PV: Được biết trong thời gian qua, quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Sri Lanka đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Đại sứ có thể chia sẻ những dấu ấn mới trong giai đoạn vừa qua?
Đại sứ Trịnh Thị Tâm: Việt Nam và Sri Lanka thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 21/7/1970. Trải qua 56 năm, quan hệ hữu nghị truyền thống giữa hai quốc gia không ngừng được củng cố và phát triển hợp tác nhiều mặt. Sri Lanka có thiện cảm và coi trọng quan hệ với Việt Nam, coi Việt Nam là hình mẫu thành công trong phát triển kinh tế để Sri Lanka học tập. Sri Lanka đã công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường đầy đủ. Bối cảnh chính trị thuận lợi này là nền tảng tốt để chúng ta thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư.
Từ giữa tháng 8 vừa qua, các hãng hàng không Việt Nam là Vietnam Airlines và Vietjet đã chính thức khai thác và mở chuyến bay thẳng đầu tiên giữa hai nước. Đây là những chuyến bay đầu tiên trong lịch sử quan hệ hai nước kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1970 đến nay, cũng là sau 34 năm kể từ khi hai nước lần đầu ký Hiệp định Vận tải hàng không năm 1992. Việc mở đường bay thẳng là một dấu ấn rất quan trọng trong quan hệ hai nước, mở ra nhiều cơ hội không chỉ về du lịch mà còn cả thương mại, đầu tư, văn hóa và giao lưu nhân dân. Trong bối cảnh đó, chúng tôi lại càng ưu tiên thúc đẩy các hoạt động mang tính chất quảng bá về văn hóa, lịch sử và con người Việt Nam để thu hút khách du lịch Sri Lanka đến với nước ta, đồng thời đóng góp thiết thực cho sự phát triển kinh tế đất nước.
Về phương diện văn hóa, Bộ Phật giáo, Tôn giáo và Văn hóa Sri Lanka mong muốn khởi động lại và làm mới Biên bản ghi nhớ về hợp tác văn hóa đã được ký kết giữa hai nước từ năm 2009, trong đó đề xuất một số lĩnh vực có thể cùng hợp tác như khảo cổ, giao lưu văn hóa... Quan hệ trong lĩnh vực giao lưu Phật giáo giữa hai nước đã đạt được một số kết quả nhất định thông qua hoạt động trao đổi đoàn, ủng hộ và tham dự các hội nghị, hoạt động quốc tế liên quan đến tôn giáo do hai bên tổ chức.
Với suy nghĩ đó, chúng tôi đã tổ chức tập trung vào các hoạt động giao lưu văn hóa, như Lễ kỷ niệm Quốc khánh hay Tuần lễ ẩm thực Việt Nam tại khách sạn trung tâm Thủ đô Colombo hồi tháng 8, một số hoạt động như quảng bá giới thiệu ẩm thực, trà, cà-phê Việt Nam giữa tháng 9 vừa qua, đã thu hút sự quan tâm và gây tiếng vang với bạn bè sở tại.
PV: Hiện nay, tình hình kinh tế-xã hội Sri Lanka có những vấn đề đáng lưu ý nào, thưa bà?
Đại sứ Trịnh Thị Tâm: Tăng trưởng kinh tế Sri Lanka ghi nhận xu hướng phục hồi sau giai đoạn suy giảm sâu. Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn đối mặt nhiều rủi ro, phụ thuộc lớn vào nhập khẩu năng lượng... Hiện, kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam và Sri Lanka dao động khoảng 300 đến 400 triệu USD mỗi năm trong vài năm gần đây. Hai nước đã thiết lập ba cơ chế hợp tác song phương gồm Ủy ban hỗn hợp về Kinh tế, Khoa học và Kỹ thuật, cơ chế tham khảo chính trị và Tiểu ban Thương mại hỗn hợp Việt Nam - Sri Lanka để bàn biện pháp thúc đẩy hợp tác thương mại song phương.
Trước khi có đường bay thẳng, kết nối giao thương hai bên còn hạn chế. Sau đại dịch Covid-19, Sri Lanka lại trải qua cuộc khủng hoảng tài chính trầm trọng nhất lịch sử phát triển. Hiện nay, họ vẫn đang thực hiện chương trình cải cách của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) nên phải áp dụng nhiều chính sách "thắt lưng buộc bụng". Do vậy, hợp tác trong lĩnh vực thương mại, đầu tư này vẫn khá khiêm tốn, chưa như kỳ vọng hay tiềm năng sẵn có của hai nước. Hiện, chủ yếu là Sri Lanka đầu tư sang Việt Nam với khoảng 30 dự án nhỏ, trị giá hơn 40 triệu USD, còn Việt Nam chưa có dự án đầu tư nào tại Sri Lanka.
Nền kinh tế Sri Lanka còn phụ thuộc lớn nhập khẩu năng lượng và thị trường xuất khẩu, cũng như chịu tác động trực tiếp từ biến động giá dầu do xung đột Trung Đông. Các sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Sri Lanka là trà, quế và dừa. Còn nông sản vẫn theo phương châm tự túc phục vụ nhu cầu trong nước.
