Từ bàn tay người nông dân đến sản phẩm OCOP, các sản phẩm chè không chỉ là thức uống mà là kết tinh văn hóa, sinh kế và giấc mơ hội nhập.
Từ bàn tay người nông dân đến sản phẩm OCOP, các sản phẩm chè không chỉ là thức uống mà là kết tinh văn hóa, sinh kế và giấc mơ hội nhập.

Trà Hương Quê: Hành trình “đánh thức” thương hiệu OCOP từ đất chè Thái Nguyên

Giữa trập trùng đồi chè Thái Nguyên, xã Hợp Thành đang vươn mình mạnh mẽ với khát vọng định danh thương hiệu trà Việt. Từ bàn tay người nông dân đến sản phẩm OCOP, các sản phẩm chè không chỉ là thức uống mà là kết tinh văn hóa, sinh kế và giấc mơ hội nhập.

Trong đó, sản phẩm trà Hương Quê của Hợp tác xã Nông sản Phú Lương - một trong những sản phẩm OCOP 5 sao của Thái Nguyên là một trong những sản phẩm tiêu biểu.

Ước mơ lớn của chàng trai người Tày

Một buổi sớm tháng tư, khi mùa hè chạm đến đất trời bằng ánh nắng lấp lánh tinh khôi đầu ngày, khi những hạt sương mai còn vương trên những búp chè non, tôi có mặt ở xóm Khau Lai, xã Hợp Thành (trước đây là xã Ôn Lương, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên), nơi được xem là “trái tim xanh” của vùng chè Phú Lương.

Gió núi khe khẽ, mang theo hương chè thơm ngai ngái, thứ hương rất riêng, vừa mộc mạc vừa quyến rũ. Trên những triền đồi còn đẫm hơi sương là bóng các bà, các cô, các chị vui vẻ cười đùa trong khi tay vẫn mải mê hái những búp chè non xanh mơn mởn.

Người Phú Lương vẫn nói vui: “Chè ở đây uống vào là nhớ”. Nhớ bởi vị chát dịu đầu môi, để rồi lắng lại là vị ngọt thanh sâu nơi cuống họng. Nhớ bởi hương thơm thoảng mùi cốm non, chút phù sa của sông Cầu, chút tinh khiết của đất trời.

Người Phú Lương vẫn nói vui: “Chè ở đây uống vào là nhớ”. Nhớ bởi vị chát dịu đầu môi, để rồi lắng lại là vị ngọt thanh sâu nơi cuống họng. Nhớ bởi hương thơm thoảng mùi cốm non, chút phù sa của sông Cầu, chút tinh khiết của đất trời.

Người làng kể lại, cây chè bén rễ nơi này từ năm 1945, theo thời gian đã trở thành cây trồng chủ lực, là sinh kế, là văn hóa, là ký ức của bao thế hệ.

chua-co-ten-1920-x-1080-px-4.png
Nguồn nguyên liệu sạch tạo nên sản phẩm OCOP (Ảnh: Hợp tác xã nông sản Phú Lương)

Đến nay, toàn xã có hơn 4.100ha chè, sản lượng hàng chục nghìn tấn mỗi năm, đóng góp tới 35% giá trị sản xuất nông nghiệp địa phương. Cây chè đã trở thành sinh kế của bà con bản địa, trong đó không ít bà con là đồng bào dân tộc thiểu số.

Giữa vùng chè ấy, Hợp tác xã nông sản Phú Lương nổi lên như một điểm sáng. Người đứng sau thương hiệu này là ông Tống Văn Viện, người dân tộc Tày, một người đã bắt đầu với chè từ thời sinh viên, và sau hơn một thập kỷ, đã tạo dựng được một hệ sinh thái sản xuất-chế biến-tiêu thụ bài bản.

Trao đổi với chúng tôi, ông Tống Văn Viện cho biết, từ nhiều đời nay, cây chè đã trở thành nguồn sống chính của gia đình ông cũng như nhiều hộ dân trong xóm. Tuy nhiên, do sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền thống, thiếu kiến thức khoa học kỹ thuật nên năng suất và chất lượng chè chưa cao, giá trị mang lại còn hạn chế. Sản phẩm làm ra phần lớn tiêu thụ qua thương lái nhỏ lẻ, giá bấp bênh, khiến đời sống người dân vẫn gặp nhiều khó khăn.

