Những mắt xích còn thiếu sau nghiên cứu
Sau chuyến khảo sát hệ sinh thái công nghệ và đổi mới sáng tạo tại Thâm Quyến, Trung Quốc, đại diện Cục Khởi nghiệp và Doanh nghiệp công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ nhận định, bài học đáng chú ý không nằm ở việc nơi đây có robot hiện đại hơn hay ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) tiên tiến hơn, mà ở khả năng kết nối nghiên cứu, thử nghiệm, đầu tư và thương mại hóa thành một chu trình liên tục.
Trong chu trình đó, Nhà nước kiến tạo chính sách; viện, trường cung cấp tri thức và nhân lực; doanh nghiệp dẫn dắt thị trường và các quỹ đầu tư bổ sung nguồn lực.
Nhìn từ thực tế này, khoảng cách giữa doanh nghiệp công nghệ Việt Nam với các trung tâm công nghệ phát triển không hoàn toàn nằm ở trình độ kỹ thuật, nguồn vốn hay nhân lực.
Điểm nghẽn chủ yếu xuất hiện ở những khâu sau nghiên cứu như sản xuất thử, kiểm định, tiêu chuẩn hóa, xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường. Đến tháng 12/2025, cả nước có hơn 80.000 doanh nghiệp công nghệ số, doanh thu ước đạt 198 tỷ USD.
Tuy nhiên, chất lượng hệ sinh thái còn phụ thuộc vào khả năng làm chủ sản phẩm, công nghệ, thương hiệu và tham gia các khâu giá trị cao trong chuỗi cung ứng.
Theo ông Lưu Quang Minh, Phó Vụ trưởng Khoa học kỹ thuật và công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ), năng lực tự chủ công nghệ không thể hình thành từ những đề tài nghiên cứu riêng lẻ.
Kết quả nghiên cứu muốn chuyển hóa thành sản phẩm cần được đặt trong một hệ sinh thái gồm dữ liệu, phòng thí nghiệm, cơ sở thử nghiệm, tiêu chuẩn kỹ thuật, nhân lực, doanh nghiệp và thị trường.
Thiếu nhiệm vụ cụ thể, chủ thể triển khai, nguồn lực và cơ chế đánh giá đầu ra, các lĩnh vực ưu tiên khó chuyển thành năng lực công nghệ thực chất.
Trong khi đó, hạ tầng sản xuất thử, đo kiểm và đánh giá chất lượng đòi hỏi vốn, vượt khả năng của phần lớn doanh nghiệp nhỏ và startup. Với bán dẫn, công nghệ sinh học, robot và thiết bị y tế, chi phí hoàn thiện sản phẩm có thể lớn hơn chi phí nghiên cứu ban đầu.
Chương trình phát triển công nghiệp công nghệ số giai đoạn 2026-2030 đặt nhiệm vụ phát triển hạ tầng dùng chung, gồm khu công nghệ số tập trung, phòng thí nghiệm, cơ sở đo kiểm và Trung tâm quốc gia hỗ trợ sản xuất thử chip bán dẫn.
Vận hành theo cơ chế mở, minh bạch và sát nhu cầu doanh nghiệp sẽ giúp giảm chi phí, rút ngắn thời gian đưa sản phẩm ra thị trường.
Nối liền chuỗi từ nghiên cứu đến thị trường
Chương trình phát triển công nghiệp công nghệ số xác định khu vực kinh tế tư nhân là động lực quan trọng, khuyến khích doanh nghiệp lớn đầu tư, dẫn dắt ngành. Nhà nước xây dựng hành lang pháp lý, quy hoạch hạ tầng và tạo thị trường thông qua đặt hàng, giao nhiệm vụ giải quyết các bài toán lớn, qua đó gắn kết quả nghiên cứu với nhu cầu ứng dụng.
Doanh nghiệp cần có bài toán thực tiễn, địa chỉ thử nghiệm và cơ hội triển khai sản phẩm ở quy mô đủ lớn. Các hình thức đặt hàng, giao nhiệm vụ, thuê và mua sắm sản phẩm, dịch vụ công nghệ cần công khai, cạnh tranh, dựa trên chất lượng và hiệu quả.
