Gieo sạ đồng loạt, mở rộng diện tích lúa chất lượng cao
Chi cục trưởng Trồng trọt và Bảo vệ thực vật thành phố Cần Thơ Phạm Thị Minh Hiếu cho biết, thành phố đặt mục tiêu gieo trồng khoảng 272.000 ha lúa hè thu, sản lượng ước đạt 1,65 triệu tấn; tính đến ngày 22/5, đã gieo trồng được khoảng 190.000 ha (tương đương 70% diện tích).
Để bảo đảm năng suất, chất lượng, ngay từ đầu vụ, ngành nông nghiệp đã yêu cầu các địa phương phải bố trí mùa vụ trên cơ sở khung thời vụ của thành phố. Cùng với đó, kết hợp với biện pháp “xuống giống né rầy, đồng loạt, tập trung cho từng vùng, từng cánh đồng, lưu ý tình hình hạn đầu vụ”.
Vụ hè thu 2026, toàn tỉnh Vĩnh Long xuống giống khoảng 111.000 ha lúa. Khung thời vụ được chia làm bốn đợt linh hoạt, kéo dài từ giữa tháng 3 đến hết tháng 6, tùy theo nguồn nước từng vùng.
Về cơ cấu giống, lúa chất lượng cao chiếm đến 70% tổng diện tích; nhóm lúa thơm, đặc sản chiếm 5%; còn lại là các giống chất lượng trung bình phục vụ chế biến.
Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp Lê Chí Thiện cho biết, địa phương dự kiến xuống giống hơn 200.000 ha lúa hè thu (sản lượng ước đạt 1,42 triệu tấn) và 150.000 ha lúa thu (sản lượng ước đạt hơn 900.000 tấn).
Ngành nông nghiệp định hướng sản xuất theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và bền vững, trọng tâm là mở rộng các mô hình sản xuất lúa chất lượng cao, giảm phát thải.
Theo Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Nguyễn Quốc Mạnh, vụ hè thu và thu đông năm 2026, các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ dự kiến sản xuất khoảng 2,4 triệu héc-ta lúa.
Trong đó, diện tích áp dụng theo Đề án 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao, phát thải thấp khoảng 38.500 ha; đồng thời, hoàn thiện diện tích sản xuất 400.000ha lúa vùng đệm. Để bảo đảm thắng lợi, Cục yêu cầu các địa phương căn cứ lịch thời vụ chung, linh hoạt điều chỉnh khung lịch gieo sạ phù hợp thực tế nguồn nước từng vùng sinh thái.
Chủ động né rầy, tích trữ nước nội đồng
Để chủ động kế hoạch sản xuất, ổn định diện tích, nâng cao hiệu quả và bảo đảm mục tiêu tăng trưởng năm 2026, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật đề nghị Sở Nông nghiệp và Môi trường các tỉnh, thành phố vùng Đồng bằng sông Cửu Long theo dõi sát khung thời vụ.
Tại những khu vực sản xuất ba vụ cần xuống giống tập trung, kết thúc trước ngày 10/6. Vùng sản xuất hai vụ xuống giống trong tháng 5 và tháng 6, kết thúc chậm nhất ngày 20/6.
Cục cũng lưu ý các địa phương cần ưu tiên kết thúc gieo sạ sớm, hạn chế xuống giống muộn sau ngày 20/6 tại các vùng có nguy cơ thiếu nước cuối vụ; chủ động tích trữ nước nội đồng, vận hành linh hoạt hệ thống thủy lợi.
Quá trình xuống giống phải tập trung, đồng loạt, né rầy, tuyệt đối không kéo dài thời vụ hoặc xuống giống khi chưa bảo đảm điều kiện sản xuất.
Đối với các tỉnh vùng Đông Nam Bộ, vùng sản xuất ba vụ (Đồng Nai và Thành phố Hồ Chí Minh) cần bố trí gieo sạ lúa hè thu tập trung đến ngày 25/6, kết thúc chậm nhất trong ngày 30/6.
Riêng tại Tây Ninh, những diện tích đã gieo sạ từ tháng 2, cần tiếp tục xuống giống tập trung đến ngày 30/6 và hoàn thành trước ngày 10/7. Các địa phương trong khu vực cần ưu tiên cơ cấu giống ngắn ngày chịu hạn, áp dụng triệt để các biện pháp tưới tiết kiệm.
[Ảnh] Bộ đội Biên phòng Quảng Bình giúp đồng bào dân tộc thiểu số khu vực biên giới thu hoạch lúa "chạy mưa"
Về cơ cấu, nhóm giống lúa chủ lực gồm: OM6976, OM4900, OM6162, OM5451, ML48, Đài Thơm 8…; nhóm giống lúa bổ sung gồm: TH41, ML202, Jasmine 85, OM7347, Hương Châu 6…
Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật lưu ý, các địa phương hướng dẫn nhà nông giảm lượng giống gieo sạ xuống còn 70-80 kg/ha, tăng cường sử dụng giống lúa xác nhận và đẩy mạnh cơ giới hóa đồng bộ vào sản xuất, ứng dụng rộng rãi các quy trình tiên tiến như “1 phải 5 giảm”, “3 giảm 3 tăng”, tưới ngập khô xen kẽ (AWD).
Ngành chức năng cần theo dõi chặt chẽ diễn biến bẫy đèn và điều kiện khí tượng thủy văn để xác định lịch gieo sạ phù hợp theo từng tiểu vùng. Việc xuống giống phải tổ chức tập trung, đồng loạt và né rầy; tăng cường công tác dự báo sinh vật gây hại; thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, phát hiện sớm và xử lý kịp thời ngay từ diện hẹp, không để lây lan thành dịch trên diện rộng.
Các địa phương cũng cần đẩy mạnh áp dụng các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp (IPHM), công nghệ sinh thái; hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học, ưu tiên biện pháp sinh học an toàn.