Nghị lực và tình thương của người thầy

Đọc sách:

Nghị lực và tình thương của người thầy

"Quý cô nóng nảy - Hành trình khai mở tâm trí Helen Keller" - cuốn sách đặc sắc về tình thầy trò, tình người, vượt qua thời gian vẫn luôn trở thành câu chuyện điển hình cho đến hôm nay.

Cuốn sách "Quý cô nóng nảy - Hành trình khai mở tâm trí Helen Keller" của tác giả Sarah Miller do Nhà xuất bản Dân Trí và Công ty sách Tân Việt phát hành thật vừa vặn để đọc trong "mùa tri ân" thầy cô giáo. Đó là câu chuyện kể về sự hi sinh thầm lặng của cô giáo Anne Sullivan, người đã thắp lên niềm tin, vực cô bé Helen Keller đứng dậy từ sâu trong màn đêm đen tối.

Cả thế giới gói gọn trong một "người thầy"

"Với thế giới, Helen Keller sẽ luôn là một phép màu. Nhưng với Helen, cô giáo Anne Sullivan là cả thế giới".

Đúng vậy, trong trái tim của Helen bé nhỏ và tội nghiệp, cô Anne chính là vị thiên sứ đặc biệt đưa em bước ra khỏi màn đêm đen tối. Đó là màn đêm đen tối theo nghĩa tả thực của từ này vì Helen bị mù, và số phận còn khắc nghiệt hơn nữa khi lấy đi giác quan quan trọng nhất của một người mù là đôi tai.

Vừa khiếm thị, vừa khiếm thính, chung quanh em chỉ là bóng tối và sự im lặng. Cô bé gần như bị chặn tất cả các cánh cửa tiếp xúc với thế giới từ khi còn quá nhỏ, khi mà khái niệm về cuộc sống chung quanh còn chưa kịp định hình, các sự vật có tên chưa từng xuất hiện trong đầu em, một tâm trí chưa có hình ảnh và ngôn từ.

Tác giả Sarah Miller miêu tả rằng: Helen chỉ có thể hiểu một vài giao tiếp đơn giản, thí dụ như khi muốn nói “không”, mẹ cô bé sẽ nắm lấy bàn tay cô, áp nó vào má mình và lắc lắc đầu. Đó là cách duy nhất em chạm tới thế giới, một cái chạm mà ai cũng tin rằng không thể xa hơn.

Bắt đầu câu chuyện bằng một nhân vật đặc biệt, đặc biệt đến nỗi độc giả mong muốn sẽ có một người thầy hoàn hảo, đủ để khỏa lấp những khiếm khuyết của cô bé Helen tội nghiệp ấy, để vực dậy nhựa sống trong cô bé, như một thiên sứ mang ánh sáng tri thức, và niềm tin cuộc sống cho cô bé, để giúp cô bé thực sự "chạm" vào thế giới. Và vị thiên sứ ấy thực sự đã đến, chỉ có điều đó cũng là một thiên sứ đặc biệt.

Năm lên 6 tuổi, Helen Keller gặp cô gia sư Anne Sullivan - một người khuyết tật đáng thương, từng sống cô độc trong trại tế bần vì mất hết người thân và “không có nơi nào để đi”. Một con người không có nơi nào để đi, gặp một con người dường như không có lối thoát nào, họ trở thành nguồn sáng cho chính nhau như sự an bài của thượng đế.

Nỗi đau thể xác và sự trống rỗng trong tâm hồn khiến Helen trở thành một cô bé nóng nảy và dữ dội đến cùng cực. Một cô giáo Anne cũng gánh đủ thiệt thòi và đau thương trên mình. Họ đến với nhau và tạo nên một lớp học đặc biệt, lớp học 1-1, lớp học của sự dìu dắt và nâng đỡ nhau giữa hai con người chịu nhiều thiệt thòi của số phận và được tác giả nhấn mạnh là lớp học “không từ ngữ, chỉ cảm nhận thôi”; lớp học của những xúc chạm, chạm vào sự vật để khám phá thế giới, chạm vào tình thương để có nghị lực vượt qua những khắc nghiệt của cuộc đời.

