Phát triển ngành than bền vững, hiệu quả

Theo chiến lược phát triển Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam (TKV) đến năm 2030, định hướng đến 2045 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, ngành than sẽ tập trung phát triển các mỏ hầm lò sản lượng lớn theo tiêu chí “Mỏ xanh, hiện đại, sản lượng cao, an toàn”.

Thợ lò Công ty Than Mạo Khê khai thác than hầm lò tại mức âm 230m. (Ảnh MẠNH HÙNG)
Thợ lò Công ty Than Mạo Khê khai thác than hầm lò tại mức âm 230m. (Ảnh MẠNH HÙNG)

Đồng thời liên thông các mỏ sản lượng thấp có điều kiện địa chất, hạ tầng phù hợp thành mỏ sản lượng lớn, khai thác theo hướng bền vững, hiệu quả,...

------------------

Hàng loạt dự án, công trình trọng điểm phát triển sản xuất quy mô lớn được TKV đầu tư thời gian qua không chỉ giúp nâng cao năng lực khai thác, chế biến than, mà còn góp phần hiện đại hóa sản xuất, nâng cao đời sống thợ mỏ.

“Chìa khóa” để tăng trưởng ổn định

Công ty Than Mạo Khê là đơn vị khai thác than hầm lò thuộc TKV, hiện có khoảng 3.900 cán bộ, công nhân viên, người lao động. Mỏ Mạo Khê là nơi khai thác than đầu tiên của ngành than Việt Nam (năm 1840, thời vua Minh Mạng). Ngày 15/11/1954, Chính phủ đã quyết định khôi phục mỏ Mạo Khê và ngày này trở thành ngày truyền thống hằng năm của công ty. Sau hơn 70 năm khôi phục và phát triển, mỏ Mạo Khê đã ghi dấu bước chân của khoảng 25.000 thợ mỏ; đào gần 1.000 km đường lò; khai thác hơn 70 triệu tấn than. Quá trình cơ giới hóa, hiện đại hóa sản xuất, từ năm 2022 đến nay, Mạo Khê đã đánh dấu mốc son mới khi khai thác đạt sản lượng hơn 2 triệu tấn than/năm.

Cần phải nói thêm rằng, mỏ Mạo Khê có nhiều yếu tố đặc thù, bất lợi cho sản xuất như đang khai thác xuống sâu tới mức âm 230m và chuẩn bị các diện khai thác mức âm 400m, áp lực mỏ rất lớn. Ông Bùi Sơn Tùng, Phó Trưởng phòng Kỹ thuật công ty cho biết: Mỏ có địa chất phức tạp, vách trụ vỉa yếu, xếp loại “siêu hạng” về khí mê-tan (CH4), nguy cơ cháy nội sinh và bục nước cao, việc đào lò, khai thác cũng như duy trì ổn định mỏ gặp nhiều khó khăn. Đó còn chưa kể tới địa hình mỏ dưới hai suối Văn Lôi và Non Đông, quá trình khai thác thông lên bề mặt, bị ngấm nước, chảy trực tiếp xuống các diện khai thác bên dưới.

Hiện nay, công ty đang thực hiện ba dự án khai thác, gồm dự án khai thác lộ thiên (công suất 250.000 tấn/năm), đến hết năm 2030 thì kết thúc; dự án đầu tư mở rộng sản xuất (công suất 1,6 triệu tấn/năm), kết thúc năm 2030. Để duy trì sản xuất ổn định, bền vững, công ty đang triển khai dự án khai thác hầm lò xuống sâu từ mức âm 150m đến âm 400m, công suất 2 triệu tấn/năm, dự kiến hết năm 2026 hoàn thành xây dựng cơ bản và từ năm 2028, sẽ đạt công suất thiết kế 2 triệu tấn/năm. Kèm theo đó, công ty đã lập các dự án liên quan môi trường, tự động hóa tuyến băng tải, trạm quạt,… nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, bảo vệ môi trường.

Năm 2025, Mạo Khê được TKV giao sản lượng khai thác 2,5 triệu tấn than. Trong tám tháng qua, sản lượng khai thác của công ty đã đạt gần 70% kế hoạch; doanh thu trước thuế 2.544 tỷ đồng; lương bình quân người lao động đạt 21,6 triệu đồng/người/tháng (cao hơn mức kế hoạch khoảng 1 triệu đồng).

