Phát triển ngành dược phẩm phát minh

Ở thời điểm hiện tại, ngành y tế đang gặp phải những vấn đề nóng như thiếu thuốc, trang thiết bị, vật tư y tế... Điều này cho thấy tính cấp thiết phải đầu tư phát triển ngành dược phẩm phát minh.
Cần tạo điều kiện để các doanh nghiệp sản xuất thuốc phát minh được hưởng ưu đãi như doanh nghiệp công nghệ cao. Ảnh: MINH LÊ
Cần tạo điều kiện để các doanh nghiệp sản xuất thuốc phát minh được hưởng ưu đãi như doanh nghiệp công nghệ cao. Ảnh: MINH LÊ

Theo báo cáo mới nhất của Công ty kiểm toán KPMG về “Đánh giá các tác động kinh tế và xã hội của ngành dược phẩm phát minh đối với Việt Nam” thì trong ngành công nghiệp dược phẩm, dược phẩm phát minh ước tính đã đóng góp 1,16 tỷ USD vào GDP năm 2021, cùng với tốc độ tăng trưởng hằng năm có thể lên đến 10% trong thời gian tới. Con số này bao gồm 350 triệu USD giá trị được tạo ra trực tiếp, cộng thêm 410 triệu USD đóng góp gián tiếp thông qua các giao dịch giữa các doanh nghiệp với nhau, như chi tiêu cho nguyên liệu thô, hoạt động hậu cần, bán hàng và tiếp thị. Khoảng 400 triệu USD còn lại được ghi nhận thông qua các chi tiêu của người lao động trong ngành này.

Với hiện trạng thiếu thuốc chữa bệnh hiện nay, vai trò của ngành dược phẩm phát minh càng đóng vai trò quan trọng. Đặc biệt, sau những tác động của đại dịch Covid-19, trong khi các quốc gia khác vẫn đang phải nỗ lực khắc phục hậu quả, thì Việt Nam đang có cơ hội để khẳng định vị thế trở thành trung tâm phát triển dược phẩm phát minh tại khu vực Đông Nam Á, từ đó khai phá những giá trị về kinh tế và xã hội cho người dân nói chung và nền công nghiệp dược phẩm nói riêng.

Đối với ngành dược phẩm nói chung, ngày 12/3/2021, Chính phủ đã ra Quyết định: Phê duyệt chương trình phát triển công nghiệp dược, dược liệu sản xuất trong nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Trong đó, xác định ngành dược phẩm là ngành công nghiệp chủ chốt trong việc phát triển kinh tế và tạo ra phúc lợi cho người dân trong tương lai. Các mục tiêu chính trong chương trình bao gồm: “Đến năm 2025: Thuốc sản xuất trong nước đạt 75% số lượng sử dụng và 60% giá trị thị trường, tỷ lệ sử dụng dược liệu nguồn gốc trong nước, thuốc dược liệu tăng thêm ít nhất 10% so với năm 2020; đến năm 2030: Thuốc sản xuất trong nước đạt khoảng 80% số lượng sử dụng và 70% giá trị thị trường, tỷ lệ sử dụng dược liệu nguồn gốc trong nước, thuốc dược liệu tăng thêm ít nhất 30% so với năm 2020; và đến năm 2045: Tổng giá trị ngành công nghiệp dược đóng góp vào GDP trên 20 tỷ USD”.

Để đạt được những mục tiêu đó, Chính phủ đã ban hành nhiều mục tiêu kinh tế vĩ mô và mục tiêu ngành trong Nghị quyết số 02/NQ-CP; Chiến lược Quốc gia phát triển ngành dược Việt Nam giai đoạn đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 (Quyết định số 68/ QĐ-TTg); và Phê duyệt Chương trình Sức khỏe Việt Nam (Quyết định số 1092/QĐ-TTg). Theo Nghị quyết số 02/NQ-CP4, Chính phủ đặt mục tiêu cải thiện môi trường kinh doanh trong nước và khả năng cạnh tranh để lọt vào nhóm bốn quốc gia hàng đầu ASEAN.

Để hiện thực hóa tiềm năng tăng trưởng của ngành dược phẩm nói chung, ngành dược phẩm phát minh nói riêng và đạt được các mục tiêu cả trong ngắn hạn và dài hạn, các lãnh đạo công ty trong ngành dược phẩm đều cho rằng việc đầu tư vào thị trường Việt Nam có nhiều triển vọng tích cực. Tuy nhiên, việc thiếu tầm nhìn rõ ràng về sự phát triển ngành và một khuôn khổ nhất quán hoạt động tầm quốc gia đã khiến việc thuyết phục nhà đầu tư và các bên liên quan về các cơ hội mở rộng hoạt động và đầu tư tại Việt Nam thêm khó khăn. Trong đó, những hoạt động trọng tâm mang tính thách thức là: thử nghiệm lâm sàng, tài chính y tế, tiếp cận dược phẩm phát minh, chính sách cho các nhà sản xuất trong nước và việc chuyển giao công nghệ, hợp tác công - tư, đăng ký thành lập pháp nhân, giáo dục và phát triển nguồn nhân lực, chương trình hỗ trợ bệnh nhân.

