1. Đèo Hải Vân thuộc khối nền cổ Trường Sơn, hình thành từ kỷ tiền Cambri hơn 500 triệu năm trước. Rặng Bạch Mã - Hải Vân với những đỉnh cao hơn nghìn mét như con ngựa trắng chồm ra biển. Khối núi có nền đá rất rắn chắc, ít bị xói mòn sụp đổ lớn, lại án ngữ con đường độc đạo từ nam ra bắc nên rất phù hợp để xây dựng các công trình thành lũy, pháo đài quân sự từ xưa đến nay. Trước năm 1975, trên đèo chỉ có 1 đại đội công binh quân Giải phóng hoạt động mà vẫn thường xuyên chặn được tuyến giao thông huyết mạch của Mỹ và quân lực VNCH từ Huế vào Đà Nẵng.
Đường đèo cao khoảng 496 m so mực nước biển, mang trong mình bao lớp trầm tích lịch sử. Núi cao, dốc đứng, đường bộ qua đèo vốn là đường cái quan từ thời xa xưa. Trước năm 2005 dù được mở mang sửa chữa nhiều lần nhưng đường đèo vẫn nhiều khúc cua tay áo quanh co, nguy hiểm. Chính tôi cũng có lần hút chết trên đường vào Vùng 3 Hải quân công tác, khi chiếc xe Jeep lùn chở tôi cùng hai sĩ quan cùng lữ đoàn suýt bị lật khi đi vào cua.
2. Tháng 2/1995, Tập đoàn xây dựng nơi tôi đang làm việc sau khi giải ngũ, cử tôi cùng một nhóm chuyên gia, tham gia vào chuyến đi khảo sát cùng với Tổ chức Japan International Cooperation Agency (viết tắt là JICA), chuẩn bị triển khai dự án Hầm đường bộ Hải Vân theo chương trình viện trợ Phát triển Chính thức (ODA) của Nhật Bản.
Nhiệm vụ đơn giản rõ ràng: Leo lên đỉnh núi, xác định trên thực địa chính xác vị trí cửa hầm thông gió dài hơn 1,8 km tính từ hầm đường bộ lên. Nhưng cái giản đơn trên giấy tờ ấy, khi đặt vào thực trạng địa hình của núi rừng Hải Vân, lại trở thành một cuộc thử thách đúng nghĩa.
Năm 1995, đất nước mở cửa chưa lâu. Các đoàn quốc tế xuống các địa bàn khảo sát dự án ngoài cơ quan chuyên môn còn có cả các cơ quan hành chính địa phương cùng tham gia. Đi cùng đoàn khảo sát JICA của chúng tôi hôm lên Hải Vân sáng hôm ấy, cả một đoàn xe dài, hoành tráng đầy đủ các ban bệ.
Đoàn xe nối đuôi nhau leo lên đèo Hải Vân theo quốc lộ số 1 cũ. Gió từ biển thổi ngược lên đèo mang theo hơi muối mằn mặn. Mây trắng bảng lảng trôi ngang sườn núi. Điều kỳ thú là Hải Vân là ranh giới khí hậu tự nhiên rõ nét nhất Việt Nam. Nơi phân biệt khí hậu bắc - nam, rõ đến mức người ta cảm nhận được bằng da thịt.
Đến lưng chừng đèo, cả đoàn dừng lại. Trước mặt là đỉnh Hải Vân mờ ảo trong màn sương, vừa gần mà vừa xa, vừa hiền hòa lại vừa thách thức.
Tôi nói với các đoàn công tác Việt Nam đi cùng:
- JICA chúng tôi sẽ leo lên đến vị trí dự kiến làm cửa hầm thông gió, đứng trên đó xác định đánh dấu tọa độ và chụp ảnh thực địa. Nội dung công việc chính chỉ có vậy thôi.
Các cán bộ bên an ninh, giao thông của cả các bộ lẫn sở đều nói họ chẳng lạ gì ngọn núi này. Xin mời các chuyên gia cứ tự nhiên thực hành công tác. Chúng tôi chờ tại chỗ ở đây.
Cuối cùng chỉ có hai thành viên của Tổng công ty Tư vấn Thiết kế Giao thông Vận tải (TEDI) và đoàn JICA leo núi. Đoàn JICA có ông Watanabe - Trưởng đoàn, chuyên gia về Kế hoạch Tài chính của JICA; ông Hashiguchi, chuyên gia số 1 về đường hầm của tập đoàn tôi cùng bốn chuyên gia Nhật khác. Thêm có phó đoàn tôi đây, ngoài chuyên ngành Công binh còn là chuyên viên tọa độ đồ bản và phiên dịch.
3. Con đường mòn lên đỉnh thật khó gọi là đường, lúc ẩn lúc hiện, lắm khi mất hút giữa cỏ cây lau lách. Đá tai mèo sắc như lưỡi dao. Lau lách và dây rừng dại quấn chặt giữ rịt chân người đi. Đặc biệt những bụi hoa xuyến chi, hoa trinh nữ như những tấm thảm dày dệt đầy gai nhỏ, bám dính vào quần áo như những cô nàng thiếu nữ tóm chặt lấy đoàn lữ khách. Thỉnh thoảng có những con thằn lằn hoặc kỳ nhông to tướng chạy vụt qua lối mòn, làm mấy anh Nhật sợ rắn khua khoắng gậy loạn xạ.