Trăn trở trước thực tế đó, ông Viện sớm nuôi trong mình khát vọng thay đổi. “Tôi nghĩ nếu cứ làm theo cách cũ thì cây chè khó giúp bà con khá lên. Phải có hướng đi mới, từ kỹ thuật đến cách bán hàng”, ông Tống Văn Viện bộc bạch.
Ý tưởng nâng cao giá trị cây chè, cải thiện thu nhập cho người dân dần hình thành và lớn lên cùng ông qua từng năm tháng.

a8.jpg
Quy trình tuyển chọn kỹ lưỡng cho các sản phẩm chè (Ảnh: Hợp tác xã nông sản Phú Lương)

Thời còn là sinh viên, mỗi lần từ quê lên thành phố, chàng trai trẻ người Tày lại mang theo những túi chè quê nhà để giới thiệu, bán cho bạn bè, người quen. Từ những trải nghiệm thực tế đó, kết hợp với việc tự học hỏi qua Internet và trao đổi với bạn bè, anh nhanh chóng tiếp cận phương thức kinh doanh mới. Ông chủ động xây dựng kênh bán hàng trực tuyến, từng bước đưa sản phẩm chè quê hương tiếp cận thị trường rộng lớn hơn.

Không dừng lại ở đó, với mong muốn phát triển bài bản, anh tiếp tục tham gia các khóa học về nông nghiệp và kinh doanh, tích lũy thêm kiến thức, kỹ năng quảng bá sản phẩm. Năm 2013, sau khi xây dựng được nền tảng phân phối riêng, anh quyết định trở về quê, mang theo tư duy của một người trẻ năng động, sẵn sàng đổi mới để nâng tầm giá trị cây chè quê hương.

Từ núi đồi đến thị trường quốc tế

Tháng 2/2026, chè Phú Lương vinh dự là sản phẩm đầu tiên được Bộ Công Thương hỗ trợ tiêu thụ thông qua chương trình “Sức sống hàng Việt” số đầu tiên. Đáng chú ý, chỉ các sản phẩm OCOP thực sự có chất lượng, được Sở Công thương địa phương lựa chọn giới thiệu mới được tham gia chương trình.

Ông Tống Văn Viện chia sẻ, việc tham gia chương trình “Sức sống hàng Việt” do Bộ Công Thương hỗ trợ là một dấu mốc đáng nhớ khi đây là cơ hội để các sản phẩm trà của Hợp tác xã đến gần hơn với người tiêu dùng, đồng thời lan tỏa giá trị nông sản Việt.

Trong không gian ấm cúng của chương trình “Sức sống hàng Việt”, Hợp tác xã nông sản Phú Lương mang đến ba dòng sản phẩm chủ lực: Trà tôm nõn thượng hạng, trà móc câu OCOP 4 sao và trà mầm sương sớm OCOP 4 sao.

Trong không gian ấm cúng của chương trình “Sức sống hàng Việt”, Hợp tác xã nông sản Phú Lương mang đến ba dòng sản phẩm chủ lực: Trà tôm nõn thượng hạng, trà móc câu OCOP 4 sao và trà mầm sương sớm OCOP 4 sao.

Đặc biệt, sản phẩm trà tôm nõn Hương Quê đã được công nhận OCOP 5 sao cấp quốc gia - một “tấm hộ chiếu vàng” cho hành trình chinh phục thị trường cao cấp.

chua-co-ten-1920-x-1080-px-555555555555555555.png
Tăng cường các hình thức giới thiệu và tiêu thụ sản phẩm OCOP của vùng chè Thái Nguyên (Ảnh: Hợp tác xã nông sản Phú Lương)

Nhưng phía sau những sản phẩm ấy không chỉ là kỹ thuật chế biến, mà là cả một triết lý làm nghề.

Ông Tống Văn Viện tâm huyết chia sẻ, để tạo ra sản phẩm chất lượng được công nhận OCOP 5 sao, Hợp tác xã đã chú trọng đầu tư nghiêm túc từ vùng nguyên liệu đạt chuẩn. Từ vùng nguyên liệu 6ha do Hợp tác xã trực tiếp quản lý và liên kết thêm 50ha với người dân, mọi khâu đều được kiểm soát chặt chẽ. Phân bón không phải là hóa học mà là hữu cơ, ủ từ phân trâu kết hợp vi sinh. Quy trình sản xuất không còn manh mún mà được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn an toàn thực phẩm.

