Từ bức tranh “Ông Ké Kách mệnh về Pác Bó năm 1941”
Tháng 8/2025, cụ Lê Phú người đại đội trưởng đầu tiên Đại đội Ký Con (tiền thân của Trung đoàn 66 - Sư đoàn 304 hiện nay) chuyển cho tôi một số tư liệu cụ cẩn thận gìn giữ từ nhiều năm. Sắp bước sang tuổi 101 (cụ Lê Phú sinh năm 1925), cụ nói với tôi, quỹ thời gian của cụ không còn nhiều, ngày ra đi “về cõi Bác Hồ” bất cứ lúc nào, con gái cụ là bác sĩ cũng dặn dò như vậy để người thân sẵn sàng tâm lý, không bi lụy. Trong những tư liệu tôi được nhận, có tạp chí “Sách & đời sống”, số tháng 8.2005, bút tích họa sĩ Thế Vỵ tặng cụ Lê Phú, kể chuyện hành trình vẽ bức tranh “Ông Ké Kách mệnh về Pác Bó năm 1941” mà ông dày công nghiên cứu, gần 40 năm mới hoàn thành.
Theo lời họa sĩ Thế Vỵ kể, năm 1956 ông lên Pác Bó, gặp anh em ông Dương Đại Phong, Dương Đại Lâm, Dương Đại Hoa. Đặc biệt, bà vợ ông Dương Đại Lâm, người dân tộc Nùng, thường đem thức ăn tiếp tế cho Bác Hồ những ngày hoạt động bí mật ở Pác Bó. Bà được Ông Ké lấy tên ngôi làng của mình đặt cho là Vương Thị Kim Liên. Bức tranh sơn mài “Ông Ké Kách mệnh về Pác Bó năm 1941” của họa sĩ Thế Vỵ hoàn thành năm 1994, được trao Huy chương bạc (không có Huy chương vàng) tại Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc (1995).
Đầu xuân Bính Ngọ (2026), tôi về Pác Bó. Bước chân vào ngôi nhà xưa của anh em ông Dương Đại Lâm, trên tường treo trang trọng Bằng Có công với nước do Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng ký tặng cụ Dương Văn Đình: “Đã nêu cao tinh thần yêu nước, tích cực đấu tranh chống đế quốc và bảo vệ Cách mạng…”.
Tròn 85 năm ngày lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Chủ tịch Hồ Chí Minh - Ông Ké về nơi đây sau 30 năm xa đất nước (5/6/1911 - 28/1/1941), cảnh vật có nhiều đổi thay. Ngay như ngôi nhà của cụ Dương Văn Đình, người anh kết nghĩa với Ông Ké, thân sinh của anh em ông Dương Đại Lâm, đổi thay cũng nhiều. Theo phong tục người Nùng nơi đây, cha mẹ ở với con trai út, cụ Dương Văn Đình ở với ông Dương Đại Hoa, giờ đây cháu nội ông Dương Đại Hoa đang ở trong ngôi nhà vách và mái dựng tạm bằng tôn. Hỏi về bà Vương Thị Kim Liên, gia đình cho biết bà chuyển về Thái Nguyên cùng con trai út Dương Bằng Hà từ hơn 50 năm trước.
Đặc ân của “Cống Hồ”
Từ Cao Bằng, tôi xuôi về Thái Nguyên tìm gặp Thượng tá Dương Chí Bằng Hà (tên thường gọi là Dương Bằng Hà) cán bộ hưu trí Quân khu 1. Sắp sang tuổi 75, ông Bằng Hà xúc động khi ôn lại kỷ niệm - mà ông gọi là đặc ân của “Cống Hồ” (ông nội Hồ Chí Minh) - với gia đình mình.
“Cha mẹ tôi (ông bà Dương Đại Lâm - Vương Thị Kim Liên) vẫn dặn anh chị em chúng tôi, người ngoài gọi là Bác Hồ, hay gọi là Hồ Chủ tịch, còn các con phải gọi bằng cống (tiếng Nùng nghĩa là ông nội); vì ông nội của các con (cụ Dương Văn Đình) đã được cống Hồ nhận làm anh kết nghĩa”.
Nhìn lên bản sao bức tranh “Ông Ké Kách mệnh về Pác Bó năm 1941” (bản chính được trao tặng gia đình ông Dương Đại Hoa ở Pác Bó) ông Bằng Hà bồi hồi nhớ những kỷ niệm về cha mẹ được “cống Hồ” đặt tên. Trong nhà hiện nay không ai còn biết tên cái của cha bác mình mà chỉ nhớ tên do Bác Hồ đặt cho 5 anh em trai (con cụ Dương Văn Đình) là Dương Đại Phong (con cả), Dương Đại Vinh, Dương Đại Long, Dương Đại Lâm và Dương Đại Hoa.
Sinh thời, bà Vương Thị Kim Liên kể lại trong hồi ký “Những ngày theo Bác” (NXB Việt Bắc, 1971): Đầu năm 1941, giữa những ngày đông giá lạnh, bà được ông Dương Đại Lâm dẫn vào hang Pác Bó giới thiệu với Ông Ké. Lần gặp đầu tiên, Ông Ké đã niềm nở và tươi cười nói chuyện với bà bằng tiếng dân tộc, khiến bà ngạc nhiên hỏi chồng: “Ông cụ là người dân tộc Nùng mình à?”. Ông Đại Lâm không nói gì, chỉ nhìn vợ cười. Còn Ông Ké hỏi bà: “Tên cháu là gì?”.
