Rừng cổ, làng cổ và những giai thoại
Những ngày cuối tháng 3, chúng tôi trở lại làng Nam Ô, ngôi làng cổ nằm ngay dưới chân đèo Hải Vân, hướng mặt ra phía Biển Đông hùng vĩ. Từng cơn gió từ biển thổi vào mát rượi. Dọc theo ghềnh đá xếp chồng lên nhau, nối dài ra phía biển ôm trọn khu rừng cổ với những ngôi miếu, đền thờ có từ thủa các bậc tiền nhân mang gươm đi mở cõi.
Ông Đặng Dùng, người được gọi là “pho sử sống” của làng Nam Ô tự hào nói rằng, rừng và làng Nam Ô luôn gắn liền với nhiều giai thoại, được sử sách vinh danh. “Không ai còn nhớ làng được lập vào triều đại nào. Nếu nhìn vào các di chỉ Chăm từ tháp Chăm Xuân Dương mới khai quật cho đến giếng Chăm cổ thì “tuổi đời” của làng Nam Ô phải có từ hàng thế kỷ trước. Khu rừng cấm bọc trước mặt tiền của làng cũng có tuổi đời như thế”.
Theo nhận xét của nhiều nhà nghiên cứu văn hóa miền trung, rừng Nam Ô có lẽ là khu rừng cấm độc đáo và cổ xưa nhất của nước Việt. Diện tích của nó chỉ hơn 1.000m2, chung quanh bao bọc bởi những ghềnh đá, tiếp giáp biển. Mỗi cây cổ thụ trong rừng lại gắn liền với những giai thoại của các bậc tiên hiền.
Ông Dùng cho biết, trong rừng cấm có hai miếu thờ là miếu Bà Liễu Hạnh và miếu thờ Huyền Trân Công chúa. “Trong Sử Việt có chép lại câu chuyện Huyền Trân Công chúa được vua nước Đại Việt gả cho vua Chăm Chế Mân để thu về châu Ô, châu Lý. Sau khi Chế Mân qua đời, vua Trần đã sai tướng sĩ hành phương Nam giải cứu Công chúa Huyền Trân thoát khỏi tục hỏa táng theo chồng của người Chiêm Thành. Trong cuộc đào thoát khỏi kinh đô Đồ Bàn (Bình Định) để trở về kinh đô Đại Việt, đội quân sĩ của Công chúa Huyền Trân đã ẩn nấp ở rừng Nam Ô để tránh sự truy sát của quân Chiêm. Bởi vậy, trong rừng có một cây cổ thụ nhiều năm tuổi được dân làng gọi là cây Huyền Trân”.
Bước qua những phế tích đã phủ bóng rêu phong giữa khu rừng cấm, chúng tôi đến bên bìa rừng Nam Ô, nơi vẫn còn loang lổ những hầm hào, lô-cốt có từ thời chống Mỹ. Tỉ mỉ xếp lại những chồng lưới để chuẩn bị cho chuyến biển đêm, ông Nguyễn Tám (74 tuổi, người làng Nam Ô) kể rằng, từ khi ông sinh ra đã thấy rừng, thấy biển trước ngõ nhà. Tuổi thơ của ông lăn lộn trên những con thuyền bám biển và nghiệp biển cũng đã theo ông suốt mấy chục năm qua. “Trong chiến tranh, khu rừng nhiều lần bị bom đạn của giặc Mỹ bắn phá nhưng vẫn hiên ngang, đứng vững. Rừng vẫn chở che cho dân làng qua những trận bão lớn. Người làng từ bé đến lớn đều thành tâm giữ rừng. Không ai dám chặt một cành cây, khúc gỗ từ rừng. Dù có thời điểm, gỗ làm thuyền bè đi biển rất khan hiếm nhưng không một ai dám vào rừng cấm chặt cây”.
Còn theo các bậc cao niên trong làng, dù lệ làng không quy định việc phải bảo vệ rừng nhưng hễ là con em làng Nam Ô thì đều thuộc từng quy tắc “bất thành văn” khi vào rừng. Đó là không xâm phạm đến một nhành cây của rừng, không để ai chặt phá cây trong rừng cấm. Ông Trần Hữu Phúc (62 tuổi, người làng Nam Ô) cho biết: “Rừng cấm làng Nam Ô rất thiêng, không ai dám đến chặt phá. Chỉ cần lén lút chặt một nhành cây thì “thần linh” cũng sẽ buộc họ phải mang trả. Nên dù trong rừng có đủ loại gỗ lâu năm như gỗ u, chuyên dùng đóng tàu, thuyền thúng cho dân đi biển nhưng không ai chặt phá. Giữ rừng cũng là giữ làng, giữ nghề để mưu sinh của dân làng biển chúng tôi”.
