Người H’Mông giã từ lò súng săn

Những năm 2000, hầu hết các bản người H’Mông ở huyện biên giới Kỳ Sơn (Nghệ An) rộ nghề chế súng săn. Gần đây, lại rộ lên một số vụ người H’Mông ở Kỳ Sơn đi săn thú nhưng bắn nhầm người thân hoặc dân bản. Để kiểm chứng, chúng tôi lại ngược rừng để tiếp cận những lò chế súng này.

Hàng trăm khẩu súng do Công an Kỳ Sơn mới thu hồi được trong dân bản.
Hàng trăm khẩu súng do Công an Kỳ Sơn mới thu hồi được trong dân bản.

Vắng lạnh lò chế súng

Điểm đầu tiên chúng tôi tiếp cận là lò chế súng săn của ông Lầu Pá Chù ở bản Trường Sơn, xã Nậm Cắn, cách Cửa khẩu quốc tế Nậm Cắn chừng 2 km.

Hình ảnh đầu tiên chúng tôi nhìn thấy là lò chế súng của ông Chù đã được “nhốt” lại trong một tấm lưới thép quây tròn trước cửa nhà. Thấy chúng tôi đứng nhìn bễ thụt lửa sạch bóng tro bụi và kìm, búa, cưa sắt… xếp lại bên cạnh, ông Chù nói: “Không còn có ai mua nên bố không làm súng nữa”. Dứt lời, ông Chù đưa tay lên vách gỗ cạnh cái lò bị “nhốt”, hạ cây súng kíp cũ kỹ xuống cho chúng tôi xem. Ông bảo: “Đây là cây súng kíp loại nhỏ bố làm lâu lắm rồi. Trước dùng săn thú nhỏ, giờ bố treo đây làm kỷ niệm”.

Như chưa thật sự tin ông Chù đã từ bỏ hẳn “ngón nghề” từng gắn bó suốt thời trai trẻ, nơi ba tay thợ lão luyện đổ mồ hôi một tuần có thể nuôi được cả gia đình trong vài tuần, chúng tôi tiếp tục câu chuyện “vì sao, bây giờ người H’Mông không mua súng săn nữa?”. Ông Chù giải thích ngay: “Còn thú rừng đâu mà người ta mua súng săn. Ngày trước, lợn rừng, nai, chồn nhiều lắm, chỉ rình phục cách 15 - 20 m là bắn được nên bản mở nhiều lò chế súng. Hồi đó, các lò chế súng đỏ lửa ngày đêm. Có bản hai - ba lò”.

Vẫn cầm chắc cây súng “kỷ niệm” trong bàn tay chắc khỏe ở tuổi 80, ông Chù nửa như tiếc nuối nghề cũ, nửa như hiểu cái lý của việc người H’Mông từ giã “ngón nghề” truyền đời. Ông kể: “Cây súng này tính cả nòng và báng dài hơn một mét, trước có giá 300.000 đồng, riêng bộ cò đã 150.000 đồng. Giờ thì đắt lắm rồi. Tầm 2,5 triệu đồng một súng. Bộ cò “xịn” là 1,2 triệu đồng. Bộ cò này chỉ có người H’Mông làm mới ưng ý. Giá vọt lên nhưng các bản không có ai làm súng nữa”.

Tìm hiểu thêm, chúng tôi biết điều khiến ông Chù và dân bản không còn chế súng săn vì ngoài lý do bị cấm thì nguồn phân dơi (trộn với than cây dẻ và với cát, chưng công phu như nấu cao cho đạt độ dẻo, cứng) là nguyên liệu chính để làm thuốc súng cũng không còn nữa. Ông Chù lại cầm cây súng, lẩy lẩy lưỡi cò như nhớ lại mỗi khi mũi cò đập vào kíp được tra vừa vặn trong cái lỗ nhỏ phía đáy nòng. Kíp gây cháy thuốc nổ, đẩy viên đạn bay đi (viên đạn được làm bằng chì nung chảy rồi cho nhỏ giọt xuống nước, phơi khô; đạn ria là đạn sắt được cắt từ thanh sắt nhỏ hoặc đạn bi là những viên bi xe đạp).

