mới mà chị Oanh chia sẻ là một điểm rất hay để các chủ sở hữu quyền cân nhắc trong việc bảo vệ quyền lợi.

Bà Phạm Thị Kim Oanh: Nhớ lại những ngày tháng vất vả năm 2022-2023, chúng tôi đã đưa được các điều khoản 110 đến 114 vào Nghị định 17 năm 2023 ban hành đúng Ngày Sở hữu trí tuệ Thế giới (26/4). Đó là sự thay đổi mạnh mẽ chính sách thực thi bảo vệ bản quyền trên môi trường số, với cơ chế "thông báo - gỡ bỏ". Chủ thể quyền có thể trực tiếp yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ trung gian (ISP) gỡ bỏ nội dung vi phạm mà không cần qua cơ quan nhà nước.

Để tránh việc lạm dụng cơ chế này, Nghị định 341 cũng có quy định xử phạt cá nhân cố tình lạm dụng, thông báo sai sự thật. Nếu các nhà cung cấp dịch vụ trung gian không phối hợp gỡ bỏ, họ sẽ không còn được hưởng quy chế "bến cảng an toàn" và phải chịu trách nhiệm pháp lý. Đây là hành lang pháp lý rất mới với nỗ lực lớn của chúng tôi.

Những giải pháp xử lý tình trạng vi phạm bản quyền

Những giải pháp xử lý tình trạng vi phạm bản quyền

Nhà báo Hữu Việt: Câu chuyện của chúng ta mở rộng rất thú vị và chạm đến vấn đề thứ ba: các giải pháp. Bức tranh bảo vệ bản quyền không chỉ nằm ở hành lang pháp lý mà còn ở cơ chế thực thi, sự phối hợp của cơ quan nhà nước, chủ thể quyền và người thụ hưởng. Thưa hai vị khách mời, từ góc độ của những người làm thực tiễn, theo các bà hệ thống của chúng ta đã đủ mạnh chưa, hay cần tiếp tục bổ sung những điều gì để tháo gỡ điểm nghẽn trong quá trình thực thi?

Bà Phan Cẩm Tú: Giống như anh Việt vừa nói, muốn một biện pháp bảo vệ hiệu quả thì cần sự phối hợp từ nhiều phía, và luật pháp là yếu tố vô cùng quan trọng. Các cơ quan nhà nước, cơ quan điều tra rất cần những điều luật rõ ràng để có thể ủng hộ chủ sở hữu quyền. Trong thực tế, cơ quan điều tra gặp khó khăn vì quy định về chứng minh hành vi vi phạm, chứng minh quyền sở hữu hiện nay còn rất cứng nhắc. Ví dụ, chủ sở hữu quyền không thể tiết lộ giá mua bán phim trên thị trường. Họ phải chứng minh gắt gao quyền sở hữu đối với hàng nghìn bộ phim bị vi phạm, trong khi bên vi phạm lại không bị yêu cầu chứng minh nguồn gốc hợp pháp của nội dung họ đăng tải.

Việc này gây rất nhiều khó khăn, tốn kém thời gian và làm "trói chân trói tay" các bên trong việc xử lý vi phạm. Quy định pháp luật cần phải linh hoạt và thực tiễn hơn.

Bà Phạm Thị Kim Oanh: Mặc dù thời gian qua chúng ta đã sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ và các Nghị định, nhưng để thực hiện chiến lược phát triển văn hóa theo Nghị quyết 80 của Quốc hội và Nghị quyết 30 của Chính phủ, Việt Nam dự kiến sẽ xây dựng Luật Bản quyền tác giả độc lập, tách khỏi Luật Sở hữu trí tuệ, trình Quốc hội vào năm 2027-2028.