Thị trường trong nước nên là nơi sản phẩm Việt Nam được kiểm chứng trước khi cạnh tranh quốc tế. Sản phẩm Make in Vietnam phải đáp ứng tiêu chuẩn, giải quyết bài toán thực tế và có chi phí hợp lý.
Tại Diễn đàn Đổi mới sáng tạo Việt Nam toàn cầu 2026, các chuyên gia đề xuất Việt Nam hướng tới trở thành một “quốc gia thử nghiệm công nghệ”, tạo điều kiện để doanh nghiệp, startup và nhóm nghiên cứu đưa ý tưởng vào thực tế.
Các cơ quan, đơn vị trong y tế, giáo dục, giao thông và những lĩnh vực có nhu cầu ứng dụng lớn có thể trở thành khách hàng đầu tiên, giúp doanh nghiệp kiểm chứng và hoàn thiện công nghệ.
Bên cạnh thị trường, cần phát triển không gian đổi mới sáng tạo có khả năng kết nối doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học, quỹ đầu tư và tổ chức hỗ trợ.
Các trung tâm thử nghiệm, kiểm định, phòng thí nghiệm mở, trung tâm thiết kế và chế tạo mẫu cần được tổ chức như hạ tầng dùng chung.
Doanh nghiệp có thể tiếp cận theo nhu cầu, trả mức phí phù hợp và nhận hỗ trợ chuyên môn, nhất là startup và doanh nghiệp nhỏ vốn khó tự đầu tư cơ sở thử nghiệm.
Doanh nghiệp lớn cần dẫn dắt thông qua đặt hàng nghiên cứu, hỗ trợ startup, chuyển giao công nghệ và hình thành chuỗi cung ứng, mở bài toán và thị trường cho doanh nghiệp nhỏ.
Tổng Giám đốc Tập đoàn FPT Nguyễn Văn Khoa cho biết, 5 năm qua, tỷ trọng gia công của doanh nghiệp đã giảm từ khoảng 90% xuống còn 30%; nguồn lực được chuyển dần sang AI, dữ liệu, hạ tầng số, an ninh mạng và bán dẫn.
Sự chuyển dịch này cho thấy doanh nghiệp đầu đàn có thể tạo nhu cầu nghiên cứu, chuỗi cung ứng và thị trường cho các doanh nghiệp khác.
Bộ Khoa học và Công nghệ đang lấy ý kiến phương án hỗ trợ lãi suất vay thông qua Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia.
Theo đề xuất, doanh nghiệp thực hiện dự án ứng dụng, chuyển giao, đổi mới công nghệ hoặc đổi mới sáng tạo được hỗ trợ 50% lãi suất theo hợp đồng tín dụng, nhưng không vượt quá 6%/năm, trong thời gian tối đa 5 năm.
Giám đốc Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia Bùi Quang Minh cho rằng, chính sách theo nguyên tắc thị trường. Nhà nước hỗ trợ một phần chi phí vốn, tổ chức tín dụng chịu trách nhiệm thẩm định, cho vay, quản trị rủi ro và thu hồi nợ.
Cơ chế này giúp huy động thêm vốn cho đổi mới công nghệ. Ở đầu ra, doanh nghiệp cần được hỗ trợ về tiêu chuẩn, sở hữu trí tuệ, thương hiệu và kết nối chuỗi cung ứng.
Theo ông Trần Anh Tú, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp công nghệ thông tin (Bộ Khoa học và Công nghệ), Chương trình phát triển công nghiệp công nghệ số đặt ra các nhiệm vụ xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm Make in Vietnam, kết nối cung cầu và hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thị trường quốc tế.
Trọng tâm là giúp sản phẩm đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, tham gia chuỗi cung ứng và tiến lên các khâu có giá trị gia tăng cao hơn.
Hiệu quả của chính sách phát triển công nghệ cần được đo bằng sản phẩm đi vào sử dụng, doanh thu tạo ra, năng suất được nâng lên, thị trường được mở rộng và năng lực công nghệ được tích lũy trong doanh nghiệp.