Giải quyết những thách thức trọng yếu này sẽ hỗ trợ Chính phủ đạt được mục tiêu của Chiến lược quốc gia. Những thách thức mà Việt Nam đang phải đối mặt không phải là duy nhất và đã được các quốc gia khác trải qua ở các giai đoạn phát triển tương tự trên khắp thế giới. Theo báo cáo của KPGM, trên toàn cầu, một số nước với mức thu nhập trung bình đã ưu tiên phát triển ngành dược như một phần của chiến lược phát triển quốc gia. Các quốc gia này phần lớn được phân thành hai nhóm chính dựa vào nguồn vốn sử dụng cho việc phát triển là nhóm “Dựa trên nguồn lực trong nước” và nhóm “Dựa trên vốn FDI”. Và Việt Nam được đánh giá là có những đặc điểm tương tự như các quốc gia thuộc nhóm “Dựa trên FDI”, có thể học tập kinh nghiệm từ ba quốc gia có thị trường dược phẩm phát triển là Singapore, Hàn Quốc và Ireland.

Đây là ba thị trường “Dựa trên vốn FDI” thành công có đặc tính chung như sau: Tầm nhìn quốc gia: Ưu tiên ngành công nghiệp dược phẩm trong lộ trình phát triển quốc gia; Khuôn khổ pháp lý nhất quán: có khuôn khổ pháp lý, quy định chung và các tổ chức chuyên ngành để thu hút đầu tư nước ngoài và bảo đảm kiểm soát chất lượng; Cơ chế tài trợ trung ương: cung cấp vốn để hỗ trợ nghiên cứu và phát triển để cải tiến ngành y tế; Thành lập các cụm tổ chức và tăng cường hợp tác: thúc đẩy sự hợp tác giữa các cơ quan chính phủ, doanh nghiệp tư nhân, các tổ chức nghiên cứu và giáo dục đại học; Giáo dục và đào tạo liên tục: Tăng cường kiến thức cho đội ngũ dược sĩ và nguồn nhân lực lành nghề để tăng cường năng lực trong nước. Tham khảo và thực hiện hóa được những bài học từ các quốc gia này, Việt Nam có thể phát triển ngành dược nội địa một cách vượt bậc.

Riêng đối với ngành dược phẩm phát minh, nếu phát triển thành công sẽ tăng thêm 26,8-99,3 tỷ USD sản lượng trong năm 2045. Trong đó, Chính phủ, ngành và bệnh nhân đều nhận được nhiều lợi ích.

Đối với bệnh nhân: Được tăng cường khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế và dược phẩm phát minh; được tiếp cận nhiều hơn các chương trình hỗ trợ bệnh nhân; dịch vụ y tế cũng được cải thiện qua tăng cường các dược phẩm phát minh nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện hữu.

Đối với ngành dược phẩm: Được tăng cường năng lực nguồn nhân lực y tế thông qua các hoạt động giáo dục y khoa thường xuyên, bao gồm các phương pháp điều trị mới; ngành dược phẩm trong nước có tiềm năng đóng góp thêm vào GDP; tăng số lượng công ty khởi nghiệp trong ngành.

Đối với Chính phủ: Về hợp tác công - tư, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp có thể bảo đảm bền vững hệ thống tài chính y tế; trực tiếp hoặc gián tiếp tạo ra 199.500 đến 609.000 việc làm trong năm 2045; tăng cường nghiên cứu và phát triển trong nước, thu hút hơn 2-5% đầu tư nghiên cứu phát triển từ các công ty dược phẩm phát minh; thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài và tăng lượng thuế thu được từ các công ty nước ngoài; về thử nghiệm lâm sàng sẽ thúc đẩy GDP thông qua vốn FDI, đồng thời trở thành trung tâm phát minh trong khu vực thông qua thử nghiệm lâm sàng.