Vì diện tích khá nhỏ lại ba mặt giáp biển nên rừng cấm cũng chỉ có vài loài động vật sinh sống như: chồn, sóc, khỉ, chim chóc… Cũng như các loài thực vật, động vật trong rừng cũng được bảo vệ nghiêm ngặt, không bị săn bắn, xua đuổi. Theo người dân địa phương, rừng cấm Nam Ô có một loài ve rất đặc biệt gọi là ve bầu, to gấp hai đến ba lần loài ve bình thường. Thời nhà Nguyễn, loài ve bầu ở rừng Nam Ô được dùng làm món ăn tiến vua. Con ve non được người dân bắt và cung tiến cho đầu bếp cung đình làm thành món “chá thiền tử” (nghĩa là con ve non) cho vua ngự thiện. Điều này đã được chép trong “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn với miêu tả rất cụ thể. “Điều lạ là loài ve bầu này chỉ có ở rừng cấm, còn những khu rừng cách đó chỉ 4-5 cây số cũng không có”, ông Dùng nói.
![]() |
| Ở tuổi 74, ông Nguyễn Tám vẫn gắn bó với nghề biển. |
Rừng cấm giữa “vòng vây” dự án
Nam Ô những ngày này đã đông nghẹt du khách đến tham quan, chụp ảnh, cắm trại. Một số người dân làng Nam Ô đã nhanh nhạy, bắt tay làm du lịch, homestay, các dịch vụ cho thuê lều bạt cũng mở ra một hướng làm ăn mới. Nhưng có một điều đặc biệt là dù có đủ thứ dịch vụ mới mọc lên nhưng tuyệt nhiên không một ai đụng chạm đến rừng cấm.
Nhớ lại hồi năm 2017, khi một dự án du lịch gần đó khởi công, động thổ rầm rộ sau hơn chục năm “đứng bánh”, người dân làng Nam Ô đã đứng ngồi không yên. Họ lo lắng, bất an trước viễn cảnh khu rừng cấm của làng sẽ bị triệt hạ để nhường đất cho những khu nghỉ dưỡng, bungalow hay biệt thự view biển…
“Ngày họ quây tôn, dựng hàng rào và đưa máy xúc, máy ủi đến làm dự án, dân làng chúng tôi rất lo lắng. Con đường xuống biển của ngư dân bao đời nay đã bị hàng rào thép bịt kín. Chúng tôi như những con cá bị cách ly bởi biển của mình. Không còn sinh kế làm ăn, chúng tôi phải kiến nghị chính quyền địa phương để họ mở lối cho ngư dân xuống biển”, anh Phan Văn Tiến (sinh năm 1982, ngư dân làng biển Nam Ô) nhớ lại.
Sau nhiều lần thương thảo, trải qua hàng trăm cuộc họp lớn nhỏ khác nhau, thành phố đã điều chỉnh quy hoạch dự án. Các tuyến đường từ làng dẫn thẳng xuống biển được mở. Người làng Nam Ô lại vui mừng đưa thuyền ghe xuống hành nghề biển.
Ba thế hệ kế tiếp nhau bám biển mưu sinh, đến đời anh Tiến cũng gắn bó với thuyền ghe của xứ chài. “Biển giã nên ra khơi ngày được, ngày mất. Ngày được cũng kiếm cả triệu đồng, mà cũng có ngày thất thu, lỗ cả tiền dầu, tiền công. Nhưng cuộc sống đi biển bao đời nay đã quen rồi nên mình cũng không thể đổi nghề. Dù sau này những dự án triệu đô quanh đây có đi vào hoạt động thì mình vẫn giữ nghề biển thôi”, anh Tiến nói.
Còn theo ông Tám, dù nằm giữa “vòng vây” của những dự án du lịch triệu đô nhưng dân làng Nam Ô vẫn quyết tâm giữ khu rừng cấm, không để “sứt mẻ”. “Hồi ấy, họ quy hoạch dự án và định chiếm luôn ghềnh đá Nam Ô, bao gồm cả khu rừng cấm. Họ định xây dựng các khu biệt thự biển - rừng, khu nghỉ dưỡng chung quanh ghềnh đá. Nếu làm như vậy thì cả khu rừng cấm bao đời nay dân làng dày công gìn giữ sẽ bị phá hủy. Nhưng trước kiến nghị của người dân, thành phố đã lắng nghe để điều chỉnh quy hoạch và giữ lại khu rừng của làng Nam Ô”, ông Tám thở phào nói.
Theo quy hoạch mới nhất của UBND thành phố Đà Nẵng, khu vực gành Nam Ô (bao gồm cả khu rừng cấm) đã được loại khỏi quy hoạch dự án khu du lịch của doanh nghiệp. Đồng thời, xếp gành Nam Ô vào loại rừng tự nhiên cần được bảo vệ nghiêm ngặt, không can thiệp bê-tông hóa.
Với sự chung tay gìn giữ của người dân, những quyết sách đúng đắn của chính quyền địa phương, rừng cấm Nam Ô sẽ luôn xanh tốt trước muôn ngàn sóng gió.