Nhóm chuyên gia người Nhật vốn kỷ luật và bền bỉ mà mới chỉ leo được1/3 đoạn đường núi đã thấy mồ hôi nhễ nhại, mạch máu ở thái dương giần giật căng phồng. Chốc chốc, họ lại dừng uống nước liên tục. Hai kỹ sư TEDI vốn dân thiết kế văn phòng, quen ngồi máy lạnh vừa leo vừa thở ra đằng tai. Leo núi mà họ vẫn đi giầy loafer, loại giày lười công sở chỉ dùng đi dạo phố thế kia chỉ có mà “toi”! Quả nhiên có chiếc giầy đã bong mõm, hở cả bít-tất. Họ dừng lại thở dốc, la oai oái:
- Hay là ta dừng lại ở đây, chụp vài ảnh. Sau đó về xem không ảnh cũng là được rồi.
Đồng bào mình không thể hời hợt với công trình quốc gia như thế được. Các bạn Nhật họ leo được thì mình phải leo được. Thế nên câu này tôi không dịch cho đoàn JICA, mà bảo hai bạn:
- Cố gắng lên! Nếu các bạn mệt quá thì nghỉ. Còn bọn tôi phải đi tiếp đúng theo tuyến trên bản đồ.
Thế là hai bạn kia, sau khi đã xin đoàn chúng tôi mấy chiếc tất bảo hộ chuyên dùng để bọc giầy, lại lùi lũi đi theo. Có lẽ lúc ấy ý thức dân tộc đã không cho phép các bạn bỏ cuộc giữa đường.
Năm đó, tôi là lính cựu hải quân, mới rời quân ngũ được vài năm, vẫn còn trẻ và hăng lắm. Đời sống quân ngũ đã trưởng thành rèn luyện nên tôi hăng hái đạp qua lau lách, vượt núi băng băng đi đầu. Mỗi bước chân tiến lên là một lần tự nhủ: Công việc đã nhận thì phải đi đến cùng. Không thể để các bạn Nhật coi thường mình được. Giữa núi rừng lộng gió, tôi chợt thấy mình giống một chiến sĩ trinh sát đang mở đường cho cả một quân đoàn.
Gần trưa, chúng tôi lên đến tọa độ dự kiến. Mây tan dần, ánh nắng mùa xuân bất ngờ ùa xuống như một phần thưởng dành những kẻ bền gan. Trước mắt tôi, biển trời mở ra một bức tranh rộng lớn choáng ngợp tâm hồn. Dưới kia, cảng Tiên Sa tuyệt đẹp đang lấp lánh dưới nắng. Bán đảo Sơn Trà xanh thẫm bóng núi, như một nét sơn dầu mạnh mẽ vạch ngang nền trời. Tôi nhìn ra hướng Bắc. Vịnh Lăng Cô như một tấm gương in bóng mây xanh biếc. Đầm Lập An phẳng lặng, những mái nhà xóm chài yên bình nép mình bên mép sóng. Núi non, biển cả, mây trời hòa với nhau thành một bức tranh phong cảnh panorama vừa kỳ vĩ, vừa mềm mại dịu dàng.
Tôi đứng rất lâu giữa những cơn gió lộng, lòng dâng lên một niềm kiêu hãnh lặng lẽ. Những ngọn gió nghìn năm của đất nước đang thổi qua lay động tâm hồn tôi.
4. Quá trưa muộn, đoàn chúng tôi hoàn thành công việc, xuống đến chỗ để xe gặp lại các đoàn cán bộ tháp tùng. Tôi, với chức danh là phó đoàn công tác JICA, mời anh em các đoàn cùng kiếm quán dùng cơm trưa.
Cũng đơn giản như bao lần, cơm trưa của đoàn công tác JICA chủ đạo vẫn là rau muống xào tỏi, trứng gà chiên, thịt chân giò heo thái mỏng. Các bạn Nhật Bản vốn tương đồng về văn hóa với Việt Nam nên cũng rất thoải mái với loại thực đơn quen thuộc này. Hôm đó có thêm các đoàn khách, nên tôi quyết định gọi thêm món cá thu kho.
Theo đúng nguyên tắc “ngoại giao nhân dân”, tôi ngồi cùng mâm với phía đoàn tháp tùng. Ăn được vài miếng, một anh bạn lái xe trong đoàn tháp tùng đá chân tôi nói nhỏ:
Có phong bì bồi dưỡng, anh đưa luôn cho chúng tôi. Ăn uống đạm bạc thế này, bọn tôi xin rút lui sớm.
Tôi há mồm ngạc nhiên suýt chết nghẹn. Làm việc với các chuyên gia Nhật Bản đã lâu, nên tôi đã quên mất cái thói quen tục lệ phong bì.
Bỏ miếng trứng rán cắn dở xuống bát, tôi đành thuyết trình về sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế với Việt Nam, về chiếc cầu nối nhân đạo và hợp tác phát triển bền vững, giúp giảm gánh nặng nợ công, tập trung nguồn lực vào các lĩnh vực thiết yếu, hội nhập quốc tế, chuyển giao công nghệ - kinh nghiệm quản lý và nhiều việc khác. Vậy nên chúng tôi không thể có phong bì cho các việc đó.
Chuyến khảo sát kết thúc tốt đẹp. Anh bạn cùng bàn cũng không đòi hỏi gì thêm.
Vài năm sau, ngày 27/8/2000, hầm đường bộ Hải Vân chính thức khởi công. Rồi đến ngày 5/6/2005, công trình hoàn thành, mở một tâm đạo xuyên qua lòng núi thay cho những khúc cua hiểm trở của con đèo xưa.
Mỗi lần đi qua hầm, tôi lại nhớ buổi trưa năm ấy, nhớ con đường mòn gập ghềnh, nhớ mây trắng trời trên đỉnh Hải Vân và cả bữa cơm rau muống cá kho đầy kỷ niệm.
Trong đó có một chút kiêu hãnh thầm lặng của kẻ mở đường.