Nâng tầm thương hiệu sản phẩm xuất khẩu

Đẩy mạnh xuất khẩu (XK) vào các thị trường Việt Nam đã ký kết hiệp định thương mại tự do (FTA), nâng cao chất lượng và tạo sự khác biệt trong sản phẩm là những giải pháp chính giúp doanh nghiệp (DN) Việt Nam gia tăng XK trong bối cảnh hiện nay.

Việt Nam cần một cuộc kiến tạo làn sóng XK lần thứ hai nhằm nâng tầm thương hiệu và hình ảnh quốc gia.
Việt Nam cần một cuộc kiến tạo làn sóng XK lần thứ hai nhằm nâng tầm thương hiệu và hình ảnh quốc gia.

Theo ông Nguyễn Phú Hòa, Phó Cục trưởng Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương), trong bảy tháng năm 2017, tăng trưởng XK của Việt Nam ở mức 18,7%. Đáng chú ý, các DN trong nước tiếp tục đạt mức tăng trưởng khá, cụ thể đạt 32,2%, tăng 14,6% so cùng kỳ năm 2016, đây cũng là điểm tích cực trong hoạt động XK. Đặc biệt, XK vào các nước có FTA ngày càng tăng cao cho thấy các DN Việt Nam đã tận dụng tốt cơ hội do các FTA mang lại. Dự báo XK sẽ gia tăng, kim ngạch XK cả năm sẽ đạt khoảng 200 tỷ USD, tăng 13% so cùng kỳ.

Tuy nhiên, hoạt động XK của Việt Nam trong thời gian tới sẽ đối mặt không ít thách thức, buộc các DN phải có chiến lược để thích ứng. Cụ thể, kinh tế toàn cầu đã chứng kiến những diễn biến khó lường như: Nước Mỹ nêu quan điểm rõ rệt về bảo hộ thị trường, sản xuất trong nước; Trung Quốc đang tái cơ cấu, tập trung vào thị trường nội địa và có những chiến lược hết sức mạnh mẽ để cạnh tranh với Nhật Bản, Hàn Quốc... Trong khi đó, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) đang tác động hết sức mạnh mẽ, làm thay đổi sâu sắc phương thức sản xuất, quản trị xã hội, dịch vụ, thương mại… làm cho chiến lược phát triển của các nước dựa vào thu hút đầu tư nước ngoài và lợi thế lao động giá rẻ có nguy cơ phá sản. Những diễn biến nêu trên đặt ra những khoảng cách quá lớn và những rủi ro khó tránh khỏi cho DN Việt Nam.

Một số chuyên gia cho rằng, DN Việt Nam phải tận dụng triệt để các ưu đãi thuế quan tại những thị trường mà Việt Nam đã ký FTA để đẩy mạnh XK vào các nước như: Hàn Quốc, Ấn Độ, Liên minh kinh tế Á - Âu… Bên cạnh đó, trong quá trình XK, việc quản trị rủi ro thanh toán cũng rất quan trọng. Các DN nên thiết lập các khung rủi ro khi XK để có phương án dự phòng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm tránh bị động. Làn sóng XK lần thứ nhất với việc xuất thô, đẩy nhanh số lượng đã đạt đến ngưỡng. Những điểm nghẽn trong XK đã đến lúc phải thay đổi. Việc kiến tạo làn sóng XK thứ hai đi vào công nghệ, giá trị gia tăng, nâng tầm thương hiệu… là điều mà các DN Việt Nam nên hướng tới.

Theo ông Nguyễn Phú Hòa, từ những diễn biến mới, các hàng rào kỹ thuật từ những thị trường XK chủ lực của Việt Nam như Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc… đang đặt ra các khoảng cách quá lớn và những rủi ro khó tránh khỏi cho DN Việt Nam. Thực chất là làn sóng XK lần thứ nhất của Việt Nam đã đạt đến ngưỡng phát triển theo mô hình này. Chúng ta XK bất cứ thứ gì chúng ta có, XK thô, đẩy nhanh số lượng. Ngoài việc chạy theo thành tích xuất thô, có thể thấy hoạt động XK vẫn đang phụ thuộc lớn vào các DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Tuy chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ (gần 3%) trong tổng số DN đang hoạt động nhưng các DN FDI tạo ra hơn 60% giá trị sản lượng công nghiệp của Việt Nam và chiếm hơn 70% tổng kim ngạch XK của Việt Nam hiện nay. Điều mà nền kinh tế mong đợi là khả năng XK các mặt hàng có giá trị gia tăng, có thương hiệu của các DN 100% vốn trong nước vẫn chưa được đáp ứng. Về cơ bản, do yếu công nghệ nên hàng “thuần Việt” khi XK phần lớn bị lép vế so những sản phẩm các DN FDI sản xuất tại Việt Nam. Đây là thời điểm các DN trong nước cần hướng tới làn sóng XK thứ hai để thay đổi năng lực cạnh tranh của sản phẩm.

Ông Yuichiro Shiotan, Tổng Giám đốc Topvalu Japan, cho rằng, các DN muốn khẳng định vị trí, bán được sản phẩm thì phải tạo ra sự khác biệt trong sản phẩm. Phải cho người tiêu dùng thấy những đổi mới, sáng tạo nhưng vẫn bảo đảm được chất lượng… Đây đang là điểm yếu của phần lớn DN Việt Nam, bởi lẽ trong số 600 triệu USD mà Nhật Bản đang phải bỏ ra để nhập khẩu (NK) các sản phẩm may mặc, hàng tiêu dùng… thì Việt Nam mới chỉ chiếm con số ít ỏi là 28 triệu USD với 50 nhà cung cấp (trong khi đó Trung Quốc đang chiếm tới 400 triệu USD và 430 nhà cung cấp).

Mặt khác, theo các chuyên gia, đặc trưng của mô hình tăng trưởng XK của Việt Nam là tăng trưởng XK dựa vào NK. Cơ cấu XK phụ thuộc phần lớn vào NK đầu vào trong khi ngành công nghiệp phụ trợ còn thiếu vắng và chưa phát triển. Thực tế, NK của Việt Nam vẫn chủ yếu là NK tư liệu sản xuất, bao gồm: máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng và nguyên, nhiên vật liệu. Tỷ lệ này luôn chiếm hơn 90% tổng giá trị hàng hóa NK, kéo dài liên tục trong nhiều thập kỷ đến nay. Phần lớn hàng XK của Việt Nam là hàng gia công, cho nên khi XK tăng đồng nghĩa nguyên, nhiên vật liệu NK cũng tăng theo.

Nhìn vào thị trường XK trong xu thế mới, ông Nguyễn Phú Hòa nhận định, thế giới đang đi quá nhanh vào tự động hóa, trí tuệ nhân tạo, tạo nền tảng để bảo hộ sản xuất trong nước mạnh mẽ. Còn Việt Nam, để xuất hàng hóa đang phải vắt kiệt sức lao động của người công nhân. Chúng ta không thể “bỏ lỡ con tàu” hướng về tương lai mà ở đó giá trị của sản phẩm được thể hiện ở yếu tố minh bạch về thông tin, tôn vinh mầu xanh môi trường và được sản xuất, tiếp thị, XK dựa trên ứng dụng các thành tựu của CMCN 4.0. Từ những đòi hỏi đó, Việt Nam cần một cuộc kiến tạo làn sóng XK lần thứ hai trên thị trường thế giới để thay đổi năng lực cạnh tranh của sản phẩm, đi vào giá trị gia tăng, nâng tầm thương hiệu, hình ảnh quốc gia.

Có thể bạn quan tâm