Kỳ 1: Còn đâu dòng sông thuở nào!
Trải qua biến thiên của thời gian, nhiều con sông đã thay đổi dòng chảy và không còn như xưa, điều này tác động xấu đến môi trường sống khiến nhiều người xót xa. Họ mong ước những dòng sông trong mát ngày nào có thể trở lại như lúc ban đầu.
Thời “sông với người là bạn”
Làng Cự Đà (xã Cự Khê, huyện Thanh Oai, TP Hà Nội) nằm bên dòng sông Nhuệ ngay từ những năm đầu thế kỷ 20 đã là một trong những làng quê giàu có, đi lên nhờ sự phát triển thương nghiệp. Dòng sông Nhuệ ven làng được ví như “con đường tơ lụa” và làng Cự Đà là bến cảng trung chuyển tập kết hàng hóa từ Tây Bắc xuống, hoặc phía nam lên. Từ đây, tàu thuyền qua lại xuôi về các tỉnh Hưng Yên, Ninh Bình, Nam Định… hay ngược lên Vĩnh Phúc, Phú Thọ… hoạt động tấp nập. Do đó, sự giao thương ở đây luôn sôi động, chợ họp quanh năm suốt tháng khiến làng Cự Đà phát triển vào hàng bậc nhất ở phía bắc thời bấy giờ. Tận dụng thế mạnh đó, nhiều người trong thôn tranh thủ cơ hội buôn bán đã vươn lên trở thành những thương gia giàu có. Họ đầu tư xây kè đá xanh vững chắc hai bên bờ, mỗi đoạn lại có bậc lên xuống, một phần cho thuyền cập bến, một phần cho dòng sông thêm thơ mộng, hữu tình. Không chỉ thuận tiện cho buôn bán, dòng sông Nhuệ còn mang nguồn nước tươi mát cho những cánh đồng “bờ xôi, ruộng mật”. Nhìn từ trên cao, dòng sông như dải lụa mềm mại uốn lượn giữa các làng quê xanh tươi. Cho đến tận vài năm đầu thế kỷ 21, dòng sông vẫn giữ được vẻ đẹp của nó.
Thế nhưng trong hơn chục năm qua, những khung cảnh mơ mộng của dòng sông Nhuệ dần biến đi, mà thay vào đó là những khoảng nước đen lờ nhờ. Đây là thực trạng đáng buồn cho dòng sông từng được ví như một bức tranh đẹp. Ông Trần Văn Sơn, người làng Cự Đà cho biết: từ ngày sông Nhuệ bị ô nhiễm, chẳng cá tôm nào về sống được, nước sông đen ngòm bốc mùi xú uế cho nên người dân cũng chẳng dám lội qua chứ nói gì đến chuyện dùng để sinh hoạt, tưới rau, hoa màu. Trước đây, làng Cự Đà nổi tiếng xa gần với hai nghề truyền thống là sản xuất miến dong và tương nhưng nay hai nghề này cũng trở nên điêu đứng, bởi người ta sợ ăn phải… chất độc. Có thể nói, sông Nhuệ ngày nay không chỉ gây ô nhiễm môi trường tự nhiên mà nó còn gieo rắc rất nhiều bệnh tật cho người dân sống dọc hai bên bờ.
Dần bị thu hẹp
Sông Hát thuộc xã Hát Môn (huyện Phúc Thọ, TP Hà Nội) là dòng sông cổ gắn với nhiều chiến công oanh liệt của hai bà Trưng trong cuộc kháng chiến chống quân Nam Hán. Từ sông Hồng, sông Hát tách ra thành một nhánh riêng chảy vào địa phận xã Hát Môn, trước khi qua các huyện Đan Phượng, Thanh Oai… rồi chuyển hướng về phía tây hợp với sông Bùi chảy đến Phương Đình thuộc Ứng Hòa, sau đó sang địa bàn tỉnh Hà Nam, đi qua huyện Hoài An đến huyện Kim Bảng thì hợp với sông Châu Giang (nay cũng không còn) tại thành phố Phủ Lý, Hà Nam. Sông Hát từng gắn với vùng bán sơn địa, trước mặt là đồng bằng có hệ thống sông ngòi thuận lợi đánh bắt thủy sản, được thiên nhiên ban tặng cho nhiều tôm, cá. Dẫu vậy, dòng sông này giờ chỉ còn là… một đoạn kênh nhỏ khiến nhiều người không khỏi nuối tiếc.
Nhớ lại một thời đã qua, ông Nguyễn Văn Lâm, xã Hát Môn cho biết: “Hồi nhỏ, tôi vẫn cùng lũ bạn bơi lội trên dòng sông mỗi buổi chiều đi học về. Ngày đó, sông còn rộng, nước còn xanh, vào mùa hè thì ngày nào lũ trẻ con cũng tụ tập ngoài bãi”. Thời đó, người dân Hát Môn nghèo, sống chủ yếu vào nghề chài lưới bên sông. Tuy vất vả nhưng người dân vẫn gắn bó mặn mà với công việc và cả dòng sông. “Có những buổi trời chiều chạng vạng tối, các nhà thuyền đua nhau kéo vó, nhộn nhịp cả một khúc sông. Giờ đây tất cả những điều ấy chỉ còn trong dĩ vãng”, ông Lâm nói.