Chúng tôi đang nỗ lực nghiên cứu xây dựng hành lang pháp lý mạnh mẽ và rõ ràng hơn, giống như gần 150 quốc gia trên thế giới đã có luật riêng. Cục Bản quyền tác giả luôn sẵn sàng lắng nghe vướng mắc từ chủ thể quyền, doanh nghiệp, hiệp hội để đề xuất chính sách phù hợp. Khi xây dựng Luật Bản quyền tác giả độc lập, phải đáp ứng được sự phát triển công nghệ trí tuệ nhân tạo, làm rõ vai trò của các đơn vị trung gian và tạo cơ chế thực thi tổng thể, giảm thiểu các thủ tục rườm rà, bảo vệ sáng tạo và thúc đẩy văn hóa Việt Nam. Chúng tôi cần sự phối hợp của các bên để xây dựng chính sách phù hợp nhất.

Nhà báo Hữu Việt: Có thể nói Cục Bản quyền rất cởi mở và thiện chí, điều đó rất tốt cho các doanh nghiệp. Chúng ta nói kỹ hơn về Luật sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ. Thưa bà Phạm Thị Kim Oanh, những điểm mới trong luật sửa đổi này hỗ trợ như thế nào trong cuộc chiến chống vi phạm bản quyền?

Bà Phạm Thị Kim Oanh: Lần sửa đổi năm 2022 mới là thời điểm sửa đổi rất nhiều nội dung về bản quyền để thực thi cam kết. Lần sửa đổi này tập trung vào việc đáp ứng sự phát triển nhanh chóng của AI, như việc sử dụng tác phẩm, dữ liệu để đào tạo AI trong mục đích phi thương mại. Tư tưởng pháp lý chuyển hướng từ chỗ chỉ xử lý vi phạm sang việc tạo điều kiện cho khai thác, sử dụng. Vấn đề bản quyền không chỉ bảo vệ chủ thể quyền mà phải tạo điều kiện cho người sử dụng, giúp chủ thể quyền khai thác tài sản của mình.

Luật cũng hướng tới xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về bản quyền, yêu cầu chủ thể quyền cập nhật dữ liệu để cơ quan thực thi đối soát và bảo vệ tốt hơn.

Đồng thời, tôi hy vọng sẽ có sự đồng bộ trong Bộ luật Hình sự, tố tụng dân sự. Chúng tôi đã kiến nghị các cơ quan sửa đổi quy định cho phù hợp với môi trường số, giúp chủ thể quyền nhanh chóng yêu cầu xử lý vi phạm thay vì chỉ áp dụng các thủ tục của môi trường thực. Chúng tôi sẽ phối hợp chặt chẽ với các bộ ngành để hành lang pháp lý thực sự thuận lợi cho các bên.

Nhà báo Hữu Việt: Những tín hiệu tích cực đó tác động như thế nào đến lĩnh vực điện ảnh, thưa bà Phan Cẩm Tú?

Bà Phan Cẩm Tú: Những dấu hiệu đó đương nhiên tác động rất tích cực. Cục Bản quyền tác giả là cơ quan mà chúng tôi làm việc rất sát sao và chị Phạm Thị Kim Oanh cũng rất hỗ trợ các chủ sở hữu quyền, đặc biệt trong lĩnh vực điện ảnh vốn gặp nhiều khó khăn. Một bộ phim đầu tư hàng trăm triệu USD mà chỉ cần xem một lần là hết giá trị khai thác, nếu không có sự hỗ trợ của cơ quan nhà nước thì vô cùng khó khăn. Việc sắp có một bộ luật bản quyền độc lập là bước tiến đặc biệt đối với Việt Nam. Tôi hy vọng các chủ sở hữu quyền, các chuyên gia sẽ cùng đồng hành với cơ quan nhà nước để tạo ra một đạo luật thực sự có giá trị cho tất cả mọi người, giảm bớt gánh nặng cho cơ quan chức năng trong việc bảo vệ bản quyền.

