Tinh thần hành động từ Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam

Ngày 7/1, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam.

Văn hóa được xác định là nền tảng, động lực và mục tiêu cho sự phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng con người Việt Nam.
Văn hóa được xác định là nền tảng, động lực và mục tiêu cho sự phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng con người Việt Nam.

Hướng đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, cùng với những định hướng quan trọng về văn hóa sẽ được nêu ra trong đại hội, Nghị quyết là bước đột phá quan trọng trong nhận thức, quan điểm, tư duy và tinh thần hành động của Đảng và Nhà nước ta, vì một xã hội văn hóa, lấy văn hóa làm nền tảng, phương tiện cũng như mục tiêu xây dựng, phát triển.

1. Nhìn lại lịch sử, Nghị quyết chỉ rõ vấn đề quan trọng, vừa bao trùm, vừa có tính cốt lõi. Đó là: “mỗi thời kỳ đất nước phát triển mạnh mẽ đều gắn liền với sự phát triển rực rỡ về văn hóa”.

Từ đây, qua thực tiễn cách mạng và phát triển đất nước cùng thực tế đời sống văn hóa thời gian qua, hướng đến kỷ nguyên mới, Nghị quyết nhấn mạnh: “phải có những chủ trương, quyết sách đột phá mang tính chiến lược, đồng bộ nhằm khắc phục hạn chế, bất cập; chủ động nắm bắt thời cơ, vượt lên thách thức thúc đẩy phát triển văn hóa”. Đặc biệt: “Văn hóa phải đi trước soi đường, thấm vào từng quyết sách phát triển, đề cao giá trị nhân văn, chuẩn mực đạo đức xã hội”. Đi trước, soi đường, Nghị quyết cũng nêu cao ý nghĩa “nền tảng” và “hệ điều tiết”. Đây có thể coi là những “từ khóa” cơ bản định hướng cho việc xây dựng chính sách phát triển văn hóa; đồng thời với đó là những mục tiêu rất rõ về khát vọng, kỳ vọng trên những dấu mốc cụ thể, theo đó: “văn hóa phải thật sự trở thành nền tảng vững chắc, sức mạnh nội sinh của dân tộc và hệ điều tiết cho phát triển nhanh, bền vững đất nước, hướng đến mục tiêu 100 năm thành lập Đảng và 100 năm thành lập Nước; khẳng định vị thế, tầm vóc nền văn hóa Việt Nam xứng tầm một quốc gia phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có truyền thống văn hóa, văn hiến lâu đời, đóng góp xứng đáng vào dòng chảy văn minh nhân loại”.

122.jpg

2. Trên tinh thần đó, từ quan điểm chỉ đạo, mục tiêu đến nhiệm vụ, giải pháp và tổ chức thực hiện, Bộ Chính trị yêu cầu tập trung quán triệt, thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả nhiều nội dung quan trọng, có tính chiến lược, có tầm nhìn xa-rộng, đồng thời là những gợi ý, gợi mở thực hành rất cao. Qua các nội dụng gọn gàng, xúc tích, cụ thể của Nghị quyết, tinh thần thúc giục hành động được gắn chặt với vai trò, trách nhiệm, quyền lợi của các thành phần liên quan, từ các cấp lãnh đạo, quản lý cho đến đội ngũ xây dựng-sáng tạo, lực lượng hỗ trợ-đồng hành, đối tượng thụ hưởng.

Có thể chỉ ra đại ý như: Thấm sâu các giá trị văn hóa vào toàn bộ đời sống xã hội, từ chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường tới quốc phòng, an ninh, đối ngoại; phát triển văn hóa để hoàn thiện nhân cách con người xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới, đồng thời xây dựng con người cũng chính là để phát triển văn hóa; với sự lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước quản lý, vai trò chủ thể sáng tạo và thụ hưởng của Nhân dân là chủ thể sáng tạo, thì trí thức, văn nghệ sĩ, cán bộ văn hóa, doanh nhân đóng vai trò quan trọng; cùng với đó là nguồn lực cần thiết của nhà nước, tư nhân, vì sự phát triển bền vững đất nước và tương lai dân tộc…

Và rất rõ, trên nền mục tiêu chung về sự lớn mạnh, lan tỏa, bền vững của văn hóa Việt Nam từ cấp độ gia đình cho đến đất nước và quốc tế, Nghị quyết nêu chỉ tiêu: Đến năm 2030, hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hóa quốc gia, 100% chính quyền địa phương 2 cấp, lực lượng vũ trang có thiết chế văn hóa đáp ứng được nhu cầu sáng tạo, thụ hưởng văn hóa của người dân ở cơ sở và cán bộ, chiến sĩ…; số hóa 100% di sản văn hóa đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt vào năm 2026; 100% học sinh, học viên, sinh viên được tiếp cận, tham gia hiệu quả, thường xuyên các hoạt động nghệ thuật, giáo dục di sản văn hóa. Cùng với đó, tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm được dành cho văn hóa và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn; công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP… Đến năm 2045, Việt Nam khẳng định vị thế văn hóa của quốc gia phát triển có thu nhập cao, định hướng xã hội chủ nghĩa; trở thành điểm đến hấp dẫn của các sự kiện văn hóa, nghệ thuật tầm cỡ khu vực và quốc tế; trở thành một trong những trung tâm công nghiệp văn hóa - sáng tạo năng động với 9% GDP từ công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo; nằm trong Top 3 khu vực ASEAN và Top 30 thế giới về Chỉ số Sức mạnh mềm (Soft Power Index) của quốc gia và giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghiệp văn hóa…

