Gỡ nút thắt điểm nghẽn chuyển đổi số
Các chủ trương, định hướng lớn được đặt ra trong Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, cùng với Nghị quyết 214/NQ-CP của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 57, đang mở ra cơ chế quan trọng nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn này, tạo điều kiện thúc đẩy việc xây dựng và vận hành các nền tảng số quy mô lớn trong khu vực công.
Một trong những “điểm nghẽn” lớn trong chuyển đổi số hiện nay không nằm ở công nghệ hay nguồn lực, mà ở cơ chế và cách thức tổ chức triển khai.
Theo các chuyên gia công nghệ, trước đây, quy trình đầu tư công đối với các dự án công nghệ thông tin phức tạp, nhiều thủ tục. Một dự án thường phải trải qua nhiều bước từ xây dựng đề án, thẩm định và phê duyệt chủ trương đầu tư, lập và phê duyệt dự án, đến đấu thầu lựa chọn nhà thầu và triển khai, khiến toàn bộ quá trình có thể kéo dài nhiều năm.
Trong khi đó, đặc thù của công nghệ là thay đổi nhanh, nếu quy trình kéo dài thì giải pháp khi triển khai có thể đã lỗi thời hoặc không còn phù hợp với nhu cầu thực tế. Điều này dẫn đến nghịch lý: càng tuân thủ chặt chẽ quy trình, hiệu quả đầu tư lại có nguy cơ giảm sút.
Bên cạnh đó, thời gian triển khai kéo dài cũng làm mất đi tính linh hoạt – yếu tố sống còn trong các dự án chuyển đổi số. Không ít dự án khi hoàn thành đã phải điều chỉnh, nâng cấp ngay lập tức, gây lãng phí nguồn lực. Song song với đó là tâm lý e ngại trách nhiệm của một bộ phận cán bộ thực thi. Khi cơ chế chưa rõ ràng, thiếu các quy định bảo vệ người dám đổi mới, nhiều người có xu hướng lựa chọn giải pháp an toàn, dẫn đến trì hoãn hoặc né tránh quyết định.
Việc Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị được ban hành cuối năm 2024 đã đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy và cách tiếp cận đối với phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số quốc gia.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Nghị quyết 57-NQ/TW được xem là động lực trung tâm cho tăng trưởng mới bởi điểm mới căn bản của nghị quyết này nằm ở sự thay đổi sâu sắc trong tư duy phát triển và cách thức tổ chức thực hiện.
Nghị quyết chuyển trọng tâm từ “theo kịp” sang “bứt phá”, từ tiếp nhận công nghệ sang làm chủ công nghệ, từ ứng dụng rời rạc sang xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo gắn với doanh nghiệp, thị trường và nhu cầu thực tiễn của phát triển đất nước.
Điểm mới rất quan trọng là chuyển mạnh từ cơ chế quản lý sang cơ chế kiến tạo và khuyến khích. Nghị quyết nhấn mạnh việc tháo gỡ các rào cản thể chế, chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, coi doanh nghiệp là trung tâm của hệ sinh thái đổi mới, đồng thời gắn khoa học-công nghệ với yêu cầu nâng cao năng lực quản trị quốc gia, quản trị doanh nghiệp và chất lượng dịch vụ công.
Có thể nói, điểm mới căn bản của nghị quyết là đã tạo ra một khung tư duy phát triển hiện đại, trong đó khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được kết nối chặt chẽ với cải cách thể chế, phát triển doanh nghiệp và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Tạo lập dữ liệu phục vụ chuyển đổi số toàn diện
Nối tiếp Nghị quyết 57-NQ/TW, sự ra đời của Nghị quyết số 214/NQ-CP Ban hành Kế hoạch hành động của Chính phủ về thúc đẩy tạo lập dữ liệu phục vụ chuyển đổi số toàn diện đã tạo bước ngoặt để công nghệ "xây chuẩn" ngay từ đầu.
Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương, Giám đốc Trung tâm Dữ liệu quốc gia cho biết, Việt Nam đã xác định rõ vai trò của dữ liệu trong Nghị quyết số 214/NQ-CP ngày 23/7/2025 ban hành Kế hoạch hành động của Chính phủ về thúc đẩy tạo lập dữ liệu phục vụ chuyển đổi số toàn diện - trong đó nhấn mạnh nhiệm vụ số hóa, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu phải đi trước một bước. Nhiều nền tảng số quốc gia quan trọng đã được triển khai như: Nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu tại Trung tâm Dữ liệu quốc gia, Hệ thống dữ liệu mở quốc gia, và các nền tảng số bộ, ngành, địa phương, tạo hạ tầng dùng chung để vận hành chính quyền số.
Một trong những điểm nổi bật nhất của Nghị quyết 214 là đặt ra các cơ chế nhằm tháo gỡ vướng mắc trong triển khai dự án công nghệ. Thay vì phải tuân thủ đầy đủ quy trình đầu tư công vốn phức tạp và kéo dài, các cơ quan định hướng áp dụng các hình thức triển khai phù hợp với đặc thù của dự án số. Điều này góp phần rút ngắn đáng kể thời gian chuẩn bị và triển khai, vốn là “điểm nghẽn” lớn trong nhiều năm qua, đồng thời tăng quyền chủ động cho các cơ quan, đơn vị trong quá trình thực hiện.
