(Tiếp theo và hết)
Khi Đội K72 tăng tốc tìm kiếm hài cốt liệt sĩ (HCLS) tại lô cao su 97 xã Minh Đức (TP Đồng Nai), ông Trần Ngọc Nhiên (Năm Nhiên) ngày nào cũng ra hiện trường. Ông ngó từng mảnh đạn, cầm từng di vật. Nhiều năm nay, ký ức về những ngày nhìn đồng đội lần lượt nằm xuống trên mảnh đất này vẫn còn rõ mồn một. Có những đồng đội chính tay ông chôn cất, có những đồng đội ông từng nhìn thấy, chưa bao giờ ông thôi mong muốn được đưa họ trở về.
“Nỗi day dứt nhất của tôi”
Năm 1969, ông Năm Nhiên lái máy ủi cho công ty cao su ở Minh Đức. Sáng lái máy, chiều ông lại thay đôi dép khía rãnh như dép cao su bộ đội để đi rải truyền đơn.
Trong chiến tranh, như đã nói trong các kỳ trước, địa bàn xã Minh Đức (đặc biệt là sườn tây bắc điểm cao 74 và khu vực ấp Đồng Dầu) là vùng đệm chiến lược quan trọng do Quân Giải phóng kiểm soát. Nơi đây đặt các căn cứ ẩn nấp và là bàn đạp tổ chức các trận phục kích đánh phá đoàn xe cơ giới, xe tăng, xe thiết giáp của đối phương di chuyển qua Quốc lộ 13.
Địch đã mở nhiều trận càn nhằm lùng sục, triệt phá hệ thống hầm hào căn cứ, đánh bật lực lượng chủ lực cùng du kích địa phương khỏi địa bàn, đồng thời tìm cách phong tỏa tuyến hành lang tiếp tế biên giới. Trong đó, lớn nhất là trận tìm kiếm và phong tỏa Minh Đức của liên quân Mỹ - Việt Nam Cộng hòa tháng 11/1969. Do tương quan hỏa lực chênh lệch và tính chất ác liệt của trận càn, nhiều cán bộ, chiến sĩ Quân Giải phóng cùng du kích địa phương đã anh dũng hy sinh.
Hơn nửa thế kỷ, ông Năm Nhiên vẫn nhớ lúc đó, địch kéo thi thể bộ đội giải phóng ra rìa đường để thị uy. 4 ngày sau chúng mới cho người dân vào thu dọn. Ông Nhiên cùng một người trong nhóm rải truyền đơn là ông Tám Hên, “kéo cái máy ủi lẹt kẹt lẹt kẹt” đào hào lấp đất chôn các liệt sĩ. Ông Nhiên nói: “Lúc đó mới có mười mấy tuổi, mà tôi không biết sợ”.
Năm 1971, ông gia nhập hàng ngũ Quân Giải phóng, trở thành lính trinh sát. Những cuộc chiến kéo ông đi liên miên, nỗi day dứt về những nấm mộ đồng đội ngày đó vẫn thường trực. “Nằm ở đó thời gian dài, người ta ủi đất trồng cây, rồi heo rừng vào phá nữa”, ông ngậm ngùi.
Hòa bình, ông trở thành một nhân chứng hỗ trợ đắc lực cho đội tìm kiếm. Tới giờ, ông vẫn có thể nói vanh vách những đơn vị từng đóng quân ở Minh Đức cũng như vị trí của họ. Có điều bãi bể nương dâu, dù chiến đấu ngay tại Minh Đức bao năm, chính ông cũng có lúc không nhận ra sự đổi thay của những con đường, những cánh rừng.
Lần tìm kiếm này, những thông tin của ông là một chỉ dẫn quan trọng để Đội K72 mở rộng hướng tìm kiếm. Trong trí nhớ của ông, đã từng có một nghĩa trang dã chiến nơi các liệt sĩ nằm cạnh một con đường có xe tăng chạy được. Lúc đó, người ta phá đi một hàng cây, các liệt sĩ được đặt quay đầu về hướng hàng cây cao su. Ngày 15/7, theo hướng chỉ của ông Năm Nhiên, máy xúc đã phát hiện mảnh tăng lớn nhất. Chỉ trong chiều hôm đó, sáu HCLS lộ diện. Kết quả trong đợt đào tìm trước 24/7 đã ghi nhận tại khu vực mới có 12 HCLS.
Những ngày tháng 7, Minh Đức nóng như thiêu đốt. Ông Nhiên vẫn đi tới từng vị trí nghi mộ. Mấy chục năm ở bìa rừng cao su, ông gặp không biết bao nhiêu đoàn người từ nam chí bắc đến đây tìm người thân. Họ chỉ biết thắp hương khấn vái, đợi chờ tưởng như vô vọng. “Đó luôn là nỗi day dứt nhất cuộc đời tôi”, ông Nhiên kể.
Thế nên cuộc tìm kiếm lần này, ông Nhiên cảm thấy nhẹ nhõm hơn ai hết. “Tôi may mắn còn sống tới ngày anh em được tìm thấy. Mừng lắm!”, ông rưng rưng. Thi thoảng nhớ ra chi tiết nào, ông lại tất tả chạy ra kể lại cho Thượng tá Vũ Văn Thọ, Đội trưởng Đội K72.
90% cuộc tìm kiếm đến từ những nhân chứng
Thượng tá Thọ nói 90% các cuộc tìm kiếm của Đội K72 đến từ thông tin các nhân chứng. Ở những địa điểm từng là chiến trường ác liệt giống như Minh Đức, đi đâu anh Thọ cũng mang theo một cây bút xóa. Mỗi khi gặp các xe ủi, xe tải của các công trường, nông trường, anh sẽ dùng bút đó viết số điện thoại mình lên đuôi xe. Làm vậy để nếu những người ở đó phát hiện thấy dấu vết gì có thể gọi Đội K72, và K72 sẽ có mặt.