Bà ngập ngừng trả lời: “Tên cháu là Vương Thị Hú ạ!”.
“Tên cháu là Vương Thị Hú thì gọi hơi khó - ông Ké nói - từ nay đổi lại là Vương Thị Kim Liên, cháu đồng ý không?”.
Chưa rõ ý nghĩa của tên gọi mới song bà vẫn đồng ý. Qua lần đầu được gặp, bà Kim Liên thấy ở Ông Ké tình thương đầm ấm như một người cha trong gia đình. Từ đó, hằng ngày bà được tổ chức cho phép bí mật mang cơm nước tiếp tế cho Ông Ké. Mỗi lần được gặp như vậy, Ông Ké lại tranh thủ dạy bà học văn hóa và lòng yêu nước, yêu cách mạng. Dần dần bà được Ông Ké giới thiệu vào Mặt trận Việt Minh và tham gia công tác phụ nữ, do Ông Ké trực tiếp hướng dẫn.
Cách mạng Tháng Tám 1945 thắng lợi, bà Vương Thị Kim Liên cùng gia đình mới được biết Ông Ké đó chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bà có vinh dự được mang tên quê nội của Người. Mùa xuân năm 1946, ông Dương Đại Lâm cũng trúng cử trở thành Đại biểu Quốc hội đầu tiên của tỉnh Cao Bằng. Ông được về Hà Nội họp Quốc hội và gặp lại Ông Ké - Chủ tịch Hồ Chí Minh trong mùa xuân độc lập đầu tiên.
Mồng 5 Tết Tân Sửu (20/2/1961), Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Pác Bó. Bà Vương Thị Kim Liên kể lại: Bác vừa bước vào nhà, liền hỏi bằng tiếng Nùng: “Kim Liên dú tầư?” (Kim Liên đâu rồi?).
Bà mừng rỡ ra chào Bác. Bác hỏi bà bấy lâu công tác gì? Bà trả lời hiện làm bí thư phụ nữ xã vì chữ nghĩa ít quá. Bác động viên: “Bổ túc Kim Liên ạ!”.
Rồi Bác hỏi chuyện riêng: “Mì kỉ lai cần lục dá?” (Có mấy con rồi?).
Bà Kim Liên thưa: “Lục mì slí cần lục, slam chài, nhình đeo” (Con có bốn người con, ba trai, một gái).
Bác dặn dò bà như người cha dặn con gái 20 năm trước: “Gầu nọi lục, công tac đây hơn” (Nuôi con ít công tác tốt hơn).
Trưa hôm ấy vào thăm lại hang Cốc Bó, suối Lê-nin, núi Các-Mác xong, Bác về nhà cụ Dương Văn Đình dùng cơm, tuy nhà chật nhưng có không khí gia đình. Cụ Đình đã mất, ông Đại Lâm trực cơ quan Quân khu ở Thái Nguyên, bà Kim Liên được ngồi cạnh tiếp thức ăn và nghe Bác vui vẻ nói chuyện: “Hồi ấy Kim Liên chưa biết chữ, nói tiếng phổ thông chưa thạo. Đại Lâm là du kích nay là Đại tá Phó Chính uỷ Quân khu. Các cháu nay cháu đại học, cháu là sĩ quan...”.
Cơm xong, Bác đang trò chuyện thì đã có tiếng máy bay trực thăng từ từ đậu xuống, ngay trước cánh đồng Pác Bó. Ông Hoàng Hữu Kháng - Cục trưởng Cục Cảnh vệ vào báo cáo Bác trời đã sang chiều, xin Bác về sớm kẻo sương mù xuống, khó về.
Bà Kim Liên kêu lên: “Cha ơi! Cha về phép ít thế, cả nhà đã kịp nói chuyện gì đâu?”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh an ủi: “Bác rất muốn ở lâu với gia đình và dân bản nhưng Chính phủ có nhiều việc, lại cho máy bay đón, nên phải về thôi”. Lúc ra về Người dặn: “Khi nào được rỗi, Kim Liên về Hà Nội chơi với Bác”.
Bận việc nhà, việc xã, bà Kim Liên chưa có dịp nào về Hà Nội được. Năm 1968, một đồng chí Phó Chủ tịch Quốc hội lên thăm Pác Bó, Bác gửi cho bà Kim Liên hai thước vải hoa. Vải ấy, ông Bằng Hà nhớ rõ, được mẹ cắt may quần áo nhưng bà chỉ mang ra mặc trong ngày lễ như sinh nhật “Cống Hồ” 19/5 hoặc Quốc khánh 2/9 xong bà Kim Liên lại cất đi.
“Khi mẹ tôi qua đời, biết đây là bộ quần áo mẹ rất quý, anh em chúng tôi đã chôn cất theo mẹ sang thế giới bên kia”, Thượng tá Dương Chí Bằng Hà bồi hồi.