“Đặc biệt, Hợp tác xã đang vận hành mô hình nông nghiệp tuần hoàn, thu gom phụ phẩm để sản xuất phân hữu cơ, rồi quay lại phục vụ chính vùng chè. Một vòng tròn khép kín, vừa tiết kiệm chi phí, vừa bảo vệ môi trường”, ông Tống Văn Viện chia sẻ.

Mỗi năm, Hợp tác xã sản xuất khoảng 100 tấn phân hữu cơ vi sinh, không chỉ sử dụng cho chính các vườn chè của mình mà còn cung cấp cho các hộ liên kết thực hiện mô hình. Hiện nay, Hợp tác xã đã xây dựng nhà xưởng với diện tích trên 1.000 m2, đầu tư máy móc để sản xuất phân hữu cơ từ các phế phẩm nông nghiệp.

a1.jpg
Một sản phẩm có thương hiệu uy tín (Ảnh: Hợp tác xã nông sản Phú Lương)

Theo ông Viện, việc sử dụng phân bón hữu cơ không chỉ giúp cây trồng sinh trưởng tốt, mà còn giúp cải thiện chất lượng đất, làm đất tơi xốp và tăng khả năng giữ ẩm, từ đó giảm thiểu việc tưới nước và tiết kiệm chi phí chăm sóc cây trồng.

Tại Hợp tác xã nông sản Phú Lương, người nông dân không “đơn độc” khi họ được đơn vị đồng hành trong mọi khâu.

Theo đó, Hợp tác xã cung cấp kỹ thuật, bao tiêu sản phẩm, nâng giá thu mua chè tươi từ mức 24.000-28.000 đồng/kg lên 30.000-40.000 đồng/kg, giúp bà con nông dân yên tâm gắn bó với nghề. Hợp tác xã cũng cam kết thu mua hết sản phẩm nếu đáp ứng đúng yêu cầu của doanh nghiệp.

Hiện đơn vị tạo việc làm cho khoảng 50 lao động với thu nhập 5-7 triệu đồng/tháng. Con số không lớn nếu đặt giữa đô thị, nhưng là một sự thay đổi đáng kể nơi vùng núi Thái Nguyên.

Có được sản phẩm chè chất lượng đã khó, tìm được thị trường cho sản phẩm còn khó khăn hơn. Với Hợp tác xã nông sản Phú Lương, xác định chè là sản phẩm góp phần tạo sinh kế bền vững cho bà con đồng bào dân tộc, hành trình của Hợp tác xã không dừng lại ở thị trường nội địa mà hiện sản phẩm đã có mặt tại nhiều tỉnh thành phía bắc, đặc biệt là Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên… thông qua cả kênh truyền thống và trực tuyến. Năm 2023, Hợp tác xã tiêu thụ khoảng 40 tấn chè khô, doanh thu 13-15 tỷ đồng.

a14.jpg
Một sản phẩm có thương hiệu uy tín (Ảnh: Hợp tác xã nông sản Phú Lương)

Nhưng điều đáng chú ý là sản phẩm luôn khát khao bước đi ra thế giới. Năm 2025, Hợp tác xã đã ký kết hợp tác với đối tác thông qua phía Nhật Bản, đồng thời xúc tiến thị trường Đài Loan (Trung Quốc). Những thị trường khó tính, nơi mà câu chuyện về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn sản xuất trở thành “giấy thông hành” bắt buộc.

Ở chiều ngược lại, ông Tống Văn Viện chia sẻ, Hợp tác xã cũng đang nỗ lực nâng cấp chính mình. Bao bì được chuẩn hóa, thông tin minh bạch, hướng dẫn sử dụng rõ ràng. Những điều tưởng chừng nhỏ, nhưng lại là “chìa khóa” để bước vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Nhờ những nỗ lực không mệt mỏi, giá bán sản phẩm hiện dao động từ 400.000-600.000 đồng/kg, dòng cao cấp lên tới 2 triệu đồng/kg.

Trong tương lai, khi vùng chè hữu cơ 1ha hoàn thiện, con số này có thể lên tới 5-10 triệu, thậm chí 20 triệu đồng/kg - một giấc mơ lớn đang dần thành hình của bà con đồng bào dân tộc đã và đang ngày đêm gắn bó với cây chè.

a3.jpg
Một sản phẩm có thương hiệu uy tín (Ảnh: Hợp tác xã nông sản Phú Lương)

Ông Tống Văn Viện cũng chú trọng đa dạng hóa các hình thức đóng gói, thường xuyên thay đổi mẫu mã bao bì, nhãn mác, dán tem truy xuất nguồn gốc; đẩy mạnh quảng bá sản phẩm trên các sàn thương mại điện tử, phát triển bán hàng online dựa trên các nền tảng mạng, như Zalo, Facebook, Tiktok.