Cuộc khai quật ở Minh Đức, được mở đầu cũng từ một tin báo từ người dân. Nguyễn Ngọc Thành là một người nhặt phế liệu ở khu vực rừng cao su này đã nhiều năm, như Thành nhận là 30 năm, từ khi còn là một cậu nhóc bé tẹo. Chiếc máy dò của Thành đã tìm thấy vô số các vật dụng thời chiến. Từ vài chục năm trước, Thành không nhớ rõ năm nào, anh cũng đã từng tìm thấy mấy khẩu súng, vỏ đạn, lọ mực. Có lần Thành thấy cả xương người, hớt hải lấp lại rồi lên báo chính quyền.
Chuyện ngày xưa thì khó nắm rõ. Nhưng lần này, chính Thành đã phát hiện khẩu súng AK hoen gỉ đầu tiên, để Đội K72 làm dấu và tìm kiếm ra hầm mộ có 4 HCLS. Khẩu súng AK thứ hai, nơi tìm ra 3 HCLS cũng do người dân đi trồng cao su báo cho Đội K72.
Những ngày sau đó, khi chiến dịch được mở rộng, cả Thành và ông Nhiên đều thường xuyên có mặt trên bãi đất. Thành rà kim loại, nếu thấy khả nghi, Thành sẽ cắm một lá cờ ở đó. Ngồi điều khiển máy xúc, thấy một lá cờ mới, Thiếu tá Phạm Văn Hường lại quay ra hỏi anh chàng gày nhỏ đang lầm lũi phía xa xa: “Thành ơi, chỗ đó tìm thấy gì đấy”, “Có cái tăng anh ơi”...
Cứ thế, bãi đất lô cao su 97 phủ đầy những lá cờ đỏ, những điểm mốc để đội tìm kiếm đào sâu xuống. Đó là một sự phối hợp nhịp nhàng giữa quân và dân.
Thượng tá Vũ Văn Thọ kể ngoài ông Năm Nhiên còn có ông Nguyễn Văn Tánh (Sáu Tánh) cũng là một nhân chứng nhiệt tình với những cuộc tìm kiếm. Ông Sáu Tánh từng là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 11, sau đó là Tham mưu trưởng Trung đoàn 201, trực tiếp tham gia chỉ huy, xây dựng phương án tác chiến và bố trí lực lượng của Trung đoàn 201 tại vùng đệm Hớn Quản - Minh Đức giai đoạn 1972-1975. Năm 2022, ông là nhân chứng quan trọng đưa Đội K72 tìm kiếm thành công 29 HCLS tại ấp 2.
Đại tá Nguyễn Thanh Phong, Chính ủy Bộ Chỉ huy quân sự TP Đồng Nai nói rằng, điều mừng của chiến dịch lần này là các cấp chính quyền, cấp ủy địa phương và cả xã hội vô cùng ủng hộ. Khi đợt tìm kiếm lên cao điểm, Công ty cao su Bình Long, đơn vị đang quản lý lô cao su có nhiều HCLS đã cho Đội K72 mượn thêm 2 máy xúc. Lúc mới phát hiện các hiện vật, cây cao su non và lúa rẫy mới trồng được hơn 10 ngày, nhưng ông Trương Văn Phúc, Đội phó Đội Bình Minh, đơn vị đang phụ trách lô cao su 97 nói rằng phục vụ tìm kiếm trước, còn trồng cao su để sau cũng được: “Bây giờ, tìm thấy các liệt sĩ là nhiệm vụ cần được ưu tiên. Không sao đâu”. Ông Phúc cũng kể thêm lô 97 lần này mới phát hiện di vật, còn lô 288 ở ấp 2 đã đào mấy lần và cũng phát hiện HCLS rồi.
Nhiều người dân ở quanh đó, khi nghe tin về các đợt tìm kiếm, cũng tìm đến tiếp tế cho Đội K72 đang làm việc. Có người trong số họ có người thân cũng là liệt sĩ đang chưa tìm được, có người là cựu chiến binh, cũng có cả những bạn trẻ nghe tin tìm đến thắp hương… Lại có cả người dân tìm đến cung cấp thêm thông tin. Anh Nguyễn Văn Minh, nhà ở cách đó vài cây số, tìm Đội K72 nói cách đây vài năm sửa nhà, anh cũng đã đào thấy một số vật dụng bộ đội: “Hồi đó không biết, giờ nghe đọc tin, thấy biết đâu có thể có gì nên đến nói với các anh”.
Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính HCLS cũng là một cuộc chiến. Cuộc chiến không súng đạn, không có kẻ thù, chỉ có quyết tâm để có thêm những lần trở về, để các liệt sĩ được gọi tên một lần nữa. Vì vậy, không một ai ở trên dải đất Việt Nam này đứng ngoài các cuộc tìm kiếm. Bởi mỗi một người Việt Nam đều hiểu mảnh đất hòa bình một dải bắc nam mà chúng ta đang đứng, đã đánh đổi bằng máu xương và những cuộc đời bất tử như thế nào. Đưa các liệt sĩ trở về, đó là một mệnh lệnh từ trái tim của mỗi người con đất Việt.
“Đất nước tôi, thon thả giọt đàn bầu
Nghe dịu nỗi đau của mẹ
Ba lần tiễn con đi, hai lần khóc thầm lặng lẽ
Các anh không về, mình mẹ lặng im...”.
(Đất nước, nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn phổ thơ Tạ Hữu Yên)
Hơn nửa thế kỷ, các anh đang về rồi, thưa mẹ!