Nữ anh hùng huyền thoại
Cuộc đời nữ anh hùng Ngô Thị Huệ (bí danh Minh Hiệp, Bảy) sinh ngày 20/12/1942, quê quán xã Hòa Liên, huyện Hòa Vang (nay là phường Hải Vân, TP Đà Nẵng) là minh chứng sáng ngời cho bản lĩnh kiên trung và triết lý sống cao đẹp của người chiến sĩ cộng sản.
Bà sinh ra và lớn lên trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng. Từ những năm 1950, gia đình bà là cơ sở nuôi giấu cán bộ cốt cán của phong trào. 10 tuổi, bà gia nhập tổ chức thiếu nhi làm nhiệm vụ canh gác, làm hầm chông, đưa thư từ, liên lạc cho cán bộ, sau đó bà tham gia hoạt động tại Đội công tác của TP Đà Nẵng.
Đầu năm 1960, trong một lần nhận nhiệm vụ trèo lên cây Cốc rất cao để treo cờ của Mặt trận, bà bị địch phát hiện và bắt giữ. Tại nhà lao Hiếu Đức, bị địch hành hạ, tra tấn dã man nhưng không khai thác được gì, bà bị đưa đến nhà lao Hội An để “nếm trải” những kiểu tra tấn dã man, từ dùng điện để quay, đến dìm trong thùng phuy chứa nước xà-phòng, nước vôi, rồi dùng kìm để kéo ngực, kẹp tay… Muốn bà phải khai ra những người trong đội công tác và các cơ sở cách mạng ở địa phương nhưng địch đã bất lực. Sau hơn 6 tháng bị giam cầm, tra tấn dã man, sức khỏe của bà suy kiệt, khi được địch thả, bà lập tức được đồng đội, cơ sở cách mạng đưa về chăm sóc, chạy chữa rồi nhanh chóng trở lại nhiệm vụ...
Bà nhớ lại, những ngày đầu tiên trong cuộc đời mình khi đến với phong trào cách mạng ở quê hương, cũng là thời điểm mà kẻ thù thực hiện chính sách “tố cộng và diệt cộng” rầm rộ nhất. Nhiều chiến sĩ cách mạng đã sa vào tay giặc, có người bị tra tấn hết sức dã man, có người bị địch hành hạ cho đến chết. Cha bà cũng bị địch bắt, bị bỏ tù và tra tấn đến mù lòa, chúng mới trả tự do. Năm 1954, sau khi hòa bình lập lại, ở quê bà có rất nhiều người thoát ly để tập kết ra miền bắc. Chỉ trong vòng 3 năm (từ 1954 đến 1957), gia đình bà đã có 5 người thoát ly đi theo cách mạng. “Không có đau đớn nào lớn hơn khi địch bắt tôi, tra tấn và cách cuối cùng là chúng dùng cách ác ôn, tàn độc nhất là đưa tôi đến trước mặt cha tôi - lúc đó ông đã bị bắt và tra tấn dã man - với ý định là buộc tôi phải khai báo. Nhưng, dù đau đớn đến tột cùng, tôi nhất quyết không khai. Tôi luôn ghi nhớ lời cha tôi dạy các anh em tôi "chân trước bước đâu, chân sau bước đó". Thế hệ đi trước mở đường, thế hệ đi sau tiếp bước, giữ gìn và phát huy trọn vẹn mục tiêu, lý tưởng đã chọn. Đó là con đường cách mạng, là giá trị của hòa bình”, bà xúc động.
Năm 1963, từ Đội công tác TP Đà Nẵng bà được điều về công tác tại Tổ điệp báo Đà Nẵng - sau này là Ban An ninh Đà Nẵng, làm cán bộ giao liên hợp pháp, chuyển tài liệu, tin tức từ nội thành ra vùng căn cứ, chuyển công văn, chỉ thị từ căn cứ vào nội thành. Từ năm 1963 đến năm 1968, bà xây dựng được 27 cơ sở từ nội thành đến các huyện, tạo thành đường dây liên lạc thông suốt, an toàn và hoạt động liên tục trong thời kỳ địch bố ráp, đánh phá ác liệt nhất.
Trong đó, điển hình là đợt tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, bà nhận nhiệm vụ truyền đạt chỉ thị của cấp trên đến các đồng chí lãnh đạo đang hoạt động trong nội thành. Lúc này địch kiểm soát việc ra vào thành phố rất nghiêm ngặt nên không thể mang tài liệu theo, bà cố gắng học thuộc lòng các chỉ thị, mệnh lệnh để vào nội thành truyền đạt, đồng thời cải trang dưới nhiều hình thức khác nhau để vượt qua được các trạm kiểm soát của địch. Nhưng vào đến nơi, do phải đối phó căng thẳng với bọn địch, cơ sở dẫn đường đã dẫn nhầm đồng chí đến nhà của một tên cảnh sát vào lúc nửa đêm. Bà bình tĩnh, mưu trí tìm cách đối phó nên thoát được sự nghi vấn của tên này. Cuối cùng, bà gặp được lãnh đạo Ban An ninh Quảng Đà để truyền đạt lại chỉ thị, mệnh lệnh về đợt tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân.
