Phát huy sức mạnh Khoa học-Công nghệ

Các nhà khoa học và chuyên gia giỏi ở nước ngoài khi cân nhắc trở về nước có nhiều lý do khác nhau, nhưng điểm chung là mong muốn tiếp tục theo đuổi nghiên cứu và phát triển những sản phẩm hữu ích phục vụ cuộc sống.

Hoạt động nghiên cứu khoa học tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam. (Ảnh ĐĂNG ANH)
Hoạt động nghiên cứu khoa học tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam. (Ảnh ĐĂNG ANH)

Bài 2: Kinh nghiệm hoạch định chính sách thu hút nhân tài

Để hỗ trợ họ tiến xa hơn khi trở về, cần có các cơ chế và chính sách ưu đãi đồng bộ và có tính dài hạn. Việc học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia đã thành công trong thu hút nhân tài sẽ góp phần nâng cao hiệu quả chính sách này.

SỨC HÚT TỪ MÔI TRƯỜNG NGHIÊN CỨU MỚI

Trong căn phòng nhỏ tại Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam-Hàn Quốc (VKIST), một số nghiên cứu viên trẻ chia sẻ về quá trình học tập, nghiên cứu ở nước ngoài và những lý do khi quyết định quay trở về Việt Nam. Dù mỗi người có một lý do riêng, nhưng điểm chung của họ là niềm đam mê khoa học và mong muốn mang kiến thức của mình nhanh chóng tạo ra những sản phẩm công nghệ phục vụ các ngành công nghiệp chiến lược của đất nước.

Môi trường nghiên cứu tiệm cận thông lệ quốc tế tại Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam-Hàn Quốc được cho là “thỏi nam châm” thu hút họ trở về và tạo điều kiện để họ phát huy tối đa năng lực trong nghiên cứu. Tiến sĩ Đặng Văn Cử - nghiên cứu viên mới của Viện Khoa học và Công nghệ Việt NamHàn Quốc, từng có cơ hội nhận công việc ổn định và hợp tác quốc tế rộng mở sau khi học chương trình nghiên cứu sau tiến sĩ tại Hàn Quốc.

Cuối năm 2024, anh trở về, lựa chọn Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam-Hàn Quốc để tiếp tục con đường nghiên cứu. Tiến sĩ Đặng Văn Cử chia sẻ, trong quy trình thực hiện các nhiệm vụ khoa học-công nghệ tại đây, các nghiên cứu viên chỉ việc tập trung vào công tác nghiên cứu và dành tối đa thời gian cho đề tài của mình, không phải quan tâm đến các thủ tục hành chính như đấu thầu, mua sắm, thanh quyết toán… vì đã có bộ phận chuyên trách hỗ trợ.

Tiến sĩ Hoàng Anh Việt, Phó Trưởng phòng Công nghệ năng lượng của Viện cũng là một trong những người quyết định trở về sau khi hoàn thành nghiên cứu tiến sĩ tại Nhật Bản. Anh đánh giá cao chính sách đãi ngộ của Viện, nơi các nghiên cứu viên được hưởng 2 lần lương, quy chế thưởng minh bạch và công bằng.

Toàn bộ chi phí nhân công của các đề tài nghiên cứu sẽ được tập trung vào quỹ lương và phân bổ lại theo năng lực, mức độ đóng góp và kết quả hoàn thành nhiệm vụ của từng cá nhân được giao hằng năm. Quy trình đánh giá được định lượng rõ ràng theo KPI, giúp các nhà khoa học yên tâm dành toàn bộ thời gian và tâm huyết để tạo ra những sản phẩm nghiên cứu chất lượng.