Không dừng lại ở đó, các chính sách mới còn tạo điều kiện thúc đẩy sự tham gia của doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệ. Thay vì Nhà nước “tự làm tất cả”, cơ chế mới cho phép tận dụng năng lực của doanh nghiệp công nghệ – những đơn vị có kinh nghiệm, nhân lực và khả năng đổi mới nhanh. Điều này không chỉ giúp nâng cao chất lượng giải pháp mà còn rút ngắn thời gian triển khai, giảm rủi ro trong quá trình thực hiện.
Đặc biệt, các nghị quyết mang tính đột phá về chuyển đổi số còn đặt ra tư duy mới: định hướng chú trọng hiệu quả và kết quả thực hiện, tăng cường giám sát trong quá trình triển khai. Đây là thay đổi rất quan trọng, tạo không gian cho đổi mới sáng tạo, đồng thời vẫn bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả trong sử dụng nguồn lực công. Cơ chế thí điểm đối với một số mô hình, giải pháp mới cũng là một bước tiến đáng chú ý, giúp các sáng kiến công nghệ có cơ hội được triển khai và hoàn thiện trong thực tế.
Theo Nghị quyết 214/NQ-CP, các tập đoàn, doanh nghiệp đồng hành, cung cấp dịch vụ chịu trách nhiệm phối hợp chặt chẽ, hỗ trợ các bộ, ngành, địa phương về nguồn lực, công nghệ, bảo đảm hiệu quả và an toàn thông tin, an ninh mạng trong thực hiện các nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết này; kịp thời phản ánh, kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ các khó khăn, vướng mắc, đề xuất các sáng kiến, giải pháp trong quá trình triển khai thực hiện.
Là địa phương triển khai Nghị quyết 214/NQ-CP từ sớm, ông Lữ Quang Ngời, Phó Bí thư Tỉnh ủy Cà Mau nhiệm kỳ 2025-2030, từng nhận định việc triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết 214/NQ-CP của Chính phủ là “bước tiến mới”, góp phần cụ thể hóa mục tiêu xây dựng chính quyền số, kinh tế số và xã hội số tại địa phương.
Việc ký kết với một đơn vị công nghệ thông tin để triển khai nghị quyết, theo ông Lê Quang Ngời sẽ tạo tiền đề quan trọng để 2 bên tăng cường chia sẻ dữ liệu, ứng dụng các nền tảng số tiên tiến vào quản lý, điều hành; hỗ trợ đào tạo, nâng cao kỹ năng số cho cán bộ, công chức và người dân.
Ở cấp trung ương, Bộ Tư pháp được xem là một trong những đơn vị đi đầu trong triển khai Nghị quyết 214/NQ-CP khi phối hợp với đối tác công nghệ FPT nhanh chóng hoàn thiện và đưa vào vận hành nền tảng thi hành án dân sự (THADS). Dự án này là minh chứng rõ nét cho việc hiện thực hóa các chủ trương về chuyển đổi số, hướng tới xây dựng ngành Tư pháp hiện đại, minh bạch và hiệu quả hơn.
Đáng chú ý, nhờ cơ chế triển khai linh hoạt, tiến độ dự án đã được rút ngắn đáng kể, các khâu xây dựng và vận hành không còn kéo dài nhiều năm mà được thực hiện nhanh gọn, bám sát nhu cầu thực tiễn. Đặc biệt, Nền tảng kết nối Trung tâm dữ liệu quốc gia, tích hợp dịch vụ công và VNeID để nộp án phí trực tuyến, tống đạt văn bản điện tử thay thế hoàn toàn phương thức thủ công.
Là đơn vị triển khai nền tảng THADS, ông Trương Gia Bình, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn FPT cho biết, quá trình triển khai được tổ chức với cường độ cao, song vẫn bảo đảm kỷ luật và tính hệ thống. Sau 6 tháng vận hành, hệ thống đã ghi nhận những kết quả bước đầu với hàng trăm nghìn biên lai điện tử được phát hành, hàng chục nghìn tỷ đồng được xử lý qua hệ thống số; toàn bộ quy trình ra quyết định thi hành án và nhiều hoạt động nghiệp vụ đã được thực hiện trên môi trường điện tử.
Không chỉ tạo ra những hiệu quả và năng suất công việc trong quản lý điều hành, việc vận hành, mà quan trọng hơn hết là mang lại tiện ích cho người dân, doanh nghiệp. Từ trường hợp này có thể thấy, khi cơ chế được thiết kế phù hợp và cách triển khai được đổi mới, chuyển đổi số không chỉ dừng ở chủ trương mà có thể tạo ra những kết quả cụ thể, đo đếm được trong thực tiễn.
Khi các rào cản về cơ chế được tháo gỡ một cách đồng bộ, chuyển đổi số hoàn toàn có thể tăng tốc mạnh mẽ trong giai đoạn tới. Những mô hình thành công như THADS không chỉ dừng lại ở một lĩnh vực cụ thể, mà có thể trở thành hình mẫu để nhân rộng sang các ngành khác như y tế, giáo dục, tài chính công hay quản lý đô thị.
Quan trọng hơn, việc triển khai thành công các cơ chế đột phá sẽ góp phần thay đổi tư duy quản lý – từ thận trọng quá mức sang chủ động đổi mới, từ bị động sang dẫn dắt. Đây chính là nền tảng để Việt Nam không chỉ bắt kịp mà còn có thể bứt phá trong tiến trình chuyển đổi số toàn cầu.