Từ những lợi ích tiềm năng của ngành dược phẩm phát minh, KPMG đưa ra sáu đề xuất, trong đó trọng yếu nhất là đề xuất thiết lập một khuôn khổ pháp lý toàn diện và thành lập các bộ phận hỗ trợ chuyên ngành. Cụ thể, những vấn đề cần giải quyết bao gồm: Thiết lập thể chế và lực lượng chuyên trách để phát triển ngành dược. Gia tăng quyền hạn cho lực lượng hiện tại để đáp ứng cho sự phát triển của ngành; Quy định pháp luật nhất quán và có khả năng tiên liệu nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đưa ra các quyết định quan trọng trong quá trình hiện thực hóa tiềm năng phát triển của quốc gia; Tập trung vào việc phát triển chất lượng ổn định cho dược phẩm hơn là sản lượng thành phẩm; Tăng cường tính hiệu quả của các thủ tục hành chính; Xây dựng khuôn khổ pháp lý rõ ràng và chi tiết hơn về hình thức đối tác công - tư và cuối cùng là Tăng cường bảo vệ sở hữu trí tuệ.

Có thể bạn quan tâm

Nhiều ngân hàng thương mại đã công bố các chương trình tín dụng ưu đãi. Ảnh: NAM ANH

Giảm lãi suất, thúc đẩy kinh tế

Hàng loạt ngân hàng công bố giảm lãi suất cho vay. Chi phí vốn hạ được kỳ vọng giúp doanh nghiệp bớt áp lực. Tuy nhiên, như vậy đã đủ để doanh nghiệp mạnh dạn vay thêm và mở rộng kinh doanh?

Từ đầu tháng 10, các phiên giảm điểm chiếm ưu thế áp đảo.

VN-Index lùi về vùng chọn lọc

Thị trường chứng khoán liên tục chịu nhiều sức ép khiến chỉ số VN-Index liên tục giảm điểm. Dù vậy, mức định giá của thị trường đã lùi về vùng hấp dẫn, mở ra cơ hội chọn lọc dài hạn cho nhà đầu tư.

Kết thúc phiên 14/10, VN-Index giảm 14,55 điểm, xuống 1.704,87 điểm. Ảnh: NAM ANH

Lãi suất níu chân dòng tiền chứng khoán

Thị trường chứng khoán tiếp tục giảm sau khi Việt Nam chính thức được FTSE Russell nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp. Trong khi dòng vốn từ nâng hạng cần thời gian để giải ngân, lãi suất tiền gửi hấp dẫn và chi phí vay cao đang tác động trực tiếp đến quyết định đầu tư.

Những doanh nghiệp vay ngoại tệ sẽ chịu áp lực trả nợ một khi tỷ giá tăng. Ảnh: NAM ANH

Doanh nghiệp ứng phó với tỷ giá

Dù đối diện với những biến động phức tạp của kinh tế thế giới cùng xu hướng siết chặt chính sách tiền tệ tại nhiều quốc gia, tỷ giá USD/VND trong nước vẫn giữ vững đà ổn định nhờ sự điều hành chủ động, linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Niềm tin của nhà đầu tư được củng cố bằng chuyển biến thực tế, thay vì chỉ dựa vào vài phiên thanh khoản tăng mạnh. Ảnh: NAM ANH

Phía sau dòng tiền “giải cứu” giá cổ phiếu

Những pha “giải cứu” giá cổ phiếu sau chuỗi ngày giảm mạnh có thể mở lối ra cho người bán và tạo kỳ vọng cho người mua. Nhưng để cổ phiếu phục hồi bền vững, doanh nghiệp còn phải giải quyết những vấn đề về dòng tiền, lợi nhuận và niềm tin thị trường.

Nhiều ngân hàng thông qua chủ trương thành lập ngân hàng con 100% vốn tại VIFC. Ảnh: NAM ANH

Cuộc đua mới tại Trung tâm Tài chính quốc tế

Kế hoạch thành lập ngân hàng con tại Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam của MSB và nhiều ngân hàng khác đang mở ra khả năng xuất hiện thêm các ngân hàng mới. Xu hướng này đi đến đâu còn phụ thuộc điều kiện cấp phép, năng lực tài chính và khả năng thu hút khách hàng của từng ngân hàng.

Giá trị trái phiếu phát hành của ngành bất động sản tăng đáng kể trong quý II. Ảnh: NAM ANH

Mở rộng dư địa vốn từ trái phiếu doanh nghiệp

Thị trường trái phiếu doanh nghiệp là kênh huy động vốn quan trọng của nền kinh tế. Bước vào chu kỳ phát triển mới, thị trường cần tăng minh bạch, nâng chất lượng xếp hạng tín nhiệm, mở rộng nhà đầu tư và kiểm soát rủi ro để phát triển bền vững.