“Tại vỉa 7, công ty đang nghiên cứu áp dụng cơ giới hóa ở vỉa dốc thoải không thu hồi than hạ trần, sử dụng giàn chống, máy khấu. Ngoài ra, tại một số vị trí khác, công ty sẽ tiếp tục nghiên cứu, áp dụng công nghệ cơ giới hóa tại những vỉa dốc hơn 350, sử dụng máy khấu (không thu hồi than hạ trần) hoặc nơi vỉa dốc thoải dày (có thu hồi than hạ trần). Cơ giới hóa đạt hiệu quả cao đối với vỉa thoải dày, tuy nhiên điểm bất lợi ở Mạo Khê là phương vỉa không đồng đều, do vậy việc tổ chức khai thác, áp dụng cơ giới hóa phải nghiên cứu kỹ càng; cũng như triển khai các biện pháp chống giữ, phòng bục nước, cháy nổ khí và cháy nội sinh”, ông Tùng cho biết.

Năm 2025, Mạo Khê được TKV giao sản lượng khai thác 2,5 triệu tấn than. Trong tám tháng qua, sản lượng khai thác của công ty đã đạt gần 70% kế hoạch; doanh thu trước thuế 2.544 tỷ đồng; lương bình quân người lao động đạt 21,6 triệu đồng/người/tháng (cao hơn mức kế hoạch khoảng 1 triệu đồng).

Tại phân xưởng Khai thác 1, anh Hoàng Đức Thành, Tổ trưởng Lò chợ số 1 cho biết, anh đã có 16 năm công tác tại công ty, năm 2024 vinh dự đạt danh hiệu Thợ mỏ có thu nhập cao ở cấp tập đoàn. Anh đã đưa vợ con từ Hưng Yên ra Quảng Ninh, được công ty hỗ trợ cho ở nhà tập thể không thu tiền. Gương Lò chợ số 1 hay bị sạt trượt, khó neo chống, nhưng 22 thành viên trong tổ của anh vẫn khắc phục khó khăn, khai thác đạt khoảng 500 tấn than/ngày, thu nhập bình quân người lao động của tổ đạt 25 triệu đồng, có tháng năng suất cao lên tới 30 triệu đồng. Công ty rất quan tâm người lao động, giữa ca có bánh sữa, giải khát, hết ca sản xuất được ăn búp-phê tự chọn rồi mới lên xe về nhà.

Động lực mới phát triển bền vững

Ngày 19/8 vừa qua, dự án khai thác hầm lò phần mở rộng Hà Ráng (Công ty Than Hòn Gai) là một trong 80 dự án tiêu biểu, nằm trong số 250 dự án đồng loạt khởi công, khánh thành đúng dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9. Trưởng phòng Đầu tư (Công ty Than Hòn Gai) Vũ Văn Đức đánh giá, theo quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia, dự án Hà Ráng cần ra than trong giai đoạn 2021-2030, nhằm tận thu hiệu quả nguồn trữ lượng đã thăm dò, duy trì sản lượng ổn định, đáp ứng nhu cầu than cho nền kinh tế, bảo đảm việc làm, thu nhập cho người lao động.

Dự án có tổng mức đầu tư 1.413 tỷ đồng, quy mô trữ lượng công nghiệp 11,85 triệu tấn than nguyên khai, công suất 900.000 tấn/năm trong 17 năm khai thác ở mức từ âm 50m đến âm 250m.

Tại hiện trường dự án, ông Nhữ Văn Lực, Quản đốc, Trưởng Trung tâm Điều hành sản xuất khu mỏ Hà Ráng cho biết: Hiện tại, công trường triển khai đồng thời ba mũi đào lò xây dựng cơ bản, chia thành ba ca; trong đó, mũi 1 gồm 40-45 người, thi công ở mức từ âm 137 đến âm 269m, mũi 2 gồm 40-42 người, thi công ở mức từ âm 100 đến âm 250m, mũi 3 gồm 25 người, thi công ở mức từ dương 50m xuống mức âm 100m. Phấn đấu dự án đạt bình quân từ 180 đến 200m lò/tháng, sau bốn năm sẽ hoàn thành 11.669m đường lò xây dựng cơ bản.

Ông Lê Trung Toán, Giám đốc Công ty cho biết: Theo tính toán, đến quý I/2028, lò chợ đầu tiên sẽ được đưa vào khai thác, đóng góp cho ngân sách mỗi năm khoảng 230 tỷ đồng. Công ty sẽ đầu tư, hoàn thành hệ thống xử lý nước thải hầm lò công suất 900 m³/giờ trước khi đưa dự án vào khai thác và tận dụng hạ tầng sẵn có như nhà điều hành, nhà đèn, hệ thống băng tải vận chuyển, đường lò,… của mỏ Hà Ráng trước đây, giúp tiết kiệm chi phí gần 500 tỷ đồng.

Theo tính toán, đến quý I/2028, lò chợ đầu tiên sẽ được đưa vào khai thác, đóng góp cho ngân sách mỗi năm khoảng 230 tỷ đồng. Công ty sẽ đầu tư, hoàn thành hệ thống xử lý nước thải hầm lò công suất 900 m³/giờ trước khi đưa dự án vào khai thác và tận dụng hạ tầng sẵn có như nhà điều hành, nhà đèn, hệ thống băng tải vận chuyển, đường lò,… của mỏ Hà Ráng trước đây, giúp tiết kiệm chi phí gần 500 tỷ đồng.