Nhà báo Hữu Việt: Lúc nãy bà Pham Thị Kim Oanh có nhắc đến từ khóa "cây gậy bản quyền". Quốc tế hiện nay áp dụng công nghệ và cơ chế phát hiện tự động nội dung vi phạm trên nền tảng số rất hiệu quả. Thưa bà Oanh, Việt Nam đã có đủ nguồn lực pháp lý và cơ chế để ứng dụng công nghệ như AI, hệ thống Content ID, Blockchain trong bảo vệ bản quyền chưa?

Bà Phạm Thị Kim Oanh: Đúng là chúng ta phải dùng công nghệ để xử lý vấn đề công nghệ, nếu không sẽ bị tụt hậu. Về hành lang pháp lý, từ năm 2022, cơ chế "thông báo - gỡ bỏ" trực tiếp từ chủ thể quyền chính là "cây gậy bản quyền". Các cam kết quốc tế về bến cảng an toàn cho nhà cung cấp dịch vụ internet nếu tuân thủ yêu cầu gỡ bỏ cũng đã được luật hóa chi tiết tại Nghị định 17. Mặc dù công nghệ phát triển nhanh và pháp luật có độ trễ, nhưng hiện nay chúng ta đã có cơ chế cho phép chủ thể quyền hoặc cơ quan quản lý trực tiếp yêu cầu gỡ bỏ nội dung vi phạm. Ví dụ, năm ngoái Đài Truyền hình Việt Nam đã áp dụng cơ chế này gỡ bỏ thành công 43.000 trường hợp vi phạm mà không cần qua cơ quan nhà nước. Đó là những công cụ rất hữu hiệu.

Trong kế hoạch, Cục Bản quyền tác giả đề xuất hoàn thiện ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý. Cơ quan quản lý nhà nước cần được đầu tư thỏa đáng kinh phí, áp dụng AI để rà soát, truy quét vi phạm. Chúng tôi đang dự định xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về bản quyền để đối soát, tính toán áp dụng Blockchain trong đăng ký bản quyền. Khi chứng cứ pháp lý minh bạch, không thể lạm dụng, thì sẽ thúc đẩy được công tác bảo vệ.

Mặc dù đăng ký bản quyền không bắt buộc, nhưng nó là biện pháp hữu hiệu giúp chủ thể quyền có chứng cứ ban đầu cung cấp cho cơ quan thực thi hoặc nhà cung cấp dịch vụ trung gian để tháo gỡ vi phạm ngay lập tức, ví dụ như trong bảo vệ bản quyền các trận bóng đá trực tiếp.

Quang cảnh họp báo.

Quang cảnh họp báo.

Nhà báo Hữu Việt: Chúng ta mong muốn "cây gậy bản quyền" thực sự linh nghiệm như gậy như ý, có phép thuật để mọi người đều sợ vi phạm, nhưng không được lạm dụng, phải có cơ chế kiểm soát. Câu trả lời của bà Phạm Thị Kim Oanh rất rõ. Thưa bà Phan Cẩm Tú, trong lĩnh vực điện ảnh, các giải pháp công nghệ đã được sử dụng như thế nào để phát huy hiệu quả cây gậy bản quyền này?

Bà Phan Cẩm Tú: Với sự tiến bộ của công nghệ, chủ sở hữu quyền luôn tìm cách tạo ra các "ổ khóa" bảo vệ tài sản, từ thời đĩa CD có mã số nhà máy, tem chống giả, cho đến nay là watermark, CDN. Các hãng phim Việt Nam khá cập nhật so với thế giới trong chuyện này, họ luôn tìm cách bảo vệ sản phẩm. Tuy nhiên, "khóa nào thì cũng có cách mở". Bên vi phạm có rất nhiều mưu mô để đối phó với biện pháp của chúng ta. Vì vậy, không có một biện pháp công nghệ nào là thần thánh. Giải quyết vấn đề này cần một tổng thể hài hòa từ hành lang pháp lý, ý thức con người cho đến biện pháp thực thi. Không có một giải pháp đơn lẻ nào giải quyết được mọi việc.