Không thị giác, không thính giác, không ngôn ngữ, Helen đã bước ra thế giới đầy vinh quang trong sự hân hoan và ngỡ ngàng của mọi người. Nhưng với em, thế giới của em chính là cô giáo Anne - một thế giới nhiều mới mẻ và ngập tràn tình yêu thương, vinh quang ấy cũng chính cô Anne mang đến cho em - vinh quang chung cho hai mảnh đời khuyết tật sống vì nhau, dựa vào nhau.

Bài học về sự kiên trì và tình thương

Đây là một câu chuyện có thật nhưng khiến độc giả cảm nhận như một câu chuyện cổ tích. Bởi những gì Helen và Anne làm được thực sự là điều phi thường. Có điều, cái phi thường ấy được tạo nên bởi những điều rất thực, đó là sự kiên trì và tình thương của người thầy giáo.

Lúc đầu, Anne đã rối bời và mất tự tin khi nghĩ đến việc phải dạy một đứa trẻ vừa khiếm khuyết về thể chất, vừa tổn thương về tinh thần với tâm lý nặng nề đầy kháng cự. Nhưng cô đã bắt đầu từ những điều nho nhỏ như một cái ôm, cô giáo Anne trao cho cô trò nhỏ trong buổi sáng đầu tiên thức giấc, cho đến khi cô bé nhận ra rằng “một bàn tay dịu dàng là thứ cuối cùng em cần đến”.

Và rồi đôi bàn tay của cô gái bé nhỏ đã lần đầu ôm ấp một con búp bê và quờ quạng khám phá hình thù các chữ cái trên tay cô giáo để bắt đầu bài học đầu tiên.

Nhưng, liệu có dễ dàng như vậy không với một Helen như con thú hoang, ngỗ ngược, phá phách, và hung dữ… nhưng lại vô cùng tội nghiệp.

Tôi cho rằng câu chuyện sẽ toàn là lý thuyết nếu Anne chỉ cần mỗi dịu dàng là có thể khiến cô học trò ngồi ngoan ngoãn 8 tiếng mỗi ngày. Thực thế thì Anne đã phải dùng cả những biện pháp khắc nghiệt nhất như đánh đòn, phạt nhịn đói, hay tách Helen ra khỏi sự bao bọc nuông chiều của gia đình để giáo dục độc lập, “huấn luyện” cô bé vào nền nếp và trở nên hiểu biết hơn.

Sự nghiêm khắc này không nhằm ra uy, mà xuất phát từ quyết tâm đưa cô học trò đáng thương ra khỏi bóng đêm cuộc đời, bởi vậy nó chứa đầy trăn trở và suy tư. Để rồi sau cùng, bạn đọc nhận ra rằng, hơn tất thảy, chỉ có tình yêu thương chân thành, sự đồng cảm mới là động lực giúp cô Anne quyết tâm dẫn dắt Helen đến kiệt sức như vậy.

Rất nhiều nhọc nhằn trên vai một người giáo viên dạy trẻ khuyết tật và có những đoạn bạn đọc nín thở chờ đợi với suy nghĩ: Anne sẽ bỏ cuộc thôi, làm sao có thể chịu nổi, thật bất lực… cho đến khi chính Anne lại tìm ra một cách khác để khai mở Helen. Hết lần này đến lần khác... Cho đến khi thành công... 50 năm...

Trong suốt 50 năm ấy, cô giáo Anne gần như không rời xa Helen, luôn đồng hành cùng học trò của mình, lặng thầm trong từng bước tiến để cô bé trở thành một giảng viên, một nữ văn sĩ, nhà hoạt động xã hội và cũng là diễn giả người Mỹ nổi tiếng trên toàn thế giới được hậu thế nghiêng mình ngưỡng mộ khi là người khiếm thị, khiếm thính đầu tiên giành học vị Cử nhân nghệ thuật, có tầm ảnh hưởng lớn và là tấm gương nghị lực phi thường cho những người khuyết tật.

Năm 1933, khi gần như đã mất đi hoàn toàn thị lực và sức khỏe ngày càng suy yếu, cô giáo Anne đã nói với Helen: “Cô đang cố hết sức để sống vì em”. Những lời cuối của Anne Sullivan, được ghi âm bởi Polly Thompson vào ngày 15/10/1936, đã nhắc tới em trai Jimmie của bà, rồi đến Helen: “Cầu Chúa phù hộ cho cô bé khi tôi ra đi”. Không lâu sau đó, cô giáo Anne Sullivan rơi vào hôn mê và mất sau 5 ngày, với bàn tay vẫn nắm chặt tay Helen. Helen mãi mãi là nỗi khắc khoải và cũng là niềm tự hào trong trái tim cô giáo Anne.