Tiến sĩ Hoàng Anh Việt đánh giá, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam-Hàn Quốc là cơ sở nghiên cứu mới nhưng không ngừng hoàn thiện mô hình quản lý hiện đại để tạo ra một môi trường làm việc chuyên nghiệp, nơi các nhà khoa học có sự tự chủ nhất định trong nghiên cứu. Trường đại học Phenikaa cũng là “ngôi nhà chung” cho nhiều nghiên cứu sinh từ nước ngoài trở về nhờ sự tiên tiến trong mô hình quản lý và chính sách đãi ngộ cạnh tranh. Trường ưu tiên tuyển dụng các nhà khoa học có công bố quốc tế, đặc biệt là những người có trình độ tiến sĩ được đào tạo ở nước ngoài hoặc đang học tập tại nước ngoài.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trương Thanh Tùng, Trưởng nhóm nghiên cứu tiềm năng “Thiết kế và tổng hợp thuốc mới” của Trường đại học Phenikaa chia sẻ, các nhóm được quyền tự do xây dựng nhóm nghiên cứu và nhận được sự hỗ trợ tài chính từ nhà trường để mua sắm trang thiết bị, hóa chất. Sinh viên, học viên tham gia nghiên cứu được miễn học phí, còn nghiên cứu sinh được miễn học phí đồng thời nhận lương hằng tháng, tạo điều kiện thuận lợi để họ theo đuổi nghiên cứu khoa học.

Nhờ cơ chế hấp dẫn này, Trường đại học Phenikaa đã thành lập được hơn 20 nhóm nghiên cứu mạnh và tiềm năng, đều là nghiên cứu sinh từ nước ngoài trở về. Riêng nhóm nghiên cứu của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trương Thanh Tùng đã thu hút được bốn tiến sĩ và hai thạc sĩ từ nước ngoài trở về, duy trì khoảng 20-30 sinh viên tham gia nghiên cứu mỗi năm. Bên cạnh các viện nghiên cứu và trường đại học, khu vực doanh nghiệp cũng là một “bệ phóng” quan trọng đối với nhân tài Việt kiều, trong đó nổi bật là Tập đoàn Vingroup đã triển khai nhiều chiến lược thu hút người Việt Nam ở nước ngoài trở về cống hiến và nhiều chuyên gia, nhà khoa học đã trở về.

Lý do những tổ chức nêu trên thu hút tốt nhân tài là họ có tiềm lực tài chính mạnh và môi trường nghiên cứu khoa học thuận lợi, tiệm cận với các nước tiên tiến.

CẦN KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG THIẾU ĐỒNG BỘ

Trái ngược với các đơn vị nêu trên, phần lớn các viện nghiên cứu và trường đại học công lập vẫn gặp khó khăn trong việc thu hút nhân lực. Nguyên nhân chủ yếu đến từ các rào cản về môi trường nghiên cứu, quy định tài chính hoặc việc thiếu hướng dẫn cụ thể trong áp dụng các chế độ đãi ngộ sử dụng ngân sách. Giáo sư Chu Hoàng Hà, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho biết, nhu cầu hợp tác nghiên cứu với các nhà khoa học ở nước ngoài rất lớn, nhưng hầu hết các cơ sở công lập chưa thể thực hiện do thiếu hướng dẫn về chi trả thù lao.

Việc thu hút nhân tài Việt kiều cũng gặp khó khăn do hạn chế biên chế, trong khi Viện Hàn lâm đã bị cắt giảm 20% nhân lực trong 10 năm qua theo chủ trương tinh giản biên chế. Dẫn chứng cho thực trạng này, Giáo sư Trịnh Văn Tuyên, nguyên Viện trưởng Viện Công nghệ môi trường cho biết, Viện đã thu hút được nhiều tiến sĩ học ở Liên bang Nga, Canada, Nhật Bản trở về, nhưng có tiến sĩ đã 10 năm nay chưa được vào biên chế, phải làm việc theo chế độ hợp đồng.

“Tôi từng có công văn, trao đổi trực tiếp đề nghị Viện Hàn lâm cho bổ nhiệm họ làm trưởng, phó phòng, vì họ giỏi thật sự, cần được ghi nhận và có chức danh để hợp tác thuận lợi hơn với đối tác. Nhiều năm qua, họ vẫn chịu thiệt thòi, nhất là không được làm chủ nhiệm đề tài”, Giáo sư Trịnh Văn Tuyên nói.

