Kỷ niệm 115 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911 - 5/6/2026)

Tấm gương không ngừng sáng tạo và khơi nguồn sáng tạo

Tròn 115 năm trước, quyết định đi tìm đường cứu nước thể hiện rõ tư duy độc lập, sáng tạo của Nguyễn Tất Thành. Đây cũng là quyết định khởi nguồn cho thắng lợi của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam. Hình ảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng, là nguồn cảm hứng cổ vũ cho độc lập, tự do của các dân tộc. Cuộc đời của Người là hành trình không mệt mỏi sáng tạo không ngừng.

Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội Tours của Đảng Xã hội Pháp tháng 12/1920. Ảnh tư liệu
Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội Tours của Đảng Xã hội Pháp tháng 12/1920. Ảnh tư liệu

Tấm gương sáng tạo khi xây dựng đường lối cách mạng

Đầu thế kỷ XX, nhiều thanh niên Việt Nam đang hướng sự ngưỡng mộ về “người anh cả da vàng” Nhật Bản đã chiến thắng nước Nga Sa hoàng năm 1905, rồi nô nức Đông Du hay kỳ vọng ở cuộc Cách mạng Tân Hợi 1911 đang làm rung chuyển Trung Hoa được dẫn dắt bởi chủ nghĩa Tam dân của bác sĩ Tôn Dật Tiên. Nhưng Nguyễn Tất Thành đã tìm cách sang phương Tây để tìm con đường giải phóng dân tộc. Nước Pháp với lý tưởng Tự do - Bình đẳng - Bác ái đã làm rung động Nguyễn Tất Thành khi còn ở tuổi thiếu niên. Anh “muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta”[1].

Năm 1924, từ vốn thực tiễn phong phú của mình, nhà cách mạng trẻ Nguyễn Ái Quốc đến từ một nước thuộc địa phương Đông đã nêu một quan điểm hoàn toàn mới: “Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông”[2]. Nguyễn Ái Quốc cũng là người đầu tiên đã vượt ra ngoài khuynh hướng “tả”, nhấn mạnh đấu tranh giai cấp của Quốc tế Cộng sản đang chỉ đạo phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa khi nêu quan điểm: Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước. Trong những năm 20 của thế kỷ XX, nhiều nhà cách mạng ở các nước phương Tây xem những dân tộc ở các nước thuộc địa là những dân tộc lạc hậu. Trong quan niệm của họ, cuộc cách mạng ở những nước thuộc địa chỉ có thể tiến hành với việc giải phóng giai cấp công nhân ở “chính quốc”. Trong bối cảnh đó, Nguyễn Ái Quốc tỏ rõ thái độ dũng cảm khi khẳng định và đấu tranh cho quan điểm: Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa không hoàn toàn phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở “chính quốc”, nhân dân các nước thuộc địa có thể đứng lên tự giải phóng mình và cuộc cách mạng có thể thắng lợi trước ở một nước thuộc địa.

Luận điểm độc lập đầy sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc đã dẫn đường phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam đi đến thành công trọn vẹn của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Nhà nghiên cứu Gabrien Bone nhận xét: “Công trình phân tích về thuộc địa của Hồ Chí Minh vượt xa tất cả những gì mà cho đến lúc bấy giờ các nhà lý luận Marxit đã nói... Hồ Chí Minh đã soạn thảo một chùm lý luận đầy uy tín không thể chối cãi được nhằm giải phóng người dân thuộc địa bị áp bức”[3].

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức được thực tế khó khăn của con đường xây dựng đất nước. Từ năm 1946, khi trả lời phỏng vấn của báo chí phương Tây, Người nói: “Muốn cho chủ nghĩa cộng sản thực hiện được, cần phải có kỹ nghệ, nông nghiệp và tất cả mọi người đều được phát triển hết khả năng của mình. Ở nước chúng tôi, những điều kiện ấy chưa có đủ”[4]. Khi lãnh đạo xây dựng đất nước, Người nhấn mạnh tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo, xuất phát từ thực tế: “Hiện nay đứng về mặt xây dựng chủ nghĩa xã hội, tuy chúng ta đã có những kinh nghiệm dồi dào của các nước anh em, nhưng chúng ta cũng không thể áp dụng những kinh nghiệm ấy một cách máy móc, bởi vì nước ta có những đặc điểm riêng của ta”[5]. Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh những luận điểm sáng tạo và dũng cảm của Hồ Chí Minh là hoàn toàn đúng đắn.

