Thông tin trên được Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia cho biết tại buổi họp báo thường kỳ do Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức ngày 31/7, tại Hà Nội.
Theo ông Trần Đăng Khoa, Phó Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia, ngày 5/6/2026, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Kế hoạch số 3927/KH-BKHCN về kiểm tra, giám sát chất lượng xăng sinh học E10 năm 2026. Mục đích nhằm kiểm tra, giám sát việc chấp hành quy định của pháp luật về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hóa đối với xăng sinh học E10 trong hoạt động sản xuất, pha chế, phân phối, lưu thông trên thị trường.
Ngay sau đó, Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia (Ủy ban) đã tham mưu Bộ ban hành Công văn số 3985/BKHCN-TĐC ngày 8/6/2026 gửi Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đề nghị quan tâm chỉ đạo các cơ quan chức năng tại địa phương phối hợp triển khai thực hiện Kế hoạch; đồng thời tham mưu Bộ có Công văn số 4607/BKHCN-TĐC ngày 27/6/2026 gửi Bộ Công thương để trao đổi, phối hợp, cung cấp thông tin về hoạt động kiểm tra, giám sát chất lượng xăng sinh học E10 nhằm bảo đảm hoạt động kiểm tra được thực hiện đồng bộ, đúng thẩm quyền, tránh trùng lặp, chồng chéo không cần thiết.
Về việc kiểm tra chất lượng xăng sinh học E10, Phó Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia Trần Đăng Khoa cho biết, đến nay, đoàn kiểm tra đã tiến hành kiểm tra một số cơ sở sản xuất, pha chế và cung ứng xăng E10; đồng thời nhận báo cáo từ ba địa phương gồm: Nghệ An, Thái Nguyên và Tuyên Quang với 36 cơ sở, cửa hàng kinh doanh xăng dầu được kiểm tra.
Kết quả sơ bộ cho thấy các cơ sở đều đáp ứng quy định của pháp luật, chưa phát hiện trường hợp vi phạm về đo lường cũng như chất lượng xăng sinh học E10. Công tác kiểm tra sẽ tiếp tục được triển khai tại các địa phương trước khi tổng hợp, công bố kết quả trên phạm vi cả nước.
Lĩnh vực chuyển đổi số đạt được 8 kết quả nổi bật
Tại buổi họp báo, ông Lê Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số cho biết, tháng 7/2026 là thời điểm đặc biệt quan trọng đối với tiến trình chuyển đổi số quốc gia khi Luật Chuyển đổi số chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.
Cùng với việc triển khai Luật, nhiều văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, tiêu chuẩn và hướng dẫn quan trọng đã được ban hành, góp phần hoàn thiện thể chế, tạo nền tảng để thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện trên phạm vi cả nước.
Tính đến tháng 7/2026, lĩnh vực chuyển đổi số đạt được 8 kết quả nổi bật. Cụ thể, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 224/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Chuyển đổi số. Nghị định có hiệu lực đồng thời với Luật Chuyển đổi số từ ngày 1/7/2026, tạo hành lang pháp lý thống nhất, đồng bộ cho hoạt động chuyển đổi số. Nghị định tập trung vào 5 nhóm nội dung trọng tâm gồm: Triển khai chuyển đổi số toàn diện; phát triển dịch vụ công trực tuyến chủ động; phát triển nền tảng số; thúc đẩy kinh tế số; phát triển xã hội số. Đây là cơ sở quan trọng để các bộ, ngành, địa phương tổ chức triển khai Luật một cách đồng bộ, thống nhất trên phạm vi toàn quốc.
Thủ tướng Chính phủ cũng ban hành Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2045 theo Quyết định số 1266/QĐ-TTg. Chiến lược xác định mục tiêu đưa chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng của phát triển đất nước và quản trị quốc gia; hướng tới xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia số phát triển vào năm 2045. Thủ tướng Chính phủ cũng đã ký ban hành Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số theo Quyết định số 1425/QĐ-TTg. Đây là lần đầu tiên Việt Nam có một Khung kiến trúc thống nhất ở cấp quốc gia, định hướng tổng thể cho việc xây dựng, phát triển và vận hành quốc gia số trên phạm vi toàn bộ hệ thống chính trị.