Sự thiếu đồng bộ trong cơ sở hạ tầng và cơ chế quản lý khoa học-công nghệ chưa theo kịp nhu cầu thực tiễn cũng là những rào cản lớn trong việc thu hút các nhà khoa học, chuyên gia công nghệ giỏi từ nước ngoài trở về. Giáo sư Phan Tuấn Nghĩa, Chủ tịch Hội đồng Giáo sư ngành Sinh học chia sẻ, ông có học trò hiện là Phó Giáo sư tại Đại học Khoa học và Công nghệ Hồng Kông, từng được vinh danh với một phát minh RNA hiện đại.

Nhiều lần ông trao đổi ý định mời học trò về phụ trách Phòng thí nghiệm trọng điểm, nhưng không thành. “Tôi hiểu điều kiện làm việc của chúng ta chưa đáp ứng được, cho nên dù làm việc ở ngoài nước mà các em vẫn hướng về Tổ quốc thì đều tốt. Những người làm trong lĩnh vực nghiên cứu không phụ thuộc thiết bị thì dễ trở về hơn, còn lĩnh vực như công nghệ sinh học cần trang thiết bị đồng bộ, hiện đại nên chưa dễ thu hút”. Khi trở về Việt Nam, nhiều người không chỉ quan tâm đến thu nhập hay điều kiện làm việc, mà còn băn khoăn về các chính sách thúc đẩy khoa học-công nghệ của các bộ, ngành liên quan.

Tiến sĩ Đỗ Tiến Phát, Viện Công nghệ sinh học (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) đã tham gia nghiên cứu và phát triển hệ thống CRISPR/Cas trong chỉnh sửa hệ gien thực vật tại một phòng thí nghiệm uy tín về công nghệ gien và sinh học phân tử ở Mỹ. Khi trở về Việt Nam công tác, anh tiếp tục cùng nhóm nghiên cứu phát triển và ứng dụng thành công công nghệ này trên nhiều đối tượng cây trồng khác nhau như đậu tương, lúa, cà chua, thuốc lá, dưa chuột...

Thế nhưng, đến nay, Việt Nam vẫn chưa có chính sách hướng dẫn cụ thể để các sản phẩm nghiên cứu tiềm năng từ công nghệ chỉnh sửa hệ gien được sớm ứng dụng trong sản xuất phục vụ cuộc sống. Điều này gây trở ngại và làm giảm động lực nghiên cứu đối với các nhà khoa học. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trương Thanh Tùng, Trưởng nhóm nghiên cứu tiềm năng “Thiết kế và tổng hợp thuốc mới” của Trường đại học Phenikaa cho biết, ở Mỹ có cơ chế “đầu tư mạo hiểm” cho nghiên cứu từ Nhà nước, chấp nhận tỷ lệ rủi ro trong nghiên cứu, phát triển, thương mại hóa thuốc mới, nhưng ở Việt Nam chưa có quy định rõ ràng để bảo vệ nhà khoa học nên chưa thúc đẩy các nghiên cứu mới, mạo hiểm trong lĩnh vực này.

Giai đoạn 30-50 tuổi là thời kỳ phát triển nhất của chặng đời nghiên cứu của mỗi nhà khoa học, nhưng nếu thu hút về nước mà không có cơ chế để phát huy họ thì họ sẽ rời đi hoặc bỏ qua mất độ tuổi vàng, do đó, cần có cơ chế bảo vệ cũng như có các quỹ nghiên cứu được xã hội hóa và thực hiện phân bổ, giám sát tốt hơn để tiếp sức cho các tài năng sau khi thu hút. Đại diện Công ty cổ phần Dịch vụ Di động Trực tuyến (M-Service) nhận định, khi mở rộng quy mô và hướng tới thị trường toàn cầu, vấn đề nhân sự trở nên quan trọng. Đối với các mô hình đổi mới sáng tạo đột phá thì nguồn nhân lực trong nước chưa đáp ứng đủ, buộc doanh nghiệp phải tìm kiếm chuyên gia quốc tế hoặc mời người Việt Nam ở nước ngoài về.