Tìm cách sáng tạo nhất, hiệu quả nhất với tinh thần nhân văn nhất

Năm 1965, khi được xem bộ phim tài liệu có cảnh các chiến sĩ cho ca-nô chạy tốc độ cao để kích nổ thủy lôi từ trường của Mỹ đang phong tỏa đường sông, cửa biển Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao sự dũng cảm của các chiến sĩ, nhưng Người lo lắng, cách làm đó nguy hiểm cho tính mạng của các chiến sĩ.

Ý kiến đó thể hiện rõ phong cách tư duy Hồ Chí Minh. Với mỗi vấn đề, từ những việc nhỏ hằng ngày tới những công việc lớn ở tầm quốc gia, Người đều cố gắng tìm ra cách giải quyết sáng tạo nhất, hiệu quả nhất với tinh thần nhân văn nhất. Từ ý kiến của Người đã dẫn đến sự ra đời của chiếc ca-nô không người lái, điều khiển từ xa, ký hiệu T5 thực hiện nhiệm vụ rà phá thủy lôi Mỹ, bảo đảm giao thông đường thủy thông suốt, bảo đảm tính mạng của các chiến sĩ. Chiếc tàu phá lôi T5 đầu tiên được thử nghiệm trong tháng 5/1968. Trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại miền bắc lần thứ hai, ngày 24/8/1972, tàu T5 lần đầu phá thành công thủy lôi từ trường, khai thông đoạn sông Đuống từ Chi Nhị đến Đào Viên (Bắc Ninh)[6]. Mẫu tàu này đã được nhân bản tới 20 chiếc góp phần làm sạch các luồng lạch ở miền bắc.

Trước những kẻ địch mạnh hơn, sức mạnh trí tuệ Việt Nam đã được phát huy mạnh mẽ đã đánh thắng ưu thế về binh lực, hỏa lực, các phương tiện kỹ thuật, các chiến thuật chiến tranh hiện đại của đối phương trên chiến trường Việt Nam. Ở vị trí người lãnh đạo cao nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã động viên toàn quân, toàn dân phát huy truyền thống chống xâm lược của cha ông, phát huy sáng tạo tối đa những lợi thế Việt Nam, hạn chế tối đa những điểm mạnh của kẻ địch, dùng mưu để chiến thắng với chi phí, tổn thất thấp nhất. Một dân tộc nhỏ bé và kiên cường đã nêu cao ý chí quyết tâm bảo vệ độc lập, tự do, đã quả cảm Dám đánh và sáng tạo, mưu trí Biết thắng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khơi nguồn cho dòng sức mạnh trí tuệ Việt Nam dâng cao trong cuộc đấu tranh năm xưa và tiếp tục cuộn chảy tới hôm nay.

Thế giới đang từng giờ thay đổi. Yếu tố “Sáng tạo” càng cần nhấn mạnh hơn với mỗi công việc, với mỗi người, mỗi cộng đồng, mỗi đất nước nếu không muốn bị bỏ lại phía sau. Tiếp sau tinh thần “Học, học nữa, học mãi” phải/sẽ là “Sáng tạo, sáng tạo nữa, sáng tạo mãi”. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu tấm gương lớn của tinh thần đó. Bối cảnh mới hôm nay càng cần chúng ta phát huy tinh thần đó.

[1] Trần Dân Tiên (1994): Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Thanh niên, Hà Nội, tr. 13.

[2] Báo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ - Hồ Chí Minh (2011): Toàn tập, tập 1 - Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 510.

[3] Tạp chí Thông tin lý luận, số 7/1993, tr. 4.

[4] Hồ Chí Minh (2011): Toàn tập, tập 4, Sđd, tr. 272.

[5] Hồ Chí Minh (2011): Toàn tập, tập 11, Sđd, tr. 97.

[6] https://nhandan.vn/cau-chuyen-ve-chiec-tau-pha-thuy-loi-post547864.html; và https://baotangbacninh.vn/ds-hien-vat/95