Ông Chù hướng chúng tôi nhìn lên hang núi phía cánh gà cửa khẩu Nậm Cắn, kể tiếp chuyện về thuốc súng: “Ngày trước, dơi lèn bay kín hang đá, phân dơi làm thuốc súng phủ dày từng lớp nhưng nay dơi bị bẫy hết rồi, hang đá lạnh tanh”. Như sực nhớ ra một chi tiết khác, ông Chù nói thêm: “Người H’Mông sinh sống trên các núi cao, có nhiều thú rừng nên họ cần cái súng để đi săn nhưng giờ các thợ làm súng đã già yếu cả rồi, con cái họ lớn lên đi làm công nhân các xí nghiệp trong nam, ngoài bắc, không còn người đi săn và cũng không còn người làm súng nữa. Mà có súng cũng không có con chi để bắn. Có nhớ nghề, tiếc nghề, muốn làm lén cũng chịu cứng thôi”.

Rời bản Trường Sơn, chúng tôi ngược lên bản Tiền Tiêu, tiếp cận lò chế súng của ông Hờ Chứ Giờ. Ông Giờ vừa rời tay búa, đang nằm đung đưa trên chiếc võng dù mắc cạnh lò nung. Biết chúng tôi tìm hiểu chuyện chế súng, ông Giờ ngồi dậy, nói tiếng H’Mông với người dẫn đường, nét mặt lộ vẻ không vui. Người dẫn đường ghé tai tôi: “Bố Giờ nói, trước đây có nhà báo lên quay phim, chụp ảnh bố đang chế súng rồi đăng báo. Sau đó, công an lên cấm nên bỏ nghề chế súng từ đó. Giờ bố không thích nói chuyện chế súng săn đâu”.

Người H’Mông giã từ lò súng săn -0
Ông Lầu Pá Chù đang rèn lưỡi cuốc. 

Chuyển nghề

Khi chúng tôi rời bản Tiền Tiêu quay lại bản Trường Sơn thì thấy ông Chù đang hì hục với cái bễ thụt lửa trong cái lò đã “nhốt”. Ông bảo, vừa có người dân ở bản dưới cần một số cuốc, rựa để sáng mai đi mở rẫy nên phải làm gấp. Vì công việc này không phức tạp, khó nhọc như khoan nòng súng từ tay lái ô-tô hay các loại nhíp ô-tô, thậm chí có khi cần thì phải khoan thủng cả cái xà-beng từ dưới lên thành nòng súng rồi đến công đoạn mài nóng súng cho đủ độ trơn giống như súng xịn… nên thay vì ba tay thợ cật lực chế súng thì một mình ông cũng có thể làm và giao hàng đúng hẹn. Vậy là khi thụt lửa, khi một tay giữ lưỡi cuốc, một tay dùng búa để dập, ông Chù xoay chuyển mọi vị trí chung quanh lò nung để tạo sản phẩm.

Đứng bên lò nung, thầy giáo Lầu Pá Chò, Phó Hiệu trưởng Trường tiểu học Nậm Cắn 1, xã Nậm Cắn cho hay mình là cháu, gọi ông Chù bằng bác. Thế hệ thầy Chò là đời thứ bảy của ông tổ truyền nghề chế súng săn ở đây. Ông tổ có tên Lầu Vù Tủa, người H’Mông từ phía bắc phiêu dạt về Kỳ Sơn hơn 400 năm trước. Hồi đó ba anh em ông tổ về Kỳ Sơn rồi đi tiếp về ba hướng. Một người sang Lào. Hai người về sinh sống ở xã Na Ngoi và xã Nậm Cắn, huyện Kỳ Sơn. Cả ba anh em đều thạo nghề chế súng săn. Nghề được truyền đời, lan rộng trong 198 bản, làng thuộc 20 xã người H’Mông của huyện nên trước đây không đếm được lò chế súng trong các bản ở Kỳ Sơn. “Bây giờ, họ bỏ cái “tra phỏ” (cái súng) mà chỉ sửa hoặc làm “tra lìa” (cái liềm), “tra chùa” (cái rựa), “tra lầu” (cái cuốc), “tra tỉa” (cái dao) thôi”, thầy Chò nói.