3. Tinh thần hành động xuyên suốt các nhiệm vụ, giải pháp được Nghị quyết đề ra cụ thể. Trong đó, vai trò cá nhân của người đứng đầu cấp ủy, lãnh đạo quản lý ở các cấp và các lĩnh vực được đòi hỏi cao hơn trong nhiệm vụ phát triển văn hóa. Đáng chú ý là ở đây không phân tách văn hóa, văn học nghệ thuật với các lĩnh vực khác. Cùng với đó, cũng là “nhắc nhở” quan trọng với mọi lĩnh vực: “Văn hóa phải thấm sâu vào mọi quy hoạch, kế hoạch, đề án, dự án”. Việc tuyên truyền, giáo dục về văn hóa được yêu cầu đẩy mạnh một cách thường xuyên, liên tục với vai trò nòng cốt của báo chí, xuất bản.

Đặc biệt, sẽ là nhiệm vụ rất lớn đối với ngành văn hóa, tư pháp… và các ban, ngành liên quan khi theo Nghị quyết, cần xây dựng, hoàn thành, sửa đổi, bổ sung, thay thế hàng loạt chính sách, cơ chế mà lâu nay hoặc hiện nay còn đang thiếu, chưa đầy đủ hoặc đã bộc lộ bất cập. Thí dụ như các luật về hoạt động nghệ thuật, văn học, bản quyền tác giả, công nghiệp văn hóa; Bộ chỉ số văn hóa quốc gia, Bộ chỉ số thống kê về đóng góp vào kinh tế của các ngành công nghiệp văn hóa theo chuẩn mực quốc tế; rồi cơ chế, chính sách đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa; hoặc việc khuyến khích tư nhân đầu tư vào các cơ sở đào tạo và thiết chế văn hóa; cộng với chính sách ưu đãi vượt trội cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo về văn hóa. Cùng với đó, còn là đòi hỏi lớn về chính sách đặc thù, đột phá thúc đẩy hợp tác công tư trong lĩnh vực văn hóa; cơ chế đặc thù trong phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng và phát huy tài năng; cơ chế đặt hàng sáng tạo và phổ biến các công trình, tác phẩm văn hóa, văn học, nghệ thuật có giá trị cao… Như một sự đáp ứng có tính tháo gỡ cho những đòi hỏi mới từ thực tiễn thời gian qua, Nghị quyết nêu: “Cho thực hiện thí điểm đối với những vấn đề cấp bách cần triển khai ngay để tạo đột phá cho văn hóa phát triển, nếu chưa có văn bản pháp luật quy định hoặc có quy định khác”.

4. Hàng loạt các nội dung khác đòi hỏi sự phối hợp nhanh chóng, cụ thể giữa các bộ, ngành, tổ chức, đoàn thể, địa phương trong việc chung tay phát triển văn hóa. Nghị quyết cho thấy, lãnh đạo Đảng đã tiếp thu những đề xuất, hiến kế của giới chuyên môn, các trí thức, văn nghệ sĩ trong những năm qua, cũng như “cập nhật” những vấn đề, hiện tượng, mô hình… văn hóa mới xuất hiện, nảy sinh, đặc biệt trong năm 2025 sôi động và nhiều thành quả về văn hóa vừa qua. Do đó, phát triển văn hóa được nhắc đến không phải là sự phát triển nói chung, mà cần được định hình bằng những giá trị được xác định, những mô hình cụ thể. Có thể thấy rõ khi Nghị quyết nhấn mạnh: Đặt giáo dục đạo đức và văn hóa lên hàng đầu trong các cơ sở giáo dục từ bậc mầm non; phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”, 6 điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân, mẫu hình “công bộc của dân”. Cùng với đó, triển khai đồng bộ hệ giá trị văn hóa: Dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học; hệ giá trị quốc gia: Hòa bình, thống nhất, độc lập, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc; hệ giá trị gia đình: Ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh; chuẩn mực con người Việt Nam: Yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo…

“Nghị quyết này phổ biến đến chi bộ”, chỉ đạo này của Bộ Chính trị cho thấy, mọi chi bộ ở các cấp đều cần quán triệt, thấm nhuần tinh thần Nghị quyết và biến thành hành động, triển khai và phối hợp với chính quyền, cấp quản lý cũng như toàn chi bộ và các tập thể, cá nhân cán bộ, đảng viên, rộng hơn là các cơ quan, đơn vị, tập thể, cộng đồng trong toàn xã hội. Sau một “nhiệm kỳ văn hóa” với nhiều quyết sách lớn về chấn hưng và phát triển văn hóa nước nhà, Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam đang góp phần khẳng định tầm quan trọng, sự cần thiết của chỗ dựa và phẩm chất văn hóa nếu chúng ta muốn đất nước thật sự đẹp giàu, dân tộc vươn mình mạnh mẽ.

Nghị quyết đã thống nhất chọn ngày 24/11 hằng năm là “Ngày Văn hóa Việt Nam”, với chủ trương là ngày nghỉ, người lao động được hưởng nguyên lương, để Nhân dân được nâng cao khả năng thụ hưởng văn hóa, đội ngũ văn nghệ sĩ được động viên sáng tạo, toàn xã hội đề cao, thực hành lối sống văn hóa, văn minh.