Lãi suất ưu đãi vay mua nhà tại 17 ngân hàng hiện dao động từ 7-13,2%/năm. Ảnh: NAM HẢI

Ngân hàng cũng “mắc kẹt” với lãi vay

Lãi cho vay tăng chưa đồng nghĩa ngân hàng hưởng chênh lệch lớn hơn. Lợi nhuận cao cũng chưa đủ để kết luận còn nhiều dư địa giảm lãi suất. Khả năng chia sẻ chi phí với người vay phụ thuộc vào giá vốn huy động, cơ cấu nguồn thu và rủi ro tín dụng của từng ngân hàng.

Nhà đầu tư nên đa dạng hóa danh mục, ưu tiên doanh nghiệp có triển vọng tăng trưởng bền vững. Ảnh: NAM ANH

Nâng hạng chứng khoán và bài toán mua theo kỳ vọng

Nâng hạng thị trường chứng khoán mở thêm cơ hội thu hút vốn quốc tế, nhưng không bảo đảm lợi nhuận cho từng khoản đầu tư. Với nhà đầu tư cá nhân, điều cần làm rõ không chỉ là quỹ nước ngoài mua cổ phiếu nào, mà còn là giá mua và cơ sở để tiếp tục nắm giữ.

Robot hàn chíp điện tử được các doanh nghiệp quan tâm. Ảnh: NAM ANH

Bài toán vốn của doanh nghiệp điện tử

Muốn có đơn hàng thì phải đầu tư dây chuyền. Muốn đầu tư dây chuyền lại phải có đơn hàng. Vòng luẩn quẩn ấy đang giữ nhiều doanh nghiệp điện tử Việt đứng ngoài chuỗi cung ứng, trong khi cuộc đua bán dẫn đòi hỏi nguồn vốn ngày càng lớn.

Theo Thông tư 49, Nhà nước chia sẻ rủi ro, đồng thời huy động nguồn lực xã hội cho nghiên cứu khoa học. Ảnh: NAM ANH

Cơ chế tài chính mới mở đường cho công nghệ chiến lược

Thông tư 49/2026/TT-BKHCN mở ra cách tiếp cận mới trong cơ chế tài chính cho khoa học, chuyển từ quản lý đầu vào sang quản lý theo kết quả. Cơ chế này tăng quyền tự chủ, giảm gánh nặng thủ tục và tạo dư địa đầu tư cho các công nghệ chiến lược có độ rủi ro cao.

Ở nhiều vùng sâu, vùng xa, người dân vẫn quen với các giao dịch bằng tiền mặt.

Ngoại lệ của tiền mặt

Cho phép doanh nghiệp trả lương bằng tiền mặt tại vùng khó khăn là một sự điều chỉnh cần thiết khi hạ tầng ngân hàng chưa theo kịp đời sống. Tuy nhiên, ngoại lệ này chỉ thật sự hợp lý nếu vừa bảo vệ được quyền lợi của người lao động, vừa giúp doanh nghiệp chứng minh chi phí hợp pháp, đồng thời không tạo thêm khoảng trống để kê khống, trốn thuế.

Cá ngừ đóng hộp và các sản phẩm đông lạnh tiêu chuẩn chịu nhiều áp lực cạnh tranh. Ảnh: NAM ANH

Xuất khẩu chật vật giữ đơn hàng

Xuất khẩu tiếp tục lập kỷ lục, nhưng doanh nghiệp đang đứng trước sức ép ngày càng lớn từ chính sách thuế mới của Mỹ. Bài toán giữ đơn hàng và duy trì sức cạnh tranh ngày càng khó khăn.

Câu chuyện nâng hạng thị trường tiếp tục là chất xúc tác trung hạn quan trọng. Ảnh: NGUYỆT ANH

Thị trường giằng co, cơ hội vẫn hiện diện

Thị trường chứng khoán đang bước vào giai đoạn giằng co khi thanh khoản suy yếu và chi phí vốn tiếp tục gây sức ép. Dù vậy, định giá hấp dẫn, tăng trưởng lợi nhuận doanh nghiệp và câu chuyện nâng hạng vẫn được xem là những động lực đáng chú ý cho giai đoạn tới.

Thị trường vàng cần tiến thêm một bước từ truy vết giao dịch sang truy xuất sản phẩm.

Thị trường vàng cần sự cân bằng bền vững

Sau nhiều năm, khoảng cách giá vàng trong nước và thế giới đã thu hẹp về mức dưới 5 triệu đồng/lượng. Tuy nhiên, chưa thể chỉ dựa vào mức chênh lệch thu hẹp để kết luận thị trường đã hoàn toàn lành mạnh. Một trạng thái thị trường cân bằng bền vững còn là vận hành sát hơn với giá trị thật và giảm bớt tác động lên các cân đối lớn của nền kinh tế.