Sự gắn kết thầy trò chính là đòn bẩy đưa hai con người, hai số phận đặc biệt ấy vượt lên hoàn cảnh, tựa vào nhau để chiếu sáng cho nhau, cùng dắt nhau bước ra thế giới.

Cuốn sách thú vị tựa một cuốn tiểu thuyết lôi cuốn bởi những tình tiết đan cài khiến ta có cảm giác như đang đọc Đồi gió hú, Trà hoa nữ hay Bà Bovary.

Cô đang cố hết sức để sống vì em.

Anne Sullivan

Gập trang sách lại, một thứ xúc cảm nửa ám ảnh, nửa an yên cứ len lỏi trong tâm trí bạn đọc. Ám ảnh bởi câu chuyện của Helen và Anne dường như không phải câu chuyện cá biệt, bên ngoài kia cũng không ít mảnh đời như Helen đang mong chờ “người đưa đò tận tuỵ” như cô giáo Anne, an yên bởi một niềm tin về hơi ấm của tình thương, tình thầy trò như giữa Anne và Helen vẫn bền bỉ lan tỏa trong xã hội hối hả hiện đại.

Trong nền giáo dục hiện đại ngày nay, các hình thức học tập được số hóa, các ứng dụng công nghệ được phổ cập, bài giảng online, và sắp tới có thể là thầy giáo AI, nhà trường Metaverse… có thể sẽ tạo ra những khoảng cách về giao tiếp, khoảng trống của tình thầy trò. Tuy nhiên, máy móc có thể hỗ trợ hoặc thay thế con người trong việc truyền đạt kiến thức, nhưng không thể thay thế các thầy cô trong việc gieo trồng hạnh phúc, xúc cảm, đặc biệt là với những người khuyết tật.

Các thầy cô giáo, đặc biệt là các thầy cô thuộc khoa giáo dục đặc biệt, chắc chắn sẽ được xốc lại nghị lực, sự nhiệt huyết với nghề, với trò, có thêm nghị lực vượt qua những rào cản tự thân, có niềm tin mạnh mẽ vào sứ mệnh của giáo dục chiến thắng cả những nghịch cảnh tồi tệ nhất và đem lại cơ hội được học tập bình đẳng cho mọi người khi đọc câu chuyện này.

Có thể bạn quan tâm

Tái hiện nghi thức lễ hội truyền thống của dân tộc Chăm.

Gắn bảo tồn di sản với phát triển bền vững

Những điệu múa uyển chuyển, tà áo truyền thống rực rỡ của các thiếu nữ Chăm hòa trong ánh sáng sân khấu, đã tạo nên bức tranh văn hóa lung linh, đưa du khách bước vào hành trình khám phá một nền văn hóa có bề dày hàng nghìn năm lịch sử.

Các đại biểu, khách mời, nghệ sĩ và thí sinh tham dự chương trình.

Áo dài khoe sắc trong không gian văn hóa xứ trà

Trong khuôn khổ chương trình "Trải nghiệm Vô Tranh - Dấu ấn xứ trà" tại Thái Nguyên, cuộc thi "Duyên dáng xứ trà" và màn trình diễn áo dài dân tộc đã thu hút hàng nghìn người dân và du khách, góp thêm điểm nhấn tôn vinh vẻ đẹp của tà áo dài Việt cùng không gian văn hóa vùng chè giàu truyền thống văn hóa và tiềm năng du lịch.

Những sản phẩm từ tranh sơn mài của nghệ nhân Đinh Văn Hùng. (Ảnh: HÀ THƯƠNG)

Sơn mài Bối Khê giữ “hồn nghề” trong hơi thở mới

Làng nghề Bối Khê từng nổi tiếng với những bức tranh sơn mài được chế tác công phu, nay đã mang một diện mạo khác khi những sản phẩm thủ công mỹ nghệ dần thay thế tranh sơn mài truyền thống. Nghề vẫn tiếp tục phát triển, nhưng sự chuyển mình ấy cũng gợi lên nhiều suy ngẫm về vị trí của tranh sơn mài truyền thống trong làng nghề.

Không chỉ là nơi tranh tài, cuộc thi còn mang đến một không gian biểu diễn chuyên nghiệp, giúp các tài năng piano trẻ có cơ hội cọ xát, tích lũy trải nghiệm và trau dồi bản lĩnh sân khấu.