Còn ông Lầu Bá Chày, Chủ tịch UBND xã Nậm Cắn lộ vẻ phấn chấn khi thấy những lò rèn chế súng một thời nay trở về đúng nghĩa cái lò rèn chỉ để làm dao, rựa, cuốc, xẻng cho dân bản. Ông còn vui với lẽ “lò chế súng săn ngày trước là rất nhặm nhọt, nhất là khi xảy vụ dân bản đi săn thú nhưng lại “săn” nhầm người, thậm chí “săn” nhầm người thân, gây đau đớn, ân hận cả đời”. Cũng theo ông Chày, bây giờ lò rèn ít đỏ lửa hơn và không nhộn nhịp như trước nhưng là nơi sản xuất dụng cụ lao động thiết yếu cho gia đình và dân bản. Hoặc khi làm được nhiều thì đem xuống chợ thị trấn Mường Xén của huyện bày bán cũng đắt hàng.

Kết thúc câu chuyện, ông Chày dẫn một quan niệm vừa cũ vừa mới, vừa vui của người H’Mông, rằng “súng săn, dao mẹo và vợ là ba thứ quý nhất trên đời của con trai H’Mông. Giờ giã từ súng săn thì vẫn còn hai thứ để người H’Mông quý nhất”.

Vẫn còn súng săn trong dân
“Để xóa sổ các lò chế súng săn trong dân bản, hằng năm Công an huyện giao các tổ công tác (Đội Cảnh sát Quản lý hành chính làm chủ công) kết hợp công an xã và các ban, ngành, đoàn thể của huyện để tuyên truyền, phổ biến pháp luật, vận động người dân giao nộp súng tự chế. Hằng năm, công an thu hồi hơn 9.000 khẩu súng kíp. Năm 2020, thiêu hủy 2.750 khẩu, 360 nòng súng. Hiện, không còn lò chế súng săn tại các bản nhưng súng săn trong dân vẫn còn nhiều. Chúng tôi đang tăng cường họp bản để giúp dân bản tố giác những người cá biệt chưa thật sự tự giác giao nộp súng săn”, Thượng tá Tô Văn Hậu, Trưởng Công an huyện Kỳ Sơn cho biết.

Có thể bạn quan tâm

Anh hùng LLVTND Đinh Hữu Thuần trong một lần được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Từ canh trời Tổ quốc đến góc thiền giữa trời Tây Bắc

​Gặp lại người lính ra-đa năm nào, Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân Đinh Hữu Thuần, giờ đây là Thiền sư Thích Chánh Tuệ giữa mù sương Sa Pa, chúng tôi hiểu rằng: Sau cùng, vinh quang lớn nhất không phải là tấm huy chương lấp lánh trên ngực áo, mà là sự tự tại, bao dung trong một tâm hồn đã dâng hiến trọn vẹn cho Tổ quốc.

Quay tời thả “cá sắt” xuống dòng sông Năng.

Lặng lẽ Đầu Đẳng

Tôi mượn ý của nhà văn Nguyễn Thành Long trong tác phẩm “Lặng lẽ Sa Pa” cũng để nói về những người làm nghề “gác” trạm khí tượng thủy văn ở Đầu Đẳng. Đã hơn 50 năm, tác phẩm "Lặng lẽ Sa Pa" ra đời nhưng ở Trạm thủy văn Đầu Đẳng (xã Ba Bể, Thái Nguyên) vẫn “ba không”: Không đường, không điện, không nước sạch.

Nghệ nhân Váng Vần Séng (trái) chơi đàn lìn xìn.

Đàn lìn xìn còn vang trên núi non

Thèn Hồng Quân dẫn tôi tới nhà ông Váng Vần Séng ở thôn Cốc Coọc, xã Pà Vầy Sủ, tỉnh Tuyên Quang. Ông là nghệ nhân chế tạo đàn lìn xìn - loại nhạc cụ dùng đệm cho các khúc hát dân gian của người Nùng. Đã lâu lắm mới lại có người hỏi đàn, ông nhớ người mua đàn một, nhớ điệu hát, tiếng đàn đến mười phần.

Đường lên khu A Trạm radar 485.

Vượt dốc thăm nhà trên núi của lính biển

Chỉ còn đúng một chuyến tàu cao tốc ra đảo Trà Bản (đặc khu Vân Đồn, Quảng Ninh) lúc chúng tôi tới. Những con tàu gỗ chở khách khác đã nép mình nơi góc cảng Cái Rồng. Trời đổ mưa từ sáng, gió ngoài vịnh Bái Tử Long cũng bắt đầu trở mình.