Ông Lê Trung Toán, Giám đốc Công ty Công ty Than Hòn Gai

“Tuy nhiên, đây mới chỉ là bước đệm. Hiện công ty đang chuẩn bị triển khai đề án khoan thăm dò tại mỏ Suối Lại và Hà Ráng, dự kiến sẽ hoàn thành khảo sát trong năm 2025 và lập báo cáo, chuẩn bị đầu tư dự án liên thông, kết nối ba mỏ Hà Ráng-Suối Lại-Bình Minh, phấn đấu khởi công vào năm 2030, phát triển xuống sâu đến mức âm 500m, công suất 2,5 triệu tấn/năm, trữ lượng công nghiệp 60 triệu tấn. Dự án này có ý nghĩa chiến lược, khẳng định tầm nhìn dài hạn trong việc nâng cao năng lực sản xuất, bảo đảm sự phát triển lâu dài, ổn định của Than Hòn Gai”, ông Toán nhấn mạnh.

Tổng Giám đốc Tập đoàn TKV Vũ Anh Tuấn nhận định: Công tác đầu tư, phát triển sản xuất luôn được TKV xác định giữ vai trò then chốt. Năm 2025, TKV triển khai kế hoạch đầu tư với tổng giá trị 11.000 tỷ đồng; trong đó công nghiệp than gần 8.050 tỷ đồng. Tập đoàn phấn đấu triển khai đúng tiến độ các dự án đầu tư mỏ mới, đổi mới công nghệ, với mục tiêu đạt sản lượng 48-50 triệu tấn than vào năm 2030. Các dự án trọng điểm đã và đang phát huy hiệu quả cao, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng, ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy phát triển công nghiệp, tạo đà để TKV phát triển bền vững.

Có thể bạn quan tâm

Thi công bên trong nhà ga hành khách sân bay Long Thành.

Dự kiến vận hành thương mại sân bay Long Thành vào cuối tháng 12 năm nay

Sau khi thị sát công trường, trưa 4/10, đồng chí Phạm Gia Túc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ cùng Đoàn công tác đã có cuộc làm việc với các bộ, ngành, đơn vị, địa phương liên quan về tiến độ Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành, để khai thác thương mại vào cuối tháng 12 tới theo dự kiến.

Bà Nguyễn Thị Mai Hạnh, Trưởng ban Hệ thống Tài khoản quốc gia, Cục Thống kê. (Ảnh: PV)

Tăng tốc để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP cả năm từ 10%

Trao đổi với báo chí về kết quả tăng trưởng GDP, bà Nguyễn Thị Mai Hạnh, Trưởng ban Hệ thống Tài khoản quốc gia, Cục Thống kê nhấn mạnh: Để về đích với mục tiêu từ 10% theo Nghị quyết của Quốc hội, quý IV đối mặt áp lực tăng trưởng rất lớn, đòi hỏi các nguồn lực phải nhanh chóng chuyển hóa thành sản lượng và giá trị thực tế.

Chính sách tài chính góp phần giảm chi phí, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển sản xuất, kinh doanh. (Ảnh: MP)

Giảm chi phí, khơi thông nguồn lực cho doanh nghiệp

Bước vào quý IV, hỗ trợ doanh nghiệp đặt ra yêu cầu đồng thời giảm áp lực tài chính và tháo gỡ vướng mắc trong thực thi chính sách. Các giải pháp thuế, cải cách thủ tục và đẩy nhanh đầu tư công cần được cụ thể hóa bằng nguồn lực doanh nghiệp có thể sử dụng, thời gian và chi phí thực tế được tiết giảm.

Dược sĩ Nguyễn Thanh Tuyền (bên trái) cùng công nhân kiểm tra cây trà hoa vàng. (Ảnh: XUÂN KỲ)

Gắn nghiên cứu với bảo tồn dược liệu

Ngày 2/10, dược sĩ Nguyễn Thanh Tuyền, Phó Giám đốc phụ trách Hợp tác xã Bảo tồn và Phát triển Dược liệu Sóc Sơn, được Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tôn vinh “Nhà khoa học của nhà nông” lần thứ VII, năm 2026. 

Sản xuất bảng mạch, thiết bị bảng mạch điện tử ở Công ty Trách nhiệm hữu hạn Doosan Electro-Materials Việt Nam (FDI Hàn Quốc) tại thành phố Hải Phòng. (Ảnh: ĐĂNG ANH)

Tăng trưởng GDP tiệm cận mục tiêu cả năm

Nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng cao nhờ các động lực tăng trưởng truyền thống là đầu tư công, xuất khẩu-công nghiệp; dịch vụ. Bên cạnh đó, các động lực tăng trưởng mới, gồm khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế số đang được thúc đẩy mạnh mẽ hơn, có tác dụng hỗ trợ cho tăng trưởng.