Vì vậy, Chính phủ cần có chính sách hỗ trợ thực tế như cấp visa dài hạn, giảm thuế thu nhập cá nhân, hỗ trợ chỗ ở… nhằm tạo điều kiện thuận lợi và thể hiện sự trân trọng để họ an tâm trở về cống hiến. Giáo sư Chu Hoàng Hà nhấn mạnh, muốn khoa học-công nghệ phát triển và hội nhập thật sự thì cũng phải hội nhập về cả chính sách, tức là trong quản lý khoa học, quản lý nhân lực và thu hút nhân lực cũng phải tiệm cận thông lệ của thế giới. Các nghị quyết tháo gỡ cho khoa học-công nghệ vừa qua cần sớm được thể chế hóa, có các hướng dẫn cụ thể để tạo ra đột phá thật sự trong việc thu hút nhân tài.

Thực tiễn thu hút nhân tài kiều bào của nhiều nước cho thấy, các nước thành công đều coi đây là tài sản quý giá và không ngừng tìm cách tận dụng nguồn lực này. Về cơ bản, có hai nhóm chính sách chủ đạo:

Thứ nhất, thu hút cá nhân xuất sắc thông qua các chương trình hồi hương với chế độ đãi ngộ cao, kêu gọi lòng yêu nước, tôn vinh thành tựu và đầu tư mạnh vào các viện nghiên cứu, đại học, khu công nghệ cao (Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, Israel, Nga).

Thứ hai, thu hút theo hệ thống bằng cách cải thiện môi trường thể chế, giảm sự “cám dỗ” từ bên ngoài, đồng thời phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo, thúc đẩy liên kết doanh nghiệpviện nghiên cứu- trường đại học, và xây dựng các cơ sở giáo dục, nghiên cứu đạt chuẩn quốc tế (Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Ấn Độ).

Nhiều ý kiến nhận định, thuận lợi hiện nay là Nghị quyết 57-NQ/TW đã thể hiện ý chí và thiện chí chính trị ở cấp cao nhất về tầm quan trọng của cộng đồng các nhà khoa học và chuyên gia giỏi kiều bào. Trên cơ sở kinh nghiệm các nước và thực tế của Việt Nam, cần xây dựng hệ thống môi trường chính sách đồng bộ, tin cậy, có tính dài hạn, ưu đãi đặc biệt trong thu hút, như các chính sách về quốc tịch, thị thực, nhà cửa, đi lại, chính sách lương, thù lao, tôn vinh…; cần hệ thống dữ liệu đầy đủ, liên kết và cập nhật về các nhà khoa học và chuyên gia kiều bào; cần có chính sách đầu tư mạnh mẽ cho hạ tầng khoa học-công nghệ; có các chương trình, dự án lớn tầm cỡ quốc gia với khát vọng vươn ra thế giới… là những “thỏi nam châm” thu hút các nhà khoa học, chuyên gia giỏi kiều bào trở về đóng góp vào sự phát triển bền vững của đất nước.

Có thể bạn quan tâm

Kiểm sát viên không lưu điều hành bay tại Trung tâm Kiểm soát đường dài Hồ Chí Minh.

Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam tăng tốc chuyển đổi số, hướng tới tốp 3 Đông Nam Á về quản lý điều hành bay

Trong hệ sinh thái hàng không, nếu các cảng hàng không là những “cửa ngõ” kết nối và các hãng hàng không là những đơn vị vận tải trực tiếp đưa hành khách đến đích, thì Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam (VATM) được ví như “bộ não” điều hành toàn bộ hoạt động trên bầu trời.

Hình thức tuyên truyền bằng phương pháp sân khấu hóa đã giúp người dân dễ dàng nắm bắt các quy định của pháp luật.