HDBank gia nhập nhóm ngân hàng quy mô tài sản hơn 1 triệu tỷ đồng

HDBank gia nhập nhóm ngân hàng quy mô tài sản hơn 1 triệu tỷ đồng

Vượt mốc 1 triệu tỷ đồng tổng tài sản, duy trì hiệu quả sinh lời thuộc nhóm dẫn đầu và liên tiếp được các tổ chức tài chính quốc tế ghi nhận, HDBank đang cho thấy bước chuyển rõ nét về chất lượng tăng trưởng. Mới đây, ngân hàng được Vietnam Report xếp hạng dẫn đầu Top 50 công ty đại chúng uy tín và hiệu quả năm 2026 (VIX50).

Thị trường cổ phiếu giúp doanh nghiệp gia tăng đệm vốn tự có và nâng cao khả năng chống chịu trước các biến động tài chính. Ảnh: NAM ANH

Giảm áp lực tín dụng ngân hàng

Tốc độ tăng trưởng tín dụng vượt xa huy động tiền gửi đang tạo ra áp lực thanh khoản lớn cho hệ thống ngân hàng. Thực tế này buộc nền kinh tế phải chuyển dịch sang cấu trúc tài chính đa tầng, phát triển thị trường trái phiếu, cổ phiếu và các kênh đầu tư xanh nhằm giảm tải cho tín dụng ngắn hạn và khơi thông nguồn vốn dài hạn bền vững.

Việc nâng hạng lên thị trường chứng khoán mới nổi là môi trường thuận lợi cho cả đầu tư dài hạn lẫn giao dịch ngắn hạn. Ảnh: NAM ANH

Chứng khoán đem cơ hội cho tích lũy

Diễn biến thận trọng cùng sự phân hóa sâu sắc của VN-Index thời gian qua đang phản ánh rõ tâm lý phòng thủ của giới đầu tư. Các chuyên gia nhận định thị trường chứng khoán hiện tại đã lùi về vùng định giá hấp dẫn, mở ra cơ hội đầu tư trong dài hạn.

Khả năng tiếp cận nguồn vốn mới của nhóm doanh nghiệp bất động sản sẽ tiếp tục gặp nhiều thách thức. Ảnh: NGUYỆT ANH

Bài kiểm tra của doanh nghiệp bất động sản

Khi nguồn vốn không còn rẻ, doanh nghiệp buộc phải chấp nhận chi phí tài chính cao hơn để đổi lấy khả năng huy động vốn. Điều đó cũng đồng nghĩa chỉ doanh nghiệp có dòng tiền đủ mạnh và dự án hiệu quả mới có thể “sống khỏe”.

Không gian Thế giới kim cương tại các trung tâm thương mại lớn ở Thành phố Hồ Chí Minh.

“Vùng trũng” quản lý tài sản có giá trị

Kim cương có giá trị hàng trăm triệu đến vài tỷ đồng, thậm chí được xem như một kênh tích trữ, nhưng vẫn được giao dịch trong một thị trường thiếu tiêu chuẩn thống nhất, truy xuất nguồn gốc và cơ chế bảo vệ người mua.

Với lực lượng lao động trẻ, Việt Nam có sức hút đáng kể đối với các nhà đầu tư. Ảnh: NAM ANH

Giữ lợi thế thu hút FDI bằng môi trường đầu tư

Làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng vẫn mở ra cơ hội cho Việt Nam. Tuy nhiên, để duy trì sức hút với các nhà đầu tư quốc tế, Việt Nam cần chuyển từ cạnh tranh bằng ưu đãi sang cạnh tranh bằng chất lượng môi trường đầu tư.

Doanh nghiệp bất động sản đang phải cạnh tranh quyết liệt hơn để thu hút vốn. Ảnh: NAM ANH

Dòng vốn triệu USD đổi “khẩu vị”

Thị trường mua bán sáp nhập (M&A) bất động sản đang bước sang một chu kỳ thận trọng hơn. Nhà đầu tư yêu cầu dự án phải chứng minh được pháp lý, tiến độ, hiệu quả khai thác và dòng tiền.

Việc nâng trần lên 40% sẽ giúp các ngân hàng có thêm dư địa cho vay trung, dài hạn. Ảnh: NGUYỆT ANH

Hướng đi của dòng tiền mới được “mở van”

Việc nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn được đánh giá sẽ mở thêm không gian tín dụng, với hơn 1 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cũng đặt ra lo ngại về hướng đi của lượng vốn mới này.