Nhà báo Hữu Việt: Như vậy, chúng ta thống nhất rằng để xử lý vi phạm cần sự phối hợp tổng thể nhằm xây dựng môi trường số lành mạnh, nơi bản quyền được tôn trọng. Chúng tôi xin dành hai câu hỏi cuối cùng. Thưa bà Phạm Thị Kim Oanh, trong thời gian tới, Cục Bản quyền sẽ ưu tiên những giải pháp nào để nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ bản quyền?

Bà Phạm Thị Kim Oanh: Giải pháp thì có rất nhiều nhưng phải thực hiện một cách tổng thể. Thứ nhất là hoàn thiện hành lang pháp lý, cụ thể là xây dựng Luật Bản quyền tác giả trình Quốc hội đáp ứng sự phát triển công nghệ. Thứ hai là đẩy mạnh truyền thông, nâng cao ý thức tuân thủ của người dân và sự chủ động của chính chủ thể quyền. Thứ ba, các cơ quan thực thi phải xử lý nhanh chóng, nghiêm minh các vi phạm. Để làm được điều đó, cần trang bị công nghệ thông tin cho cơ quan xử lý. Thứ tư, phát huy hệ thống tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan (như VCPMC, VIETRO) làm cầu nối giữa chủ thể quyền và bên sử dụng. Hoạt động cấp phép, thu và chi trả tiền bản quyền phải công khai, minh bạch thông qua áp dụng công nghệ. Thứ năm, công nghệ phải được đầu tư đúng mức, không có công nghệ thì không thể thực thi bảo vệ bản quyền trên môi trường số. Thứ sáu, tăng cường hợp tác quốc tế, vì vi phạm trên không gian mạng là vi phạm xuyên biên giới, không thể tự giải quyết đơn độc.

Nhà báo Hữu Việt: Thưa bà Phan Cẩm Tú, đối với lĩnh vực điện ảnh đang được kỳ vọng đi đầu trong công nghiệp văn hóa với những bộ phim doanh thu hàng trăm tỷ, chúng ta cần làm gì để xây dựng một môi trường thưởng thức phim lành mạnh, tôn trọng bản quyền?

Bà Phan Cẩm Tú: Xây dựng một môi trường lành mạnh cần sự kết hợp từ người xem, nhà cung cấp dịch vụ, cơ quan quản lý và cơ quan thực thi. Chúng ta đang đi đúng hướng kể từ khi xây dựng Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005. Năng lực của các nhà làm phim Việt Nam ngày càng tốt, chứng minh được trên thương trường và thu hút người xem, từ đó người Việt cũng sẽ có ý thức hơn trong việc bảo vệ tài sản trí tuệ của người Việt.

Một điểm tôi muốn nhấn mạnh là cần nâng cao năng lực cho các cơ quan thực thi pháp luật. Trước sự thay đổi quá nhanh của công nghệ và tính chất xuyên biên giới của vi phạm, cơ quan thực thi cần phải được cập nhật kiến thức, hợp tác kết nối quốc tế để điều tra và xử lý triệt để.

Nhà báo Hữu Việt: Xin cảm ơn hai diễn giả về những chia sẻ rất nhiều thông tin và thông điệp ý nghĩa. Kính thưa quý vị, qua cuộc trao đổi, chúng ta thấy việc bảo vệ bản quyền không chỉ là vấn đề pháp lý mà còn đóng vai trò vô cùng quan trọng trong chiến lược phát triển văn hóa, kinh tế sáng tạo. Bản quyền không chỉ là xử lý vi phạm mà là nền tảng bền vững để phát triển công nghiệp văn hóa sáng tạo Việt Nam trong kỷ nguyên số. Một lần nữa xin trân trọng cảm ơn các khách mời và quý vị khán giả đã theo dõi.

E-Magazine | Nhandan.vn
Tổ chức thực hiện: HỒNG VÂN
Nội dung: TUYẾT LOAN, TRƯƠNG NGỌC, NGỌC KHÁNH, HỒNG QUÂN
Trình bày: VÂN THANH