Du khách mua nem và các sản phẩm tại cơ sở nem Hoàng Khánh, xã Lai Vung. (Ảnh: MỸ HÀ)

Đất sen hồng xây thương hiệu nghề truyền thống

Một chiếc nem nhỏ, gói trong lá chuối, mang vị chua thanh, chút cay nồng của tỏi ớt và độ giòn dai đã đi một hành trình hơn 65 năm để trở thành đặc sản nổi tiếng của tỉnh Đồng Tháp. Từ một món ăn dân dã, nghề thủ công truyền thống làm nem Lai Vung dần hình thành và trở thành Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Rừng đước nguyên sinh ở Cà Mau. (Ảnh: TRẦN THƯỜNG)

Chú trọng bảo vệ và nâng cao chất lượng rừng

Những năm 90 của thế kỷ trước, những cánh rừng nhiệt đới bạt ngàn trên khắp đất nước ta bị sụt giảm nghiêm trọng. Thế nhưng, bằng những nỗ lực không ngừng nghỉ, Việt Nam không chỉ phục hồi diện tích rừng đã mất mà còn từng bước xây dựng ngành kinh tế lâm nghiệp theo hướng bền vững.

Giàn khoan dầu khí ngoài biển của Petrovietnam. (Ảnh: HIỀN ANH)

Petrovietnam gia tăng trữ lượng hơn 75,7 triệu tấn dầu giai đoạn 2021-2025

Giai đoạn 2026-2030, trên cơ sở nhận định những thuận lợi, thách thức hoạt động thăm dò, khai thác, Petrovietnam định hướng tiếp tục phát triển, kết nối các mỏ nhỏ với hạ tầng sẵn có; triển khai các chính sách khuyến khích đối với mỏ cận biên và giải pháp nâng cao hệ số thu hồi dầu (EOR),... qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động.

Doanh nghiệp chuyển phát nhanh thực hiện khai báo và nộp thay thuế cho chủ hàng theo quy định. (Ảnh: CHQ)

Chuẩn hóa khai báo hải quan với hàng chuyển phát nhanh

Từ ngày 16/11/2026, thủ tục hải quan đối với hàng bưu chính, chuyển phát nhanh quốc tế có thêm yêu cầu định danh, xác thực điện tử và điều chỉnh cơ chế nộp thay thuế, phí. Những thay đổi đặt ra yêu cầu chuẩn bị đồng bộ về thông tin khai báo, phối hợp chủ hàng và thực hiện nghĩa vụ tài chính.

Trạm thu phí cao tốc không dừng cao tốc bắc-nam phía đông ứng dụng công nghệ AI thu phí tự động, không cần nhân viên thu phí như trước đây.

Cao tốc bắc-nam phía đông tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trên hành lang vận tải bắc-nam

Theo Cục Đường bộ Việt Nam, lưu lượng phương tiện trên cao tốc bắc-nam phía đông trong tháng 9/2026 giảm so tháng 8, chủ yếu do yếu tố mùa vụ. Tuy nhiên, so với mức bình quân trong 7 tháng triển khai thu phí, lưu lượng trên cao tốc vẫn tăng 3,7%, cho thấy tuyến đường tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trên hành lang vận tải bắc-nam.

Dây chuyền sản xuất hiện đại của Công ty TNHH dệt kim Bangjie Việt Nam, khu công nghiệp dệt may Phố Nối, tỉnh Hưng Yên. (Ảnh: Phạm Hà)

Hưng Yên tăng trưởng kinh tế hơn 11%

Theo thống kê tỉnh Hưng Yên, GRDP 9 tháng đầu năm của tỉnh Hưng Yên ước tính tăng 11,22%; tăng trưởng kinh tế tiếp tục duy trì xu hướng quý sau cao hơn quý trước (quý I tăng 10,59%, quý II tăng 11,00%).

Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ theo mô hình kinh tế xanh. (Ảnh: CAO TÂN)

Kinh tế tuần hoàn, động lực chuyển đổi xanh

Trước yêu cầu thúc đẩy tăng trưởng xanh và giảm phát thải khí nhà kính, kinh tế tuần hoàn đang trở thành một định hướng phát triển có ý nghĩa chiến lược đối với Thành phố Hồ Chí Minh. Không chỉ là giải pháp quản lý môi trường, kinh tế tuần hoàn ngày càng trở thành một yếu tố quan trọng của đổi mới mô hình tăng trưởng đổi xanh.