Người dân biên giới Y Tý hào hứng học tập, nâng cao kỹ năng số và kiến thức pháp luật

Hơn 1.000 cán bộ, công chức và người dân tại xã Y Tý (Lào Cai) vừa tham gia chương trình tuyên truyền pháp luật và phổ biến kiến thức khoa học do Bộ đội Biên phòng tỉnh phối hợp với các sở, ngành tổ chức. Chương trình nhằm nâng cao nhận thức pháp luật, đồng thời trang bị những kỹ năng phục vụ đời sống và sản xuất cho người dân.

Hợp tác xã Đan Hoài (xã Đan Phượng, Hà Nội) tiên phong trong lĩnh vực sản xuất hoa lan hồ điệp ứng dụng công nghệ cao. (Ảnh: Giang Sơn)

Động lực trung tâm thúc đẩy tăng trưởng

Những năm gần đây, nhiều chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước khẳng định chuyển đổi căn bản từ mô hình phát triển truyền thống sang mô hình phát triển bền vững dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Gạch đất không nung, lời giải xanh cho bài toán nhà ở vùng cao.

Gạch đất không nung, lời giải xanh cho bài toán nhà ở vùng cao

Trên hành trình hướng tới phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, xây dựng được xem là lĩnh vực then chốt cần chuyển đổi mạnh mẽ. Không chỉ quy mô tiêu thụ tài nguyên khổng lồ, mà còn bởi lượng phát thải chiếm tỷ trọng lớn. Những nghiên cứu về vật liệu xây dựng xanh không còn là lựa chọn, mà đã trở thành yêu cầu tất yếu.

Người dân trải nghiệm hệ thống “Trợ lý số Công an Long Thành” tích hợp trực tiếp trên website công vụ.

Hiệu quả từ mô hình “Câu lạc bộ AI trợ lý số” tại Long Thành

Với sân bay Long Thành và ở trung tâm kết nối phía nam nên phường Long Thành được xem là một trong những nơi phát triển sôi động nhất của Đồng Nai và cả nước. Kéo theo đó lượng giải quyết thủ tục hành chính, trong đó có lĩnh vực do Công an phụ trách tăng cao, đòi hỏi việc ứng dụng công nghệ mạnh mẽ để nâng cao hiệu quả phục vụ.

Nghiên cứu vật liệu mới tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. (Ảnh: MẠNH XUÂN)

Tự chủ vật liệu mới trong kỷ nguyên công nghệ

Trong cuộc đua công nghệ toàn cầu, năng lực làm chủ vật liệu ngày càng quyết định sức cạnh tranh quốc gia. Với Việt Nam, thu hẹp khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường, phát triển hạ tầng, nhân lực và nâng cao năng lực làm chủ vật liệu lõi là điều kiện tiên quyết để hình thành ngành công nghiệp vật liệu tự chủ.

Dự báo về kinh tế dữ liệu tại Việt Nam.

Việt Nam trong cuộc đua kinh tế dữ liệu

Hiện nay, dữ liệu đã trở thành “dầu mỏ mới”, là “mạch máu” của nền kinh tế số toàn cầu. Vì vậy, kinh tế dữ liệu đang trở thành cuộc đua chiến lược mới giữa các quốc gia. Dữ liệu dự tính đóng góp tới 79 tỷ USD vào GDP Việt Nam đến năm 2030; đồng thời tạo ra doanh thu từ dự kiến cán mốc 80 tỷ USD vào cùng thời điểm.

Báo chí Quảng Ninh đổi mới sáng tạo trong kỷ nguyên số

Báo chí Quảng Ninh đổi mới sáng tạo trong kỷ nguyên số

Nhân kỷ niệm 101 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21/6), ngày 12/6, Báo và Phát thanh, Truyền hình Quảng Ninh tổ chức tọa đàm “Báo chí Quảng Ninh đổi mới sáng tạo trong kỷ nguyên số” nhằm tạo diễn đàn trao đổi kinh nghiệm, truyền cảm hứng cho các phóng viên, biên tập viên về đổi mới sáng tạo trong hoạt động báo chí.