PV: Đại sứ đánh giá thế nào về cơ hội hợp tác, đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam tại Sri Lanka, cơ hội kinh doanh ở thị trường này ra sao?
Đại sứ Trịnh Thị Tâm: Chúng tôi đánh giá đây là thị trường tiềm năng nhưng giai đoạn hiện nay mới chỉ ở bước đầu. Việc xuất khẩu gạo sang cũng gặp một số khó khăn, nên chúng tôi đang thúc đẩy nhập khẩu gạo Việt Nam để phục vụ du lịch. Du lịch và kiều hối là nguồn đóng góp lớn cho nền kinh tế của Sri Lanka. Khách du lịch vào đây nhu cầu rất khác nhau, không thể chỉ ăn gạo Sri Lanka hay cà-ri mà cần đa dạng hóa thực phẩm.
Việc mở đường bay thẳng giữa hai nước đã mang lại một số dấu hiệu tích cực như các doanh nghiệp bắt đầu quan tâm sang du lịch kết hợp tìm hiểu thị trường, chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam. Sứ quán tuy chưa có bộ phận thương vụ riêng nhưng luôn sẵn sàng hỗ trợ thông tin, kết nối. Vừa rồi dịp Quốc khánh, chúng tôi đã mời một doanh nghiệp lúa gạo hữu cơ Việt Nam sang giới thiệu các sản phẩm nông sản sạch như mì, phở, bánh nem, mộc nhĩ... và được các khách sạn đón nhận rất tốt. Cách làm của chúng tôi là tiếp cận các khách sạn, nhà hàng, resort trước thay vì vào chuỗi siêu thị lớn hiện đang khó khăn vì họ áp hạn ngạch. Chúng tôi đi theo các kênh nhỏ lẻ tạo “vết dầu loang”, dần dần đưa sản phẩm Việt Nam tiếp cận thị trường.
Chúng tôi cũng ưu tiên dùng cà-phê G7 làm quà tặng đối ngoại để quảng bá và họ rất thích. Hiện sứ quán đang vận động chuỗi siêu thị lớn Cargill Food City làm thủ tục nhập khẩu và phân phối G7. Sứ quán cũng phối hợp với các hãng hàng không tạo điều kiện ưu đãi hành lý cho doanh nghiệp vừa và nhỏ mang sản phẩm sang quảng bá để tăng cường nhận thức về sản phẩm Việt Nam tại đây. Đó là cách đi tiệm tiến từng bước phù hợp tình hình thực tế.
PV: Cộng đồng người Việt Nam ở Sri Lanka có những nét đặc thù, vậy trong công tác bảo hộ công dân chúng ta có gặp khó khăn gì không?
Đại sứ Trịnh Thị Tâm: Cộng đồng người Việt Nam có khoảng 200 - 300 người, bao gồm phụ nữ Việt kết hôn với người bản địa; tăng, ni đang học tập và tu tập tại các trường đại học, cơ sở Phật giáo của Sri Lanka; công nhân do các công ty ở Việt Nam gửi sang làm việc theo hợp đồng có thời hạn và số còn lại làm các ngành nghề dịch vụ khác. Dù đời sống còn nhiều khó khăn nhưng cộng đồng vẫn hướng về Tổ quốc, tích cực thực hiện các hoạt động thiện nguyện, tham gia các phong trào do Đại sứ quán phát động.
Tôi trước đây từng công tác tại Hàn Quốc, nơi có nhiều trường hợp cô dâu Việt Nam gặp hoàn cảnh éo le và bất hạnh. Khi mới sang đây, tôi cũng lo lắng các cô dâu Việt Nam ở Sri Lanka có gặp tình trạng tương tự không. Nhưng rất mừng là các gia đình Sri Lanka có truyền thống gia đình và giá trị Phật giáo gắn kết. Các cô dâu sống hạnh phúc, ổn định, hầu như tôi không nhận được phản ánh nào liên quan đến bạo hành hay ngược đãi.
Trường hợp bảo hộ công dân khiến tôi nhớ nhất liên quan đến các thuyền viên đi biển chẳng may tử nạn trên đường đi qua vùng biển Sri Lanka. Sứ quán phải hỗ trợ làm các thủ tục khi tàu cập cảng Colombo để đưa di hài về nước. Từ khi tôi nhận nhiệm vụ đến nay có hai trường hợp người lao động trên biển bị tai nạn tử nạn trong lúc đang đi làm, Đại sứ quán hỗ trợ gia đình làm thủ tục nhanh gọn nhất để góp phần vơi bớt đau thương trong hoàn cảnh ngặt nghèo ở đất khách quê người. Còn lại các trường hợp khác chủ yếu là mất giấy tờ, thủ tục hành chính thông thường, không có gì đáng lo ngại.
PV: Trân trọng cảm ơn Đại sứ!