Năm 1969, trong một lần đưa cơ sở về căn cứ huấn luyện, bà bị máy bay ném bom và bị thương rất nặng nên được đưa ra miền bắc chữa trị tại Bệnh viện E (bệnh viện chuyên điều trị cho cán bộ từ miền nam chuyển ra).
Suốt quá trình tham gia cách mạng, bà đã tham gia 4 trận đánh lớn, tiêu diệt được 8 tên ác ôn có nhiều nợ máu với nhân dân và phong trào cách mạng. Bà xây dựng được 27 cơ sở, trong đó có 4 cơ sở làm việc trong hàng ngũ địch, 2 cơ sở là đồng bào Công giáo và 13 cơ sở hoạt động ở nội thành. Với những thành tích đặc biệt xuất sắc, bà đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Ba, 2 lần được bầu Chiến sĩ Thi đua cấp tỉnh và nhiều phần thưởng cao quý khác. Ngày 29/8/1985, bà vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu AHLLVTND trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Trọn một đời son sắt
Đón tôi trong ngôi nhà nhỏ nằm bình yên trong ngõ Tân Lập 2 (phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng), AHLLVTND Ngô Thị Huệ vừa từ Bệnh viện C về. Bà nói “Chú ốm rất nặng, không ăn được gì nhiều, chỉ ăn chút cháo thôi. Mà cô đút chú mới chịu ăn. Trẻ thương hoa, già thương lụm cụm. Chăm sóc chú những ngày này, vất vả bao nhiêu cô cũng chịu được, miễn là còn có chú”.
Năm nay, bà và người bạn đời mình - ông Trần Viết Trí, sinh năm 1936, là thương binh hạng 2/4, cựu tù yêu nước từng bị địch bắt giam cầm tại nhà lao Hội An, nguyên cán bộ Ban tổ chức Thành ủy Đà Nẵng, đã bên nhau hơn nửa thế kỷ. Cả hai đều vun vén, chăm sóc, nuôi dưỡng hai người con của ông Trí khôn lớn, trưởng thành. Mối tình này, hơn cả tình vợ chồng, đó là tình thương, tình đồng chí, đồng đội.
Ông và bà gặp nhau, trong tù đày khốc liệt. Năm 1962, khi bà bị bắt giam, dùng nhục hình tại nhà lao Hội An. Lúc đó, ông Trần Viết Trí cũng đang bị tù đày, phải làm tạp dịch tại nhà lao Hội An. Chứng kiến cảnh nữ điệp viên bị kéo về buồng giam khi quần áo rách bươm, người bê bết máu nhưng quyết không khai nửa lời, ông đã thầm thán phục.
Sau khi ra tù, hai người rẽ hai ngả. Ông Trí về khu Nam công tác và lập gia đình tại Tam Kỳ. Mãi đến năm 1968, họ mới tình cờ gặp lại nhau tại Bệnh viện E. Lúc này, bà Huệ bị mảnh bom B52 găm vào đầu, những cơn đau khiến bà mất kiểm soát, lên cơn, quậy phá đập đồ đạc trong bệnh viện. Khi bà tỉnh lại sau liều thuốc an thần, ông Trí đến hỏi thăm và nhận ra người đồng đội cũ. Hoàn cảnh của ông Trí khi đó là bố đơn thân, vợ ông cùng tham gia cách mạng, sau đó qua đời vì bạo bệnh, để lại hai đứa con thơ. Nhìn thấy hoàn cảnh ốm đau triền miên của bà Huệ, và biết rằng di chứng từ những đòn tra tấn đã tước đi của bà khả năng làm mẹ, ông Trí vẫn kiên quyết ngỏ lời muốn gắn bó.
Trong câu chuyện của cuộc đời mình, có lẽ, điều day dứt nhất cũng là điều mà AHLLVTND Ngô Thị Huệ luôn muốn dằn lòng, giấu kín. Đó là nỗi đau không thể thực hiện thiên chức làm mẹ như bao người phụ nữ khác trên cuộc đời này. Bà cầm tay tôi, nói, như tự vấn với lòng mình: “Nói thật với đồng chí (bà gọi tôi như thế), cả cuộc đời tôi, tôi không biết tuổi xuân là gì cả. Vừa rồi có người hỏi tôi rằng, khi mà địch tra tấn cô đến tận cùng, cô mất đi chức năng sinh con, vậy thì tuổi già rồi nằm một mình, có suy nghĩ, có buồn phiền gì không? Thú thật với đồng chí, tôi không có suy nghĩ gì hết, mà cũng không buồn phiền gì hết. Bởi vì con đồng chí, đồng đội của tôi là con cháu của tôi".
Quy luật nghiệt ngã của thời gian và di chứng chất độc da cam khiến ông Trí bị tai biến, ung thư di căn và phải nằm liệt giường tại Bệnh viện C Đà Nẵng. Bà nói: Bây giờ tôi phải cố gắng giữ sức khỏe để bù lại những tháng năm anh Trí đã chăm sóc tôi. Đến giờ phút này, tôi đã 84 tuổi, tôi sẽ tiếp tục là chỗ dựa vững vàng cho chồng. Tôi chăm anh đến hơi thở cuối cùng.