Nhờ công nghệ số, sản phẩm của Hợp tác xã nông sản Phú Lương đã kết nối khắp các vùng miền, góp phần tăng lượng sản phẩm tiêu thụ.

Khi chè không chỉ là thức uống mà là một nền văn hóa

Điều khiến tôi ấn tượng không nằm ở những con số, mà ở cách người dân nơi đây nhìn cây chè. Ở đây, chè không chỉ để bán mà là văn hóa. Sau những ngày lao động, người dân lại cất lên điệu Sấng Cọ, múa tắc xình giữa nương chè. Tiếng hát, tiếng cười hòa cùng hương trà, tạo nên một bản giao hưởng của núi rừng.

a7.jpg
Tháng 2/2026, chè Phú Lương vinh dự là sản phẩm đầu tiên được Bộ Công Thương hỗ trợ tiêu thụ thông qua chương trình “Sức sống hàng Việt” số đầu tiên. (Ảnh: Hợp tác xã nông sản Phú Lương)

Chính quyền địa phương cũng không đứng ngoài cuộc. Giai đoạn 2021-2025, xã Hợp Thành đã dành nguồn vốn lớn để hỗ trợ người dân chuyển đổi giống, ứng dụng khoa học kỹ thuật. Các chương trình OCOP, xúc tiến thương mại, đưa sản phẩm lên sàn thương mại điện tử… đã được triển khai đồng bộ suốt thời gian qua.

Nhờ công nghệ số, sản phẩm của Hợp tác xã nông sản sạch Phú Lương đã kết nối khắp các vùng miền, góp phần tăng lượng sản phẩm tiêu thụ.

Ông Tống Văn Viện

Thái Nguyên không chỉ bán chè, mà đang kể câu chuyện đẹp về chè. Những ngày hội vinh danh làng nghề, những tour du lịch nông nghiệp, những trải nghiệm hái chè-sao chè-thưởng trà… được tổ chức góp phần biến chè thành một sản phẩm văn hóa-du lịch-kinh tế tổng hợp. Trong chiến lược đến năm 2030, xã đặt mục tiêu trở thành thủ phủ chè chất lượng cao, với giá trị sản phẩm đạt 2.000 tỷ đồng mỗi năm. Một tham vọng lớn, nhưng không phải không có cơ sở.

Rời Thái Nguyên, tôi mang theo vài gói trà, nhưng thứ đọng lại không chỉ là hương vị, đó là câu chuyện về một vùng đất đang chuyển mình, là hành trình của những người nông dân học cách làm thương hiệu, là khát vọng đưa nông sản Việt bước ra thế giới bằng chính giá trị thật.

Từ câu chuyện thành công của chè Hương Quê, lá chè bé bỏng đã chứng minh đây không còn là “sản vật địa phương” mà đang trở thành một biểu tượng của nông nghiệp bền vững, của văn hóa bản địa và của tư duy kinh tế mới.

Có thể bạn quan tâm

Cán bộ Đồn Biên phòng Chiềng On, Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Sơn La tuyên truyền cho người dân bản Lao Khô nhận biết về những thủ đoạn, cách thức lừa đảo trên không gian mạng.

Cảnh báo mạo danh cán bộ biên phòng lừa đảo khu vực biên giới Sơn La

Chỉ trong thời gian ngắn, nhiều hộ kinh doanh trên địa bàn các xã Yên Sơn, Lóng Phiêng, Mường Lạn, Cò Nòi của tỉnh Sơn La liên tiếp nhận được các cuộc gọi từ những đối tượng tự xưng là cán bộ phụ trách hậu cần-kỹ thuật của các đồn biên phòng để đặt mua hàng hóa, thuê dịch vụ nhằm lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Nhân viên công trình cấp nước sinh hoạt xã Nhữ Khê, tỉnh Tuyên Quang vận hành máy bơm cấp nước cho nhân dân trên địa bàn xã.