Cán bộ, chiến sĩ tàu 740 (Hải đoàn 129, Quân chủng Hải quân) được chở tới Nhà giàn DK1/20 để thực hiện bỏ phiếu sớm.

Lá phiếu chủ quyền trên sóng thềm lục địa

Những ngày đất liền vẫn đang trong giai đoạn chuẩn bị cho kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, thì trên Biển Đông, nhiều khu vực đã hoàn thành việc bỏ phiếu sớm. Năm nay, hành trình bỏ phiếu sớm cũng tiến hành ngay khi kỳ nghỉ Tết Nguyên đán vừa kết thúc.

Nhiệt huyết của những người lính ra khơi năm xưa còn chảy vào lớp người hôm nay ở Lý Sơn.

Nghĩa khí đất đảo hùng binh

Giữa mênh mang Biển Đông, hòn đảo vẫn lặng lẽ mà hiên ngang nơi đầu sóng ngọn gió, vừa là tiền đồn, vừa là chứng nhân cho hành trình mở cõi, giữ biển.

Những bản làng của đồng bào Pa Kô, Vân Kiều dọc đường biên giới.

Đi trong sương giá biên thùy

Có những chuyến đi để trở về, nhưng cũng có những chuyến đi để thấy mình “lớn” thêm trong sự nhỏ bé trước cuộc đời. Đêm 28 Tết Bính Ngọ, Hà Nội bắt đầu nồng nàn mùi nước lá mùi già, tôi lại chọn ngược gió, ngược sương để tìm về dải đất miền trung nắng cháy - nơi mà “Tết” là một khái niệm vừa thân thương, vừa xa xôi đến lạ lùng.

Kíp xuồng tàu Trường Sa 19 đang nhận hàng để đưa lên nhà giàn DK1/2 (bãi cạn Phúc Tần).

Đi về phía mặt trời (kỳ 1)

Từ cầu cảng KTQP Trường Sa (Bộ Tư lệnh Vùng 2 Hải quân, Thành phố Hồ Chí Minh) xuất phát, chúng tôi bắt đầu hải trình về nơi những bãi cạn trên thềm lục địa phía nam, trong chuyến thăm, chúc Tết theo thông lệ hằng năm. 

Trương Chấn Sang vẫn ngày ngày nỗ lực mang niềm tin và hy vọng đến cho những thiếu nhi có hoàn cảnh khó khăn trên khắp mọi miền Tổ quốc.

"Đi về phía nắng" từ bóng tối nghịch cảnh

Có những hạt mầm không may rơi vào kẽ đá, chịu đựng biết bao khắc nghiệt từ bão giông, nhưng khi vươn mình đón nắng lại trở thành nhành cây kiên cường nhất. Chàng trai sinh năm 1997 Trương Chấn Sang là một nhành cây như thế.

Anh Trần Thanh Quang (đứng giữa) lưu giữ nét tinh hoa ẩm thực Huế.

Ngọt thơm ký ức tìm về

Cứ độ Tết đến xuân về, trong mỗi gia đình xứ Huế luôn ngào ngạt hương thơm của các loại bánh mứt. Sự khéo tay, óc sáng tạo của người Huế được thể hiện qua từng đường nét và mùi vị bánh trái. Ánh nắng dịu nhẹ ở vùng đất cố đô xưa càng thêm bình yên qua từng câu chuyện về ẩm thực cung đình, bánh mứt dân gian.

Nhiều trẻ mắc chứng tự kỷ vui chơi với người thân tại khu vực Amehouse mà vợ chồng Vân Anh đã lập ra.

Giấc mơ về một khu vườn sáng

Vân Anh năm nay 40 tuổi, sống cách Hoàn Kiếm của Hà Nội chỉ hơn chục cây số. Chị từng là giám đốc điều hành của một công ty có hàng trăm nhân viên, quen với áp lực, nhịp sống gấp gáp và những quyết định lớn nhỏ mỗi ngày.

Biểu diễn trống đất kết hợp hát ví, hát giang của người Mường.