Trong khoảng vài chục năm trở lại đây, quá trình thu hẹp dòng Hát Giang đã biến phần lớn diện tích sông trước kia bị bồi lấp thành đồng ruộng, đất nông nghiệp và hình thành các khu dân cư. Ngày nay, từ đền hai bà Trưng trông ra phía trước còn hiện hữu hai căn nhà cổ chông chênh nhô hẳn lên so những căn hộ chung quanh, ở đó lưu dấu mức nước sông trước kia dâng cao mỗi mùa nước về. Chỉ tay về phía ấy, ông Ninh (thôn 1, xã Hát Môn) cho biết: trước đây, nhà nào ở khu này cũng cao như thế, nhưng từ khi dòng sông bị lấp thì họ san đất thấp xuống cho bằng phẳng. Khu vực sân đền trước kia là đường đất, có năm nước lớn vào tới tận cửa đền. Khoảng năm, sáu năm trước, chính quyền xã cho đổ bê-tông, kè chắn lại khu vực này, một phần để bảo đảm an toàn cho di tích đền, một phần để việc tổ chức lễ hội diễn ra hằng năm được trang trọng, sạch sẽ hơn.
Mong sông trở lại
Giống như dòng sông Hát, sông Tích (còn gọi là Tích Giang) cũng là một phần ký ức không dễ phai mờ với người dân huyện Thạch Thất. Bắt nguồn từ chân núi Ba Vì với hai hồ điều tiết nước đầu nguồn là hồ Suối Hai, hồ Đồng Mô, sông Tích uốn quanh các xã Cẩm Yên, Kim Quan, Cần Kiệm của huyện Thạch Thất trước khi chạy sang các huyện Quốc Oai, Chương Mỹ, cuối cùng đổ nước về sông Đáy tại huyện Mỹ Đức. Dòng sông với những nét mơ mộng, hữu tình cũng là nơi gắn liền với nhiều di tích lịch sử của người dân tỉnh Hà Tây trước kia.
Dòng sông Tích từ chỗ rộng hàng trăm mét, đến nay chỉ còn rộng chừng ba chục mét, chỗ rộng nhất cũng chỉ năm chục mét. Không có cửa thông với sông Đà hay sông Hồng để lấy nước, nguồn sinh thủy của sông Tích chủ yếu từ vùng núi Ba Vì. Thời điểm rừng còn nhiều và chưa có các hệ thống hồ đập để giữ nước, sông Tích có lượng nước dồi dào, dòng chảy duy trì ổn định. Nhờ đó, việc cấp nước phục vụ sản xuất, sinh hoạt của các địa phương hai bên bờ sông cơ bản được đáp ứng. Tuy nhiên, khoảng 20 năm trở lại đây, nước sông Tích ngày càng cạn kiệt, nhất là vào mùa khô.
Để cứu dòng sông trước nguy cơ biến mất cũng như tạo tuyến dẫn nước từ sông Đà vào sông Tích, làm sạch sông Đáy, cung cấp nước tưới cho 16.000 ha đất sản xuất nông nghiệp, tiêu thoát lũ trong mùa mưa, dự án tiếp nước, cải tạo, khôi phục sông Tích đã được triển khai từ năm 2011, đi qua địa bàn huyện Ba Vì, thị xã Sơn Tây, các huyện Phúc Thọ, Thạch Thất, Quốc Oai, Chương Mỹ, Mỹ Đức. Tuy nhiên đến nay tiến độ thi công vẫn khá chậm trễ, kéo dài gây ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất của người dân huyện Ba Vì bởi phần lớn diện tích đất canh tác nằm ở vùng bãi sông. Đây là vùng đất màu mỡ, thuận tiện cho việc trồng các loại rau hoa màu, cây ăn quả, mang lại nguồn thu nhập chính của người dân trên địa bàn.
Với nhiều người dân lâu nay sống dọc hai bên bờ, ước vọng về những dòng sông được hồi sinh trở lại luôn thường trực trong tâm trí.
(Còn nữa)
| Ông Nguyễn Văn Quân, thôn Yên Lạc, xã Cần Kiệm cho biết, vào khoảng tháng 8 (âm lịch), khi mùa mưa qua đi, suối lũ đầu nguồn thôi đổ nước, nước sông Tích lắng trong thì cũng là lúc vào mùa câu cá chình. Thế nên, sông Tích không chỉ là người bạn hiền hòa, gần gũi với những sinh hoạt đời thường như tắm giặt, rửa rau, vo gạo, gánh nước, tưới rau… mà còn là nguồn nuôi sống biết bao gia đình. “Vào những ngày hè oi ả, người lớn, trẻ con ngày nào cũng rủ nhau ra sông chơi cho mát. Nhưng nay thì không còn, chẳng biết đến bao giờ mới có lại cảnh ấy nữa”, ông ngậm ngùi. |