Tăng tỷ lệ người dân sử dụng nước sạch

Thời gian qua, cùng với việc đầu tư, xây dựng các công trình cấp nước sinh hoạt trên địa bàn cả nước, hàng triệu hộ dân vùng nông thôn được tiếp cận nguồn nước sạch. Tuy nhiên, để tăng tỷ lệ này, góp phần bảo vệ sức khỏe, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân cần có giải pháp đồng bộ.

Hợp tác xã dệt thổ cẩm Tân Bắc, xuất khẩu 1.000 sản phẩm dệt thổ cẩm truyền thống sang Hàn Quốc trong năm 2025.

Củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Trải qua gần 60 năm xây dựng và phát triển, cơ quan làm công tác dân tộc tỉnh Tuyên Quang đã góp phần quan trọng đưa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống. Nhiều chương trình thiết thực đã làm đổi thay diện mạo vùng đồng bào dân tộc thiểu số, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Cán bộ phường Mường Thanh hướng dẫn người dân thực hiện thủ tục hành chính trên cây ki-ốt tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường.

Chuyển đổi số trên cả ba trụ cột

Triển khai thực hiện nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, tỉnh Điện Biên đã quyết liệt chỉ đạo triển khai đồng bộ nhiều nhiệm vụ, giải pháp.

Chị Bùi Thị Mai cùng các thành viên hợp tác xã thu hoạch chè sạch canh tác theo phương pháp hữu cơ (Ảnh HƯƠNG DỊU)

Nông nghiệp sạch ở Thái Nguyên

Sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên thời gian qua đã có những thay đổi lớn trong tư duy của nông hộ. Từ chỗ chỉ chú trọng số lượng, các hộ đã hình thành và kiên trì theo đuổi sản xuất hữu cơ, sản xuất sạch tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, củng cố uy tín, giúp tăng thu nhập bền vững.

Vải thiều sớm xã Phúc Hòa, bước vào thu hoạch.

“Kích hoạt” tiêu thụ vải thiều Bắc Ninh

Năm 2026, sản lượng vải thiều tỉnh Bắc Ninh giảm so với kế hoạch do ảnh hưởng thời tiết, nhưng địa phương đã, đang quyết liệt “kích hoạt” nhiều giải pháp để tiêu thụ, từ nâng cao chất lượng, mở rộng thị trường đến phát triển chế biến sâu và du lịch trải nghiệm...

Chị Nguyễn Thị Hồng Liễu, Giám đốc HTX Dược liệu Sơn Ý trồng hàng chục héc-ta cây dược liệu khôi nhung tía dưới tán rừng.

Mở hướng cho dược liệu Tuyên Quang

Trên những triền đồi ở các xã vùng cao, chị Nguyễn Thị Hồng Liễu, xã Vị Xuyên (Tuyên Quang) cùng người dân xây dựng chuỗi liên kết sản xuất cây dược liệu theo phương pháp hữu cơ, mở hướng thoát nghèo cho người dân vùng cao.

Chương trình cà-phê doanh nhân được tổ chức hằng tuần giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp.

“Luồng xanh” tạo động lực tăng trưởng hai con số

Cải cách thủ tục hành chính trở thành điều kiện quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh và thu hút đầu tư. Vì vậy, cơ chế “luồng xanh” trong giải quyết thủ tục hành chính đang được triển khai quyết liệt hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số ở Phú Thọ.

Giai đoạn 1 dự án Đồng Đăng- Trà Lĩnh có hai hầm xuyên núi là Đông Khê (500m) và Thất Khê (200m).

Trên công trường đường cao tốc Đồng Đăng-Trà Lĩnh

Giữa trùng điệp núi đá vùng đông bắc, đại công trường dự án đường cao tốc Đồng Đăng-Trà Lĩnh đang ngày đêm “3 ca, 4 kíp” thi công rộn vang tiếng máy, từng nhịp cầu, mét hầm để sớm đưa tuyến giao thông chiến lược nối Lạng Sơn với Cao Bằng vào khai thác.

Mỗi năm xã Mường Hum cung cấp ra thị trường từ 80-100 tấn cá thương phẩm, mang lại thu nhập hàng chục tỷ đồng cho người dân.

Nuôi cá nước lạnh ở Mường Hum

Tận dụng lợi thế khí hậu mát mẻ quanh năm và nguồn nước dồi dào, thời gian qua, người dân xã vùng cao Mường Hum (Lào Cai) đã đẩy mạnh nghề nuôi cá nước lạnh theo hướng hàng hóa, tạo nguồn thu nhập ổn định và từng bước nâng cao đời sống.