Về đất Tổ nghe “Toòng Tửng” cùng trống đất

Trống đất không phải là một chiếc trống da như chúng ta hình dung bình thường, có thể mang đi, mà thật sự là nhạc cụ được tạo tác từ lòng đất. Còn Toòng Tửng là một nhạc cụ bộ gõ. Toòng Tửng đi cùng với trống đất mới tạo nên bộ nhạc cụ hoàn chỉnh.

Miến dong ở Côn Minh vẫn được phơi nắng theo phương pháp truyền thống.

Thương hiệu dong riềng trên đất sỏi

Khi sương muối giăng kín đỉnh Áng Toòng, đất Côn Minh (tỉnh Thái Nguyên) bừng tỉnh trong nhịp sống hối hả nhất của năm. Trên những sườn đồi cằn sỏi đá, cây dong riềng “ăn sương, uống gió” vẫn bung hoa đỏ. Những củ dong xù xì qua đôi bàn tay cần cù tạo nên những sợi miến dai ngon danh bất hư truyền.

Nghề nuôi thủy sản tại vịnh Xuân Đài đang gượng dậy sau thiên tai.

Bắt đầu lại với những điều chưa bao giờ

Chưa bao giờ người dân Phú Yên và Quy Nhơn cũ (nay là Gia Lai và Đắk Lắk) lại xuống giống vụ đông xuân muộn thế. Chưa bao giờ những chợ tôm hùm ở Sông Cầu (Đắk Lắk) mùa này vắng thế. Chưa bao giờ hai nơi này lại nhiều ngôi nhà phải xây sửa đến thế, dù đang vào mùa mưa...

Phạm nhân T.T.T. chạy lại đỡ mẹ già trên sân khấu chương trình.

Thắp sáng những ước mơ hoàn lương

Phía sau mỗi bản án đều là một cuộc đời. Khi sai lầm được nhận thức đúng và đủ, khát vọng làm lại sẽ thay thế những gam mầu tối trong tâm tưởng mỗi con người. Nhờ những chính sách khoan hồng của Nhà nước, ngày về trong giấc mơ mỗi đêm của phạm nhân T.T.T. đã không còn xa.

Giờ học tại điểm trường Coọc Mu.

Coọc Mu ngày ấy và bây giờ

Từng là “ốc đảo” bị lãng quên giữa đại ngàn, nơi ấy hơn 20 năm về trước, hàng chục số phận bị căn bệnh phong quái ác hành hạ, thôn Coọc Mu, xã Hoàng Trĩ (tỉnh Bắc Kạn cũ), nay là xã Đồng Phúc (tỉnh Thái Nguyên) đã hồi sinh.

Anh Ngô Quý Đức (bên trái) kiểm tra quy trình tạo tác liễn làng Chuồn.

Hồi sinh liễn làng Chuồn

Nhắc đến làng Chuồn (tên chữ là An Truyền) thuộc phường Mỹ Thượng, thành phố Huế, người ta thường nghĩ ngay đến một nét đẹp văn hóa độc đáo mà nay đã thất truyền, đó là nghề làm liễn Tết thủ công. Bằng sự tận tâm, tỉ mỉ của những người yêu văn hóa, từng bức liễn làng Chuồn đã được hồi sinh.

Điều còn lại sau chiến tranh

Điều còn lại sau chiến tranh

Cuộc đời lặng lẽ trong chờ đợi của người lính cuối cùng Trung đội Mai Quốc Ca, nhắc chúng ta rằng, lịch sử không chỉ được làm nên bởi những khoảnh khắc rực rỡ, mà còn bởi những năm tháng rất dài sau đó.

Khoảnh khắc bà Nguyễn Thị Bích cười tươi khi đón di ảnh của người bạn đời.

Niềm vui ngày các Anh về

Gần 60 năm đã trôi qua, ba cô con gái cũng đều đã lên chức bà nội, bà ngoại, nhưng chưa ngày nào cụ bà Nguyễn Thị Bích nguôi nỗi nhớ người bạn đời của mình. Năm 1967, anh Bí thư Đoàn Thanh niên xã Nam Ninh, huyện Nam Trực (tỉnh Nam Định cũ) Đặng Xuân Đạo tình nguyện lên đường “vào B” đánh giặc rồi mãi mãi không trở về.