Cũng theo Quyết định số 1132/QĐ-TTg về tiêu chí, danh mục nền tảng số dùng chung quốc gia, danh mục 79 nền tảng số dùng chung quốc gia đã được ban hành, chia thành nhóm nền tảng liên ngành, liên lĩnh vực và nhóm nền tảng theo từng ngành, lĩnh vực. Danh mục này góp phần thống nhất triển khai các nền tảng số trên phạm vi toàn quốc, tăng cường kết nối và chia sẻ dữ liệu, hạn chế đầu tư trùng lặp, tiết kiệm nguồn lực.
Trong số 79 nền tảng này, có một số nền tảng tiêu biểu như: Cổng Dịch vụ công quốc gia, VNeID, NDXP, Trục liên thông văn bản quốc gia, Cổng dữ liệu quốc gia, Blockchain quốc gia và Trợ lý ảo quốc gia.
Về hoàn thiện cơ chế quản lý đầu tư và quản lý chất lượng trong hoạt động chuyển đổi số, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Thông tư số 39/2026/TT-BKHCN quy định việc lập và quản lý chi phí đầu tư, thuê dịch vụ chuyển đổi số sử dụng ngân sách nhà nước, góp phần chuẩn hóa công tác lập dự toán, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách.
Thông tư số 41/2026/TT-BKHCN quy định quản lý chất lượng trong toàn bộ vòng đời dự án chuyển đổi số, từ kiểm soát chất lượng, kiểm thử, đánh giá, nghiệm thu đến vận hành và thử nghiệm có kiểm soát, góp phần giảm thiểu rủi ro, nâng cao chất lượng các dự án chuyển đổi số. Bộ cũng ban hành Bộ tiêu chí đánh giá mức độ sẵn sàng của thủ tục hành chính trên Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tập trung cấp Bộ. Bộ tiêu chí được xây dựng nhằm chuẩn hóa thủ tục hành chính trước khi triển khai trên hệ thống tập trung, tập trung vào các tiêu chí về quy trình, dữ liệu, số hóa hồ sơ, liên thông dữ liệu, thanh toán trực tuyến, ký số, trả kết quả điện tử và bảo đảm an toàn thông tin.
Đây là căn cứ quan trọng để triển khai dịch vụ công trực tuyến toàn trình theo định hướng lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Những kết quả đạt được trong tháng 7/2026 cho thấy hệ thống thể chế về chuyển đổi số đã tiếp tục được hoàn thiện đồng bộ ngay sau khi Luật Chuyển đổi số có hiệu lực. Đây là nền tảng quan trọng để các bộ, ngành, địa phương đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số, phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số trong giai đoạn mới.
Ông Lê Anh Tuấn cho biết, trong thời gian tới, Cục Chuyển đổi số quốc gia sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành và địa phương để hướng dẫn triển khai các văn bản mới; thúc đẩy phát triển hạ tầng, dữ liệu và nền tảng số; đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về chuyển đổi số, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu của Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số và xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia số phát triển.
Phát biểu tại họp báo, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Bùi Hoàng Phương nhấn mạnh, nhiệm vụ trọng tâm của Bộ trong thời gian tới là ưu tiên triển khai để các cơ chế, chính sách mới nhanh chóng đi vào thực tiễn, tạo chuyển biến rõ nét trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Thứ trưởng yêu cầu các đơn vị chủ động chuẩn bị điều kiện triển khai các nhiệm vụ về công nghệ chiến lược, đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ, thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu, hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo; đồng thời tăng cường phối hợp, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện.
Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ tiếp tục đồng hành cùng các bộ, ngành, địa phương, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp để các cơ chế, chính sách mới sớm phát huy hiệu quả, góp phần tạo động lực tăng trưởng và phát triển bền vững.