Tín hiệu tích cực trong việc đào tạo âm nhạc tại Hải Phòng

Nhiều thí sinh nhỏ tuổi tự tin trình diễn những tác phẩm ở chuẩn mực chuyên nghiệp, gần 700 người đăng ký dự thi ngay từ vòng sơ khảo - Cuộc thi Tài năng Piano Hải Phòng 2026 tại Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt Tiệp để lại ấn tượng về một phong trào học piano đang lớn dần ở thành phố Cảng.

Thôn bản dân tộc Chứt ở xã Kim Điền, tỉnh Quảng Trị.

Hành trình tìm lại ký ức văn hóa

Dân tộc Chứt là một trong những cộng đồng có dân số rất ít ở Việt Nam, sống tập trung chủ yếu ở Quảng Trị, Hà Tĩnh. Trải qua những biến động lịch sử cùng quá trình giao lưu văn hóa kéo dài, nhiều giá trị truyền thống của người Chứt đã dần mai một, trong đó có trang phục.

Đồi mâm xôi (Lào Cai) thu hút đông đảo du khách vào mùa lúa chín.

Từ bản sắc vùng miền đến sinh kế cộng đồng

Thời gian qua, nhiều cộng đồng vùng cao lựa chọn khai thác những yếu tố cảnh quan thiên nhiên, nghề truyền thống, tập quán sinh hoạt... để xây dựng các sản phẩm du lịch và kể câu chuyện văn hóa của địa phương. 

Nghệ sĩ Nhân dân Trà Giang (bên trái) nhận sách "Những gì tôi thấy ở Việt Nam" từ Viện trưởng Viện Phim Việt Nam Lê Thị Hà và Ngài Đại sứ Azerbaijan tại Việt Nam.

Nghệ sĩ Nhân dân Trà Giang và những trang sách ký ức của người thầy

Hơn 60 năm trước, theo lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cố nhà văn, đạo diễn Ajdar Ibrahimov người Azerbaijan đã sang Việt Nam để gieo những hạt giống đầu tiên cho nền điện ảnh cách mạng. Mùa hạ năm nay, ông đã trở lại đất nước Việt Nam hằng yêu mến qua cuốn sách của mình cùng cuộc hội ngộ thiêng liêng tình thầy trò.

Triển lãm thu hút đông đảo công chúng thưởng lãm các tác phẩm hội họa. (Ảnh: Ban tổ chức)

Kết nối mỹ thuật Việt Nam-Trung Quốc qua triển lãm "Đồng nguồn sơn thủy-Cộng sinh văn minh”

Chiều 28/6, tại Trung tâm Triển lãm Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam (số 2 Hoa Lư, phường Hai Bà Trưng, Hà Nội), Hội Mỹ thuật Việt Nam phối hợp Học viện Nghệ thuật Quảng Tây (Trung Quốc) và Hội Xúc tiến Trường phái hội họa Ly Giang Quảng Tây khai mạc triển lãm “Đồng nguồn sơn thủy-Cộng sinh văn minh".

Hội thảo thu hút sự quan tâm của đông đảo giới chuyên gia nghiên cứu. (Ảnh: MINH DUY)

Đền Cơ Xá trong mạch nguồn văn hóa Thăng Long

Sáng 28/6, Trung tâm nghiên cứu và bảo tồn văn hóa tín ngưỡng Việt Nam đã phối hợp cùng Tiểu ban quản lý di tích đền Cơ Xá tổ chức hội thảo khoa học “Đền Cơ Xá và việc phụng thờ Thái úy Lý Thường Kiệt trong không gian văn hóa Thăng Long-Hà Nội xưa và nay”.

Nhà làm phim Bill Mechanic tại họp báo Liên hoan phim. (Ảnh: ANH VŨ)

Những vị khách đặc biệt của Liên hoan phim châu Á-Đà Nẵng

Liên hoan phim châu Á-Đà Nẵng (DANAFF) năm nay ghi dấu ấn sự hiện diện của nhiều khách mời là những ngôi sao điện ảnh, nhà làm phim, nhà sản xuất nổi tiếng thế giới, từ Hàn Quốc đến Hollywood, và cả những nghệ sĩ đại diện cho các thời kỳ điện ảnh Việt Nam.