Mùa nước nổi ở làng nghề đóng xuồng trăm tuổi

Chúng tôi men theo các cánh đồng ngập nước tỉnh Đồng Tháp. Thỉnh thoảng xuất hiện vài chiếc xuồng đi đặt dớn, giăng lưới bắt cá. Giờ đây, khi các tuyến đường nhựa, đường bê-tông ngày càng được đầu tư, mở rộng, ghe xuồng tại các nhánh sông, trên đồng cũng thưa dần.

Sản phẩm xuồng, ghe mi-ni người dân đóng bán cho du khách.
Sản phẩm xuồng, ghe mi-ni người dân đóng bán cho du khách.

Dẫu vậy, mỗi khi đến mùa nước nổi, trong mỗi người dân vùng sông nước không khỏi bồi hồi nhớ về những chiếc xuồng, ghe một thời vừa là phương tiện đi lại, mưu sinh, vừa giữ gìn nét văn hóa đặc trưng.

Giữ lửa nghề ở rạch Bà Đài

Men theo rạch Bà Đài, tôi tìm đến Làng nghề đóng xuồng, ghe Long Hậu, nay là xã Hòa Long, tỉnh Đồng Tháp, đã tồn tại hơn trăm năm. Qua bao thăng trầm, có lúc tưởng như làng nghề sẽ... “tắt lửa”. Nhưng không, 23 hộ dân vẫn cần mẫn giữ nghề truyền thống của cha ông. Anh Nguyễn Văn Quới (sinh năm 1968, ngụ ấp Long Hòa) vẫn đang say sưa với công việc thường nhật, ráp những be xuồng vào và làm các công đoạn cuối để chuyển cho nhân công chét chai, sớm giao cho khách.

Anh Quới được cha truyền nghề từ năm 13 tuổi. Khi ấy, anh thường xuyên đi theo những người trong gia đình đến các vườn tìm mua cây gỗ sao (loại gỗ từ 30 năm tuổi trở lên) mang về đóng xuồng. Những chiếc xuồng cui, xuồng Cần Thơ, ghe tam bản rất đắt hàng, khách nườm nượp tìm đến mua và chở đi tiêu thụ (chủ yếu đi bằng đường sông). Hơn chục năm trở lại đây, xưởng của gia đình phải đóng cửa, anh Quới vẫn là thợ lành nghề cho một xưởng khác. “Trước đây, tôi chủ yếu đóng xuồng cui bán cho những người đi giăng lưới, thả câu và nông dân làm phương tiện trong mùa nước nổi. Nhu cầu dùng xuồng ghe ngày càng giảm nhưng vì phần nhớ nghề, phần để có tiền lo cho gia đình, tôi vẫn theo nghề. Mỗi ngày công tôi được trả 300.000 đồng”, anh Nguyễn Văn Quới chia sẻ.

Người thợ làm việc quanh năm, nhưng bận bịu hơn vào mùa nước nổi, khoảng tháng 7-9 âm lịch. Anh Nguyễn Ngọc Thật, ngụ tại xã Lấp Vò gắn bó với nghề sông nước từ nhỏ và thường phải đi mua sắm phương tiện cho gia đình. Anh Thật cho biết: “Mỗi chiếc xuồng thường sử dụng hai đến ba mùa nước. Từ trước đến nay, mỗi khi cần mua xuồng ghe, tôi đều tìm về rạch Bà Đài, vì tôi tin vào chất lượng gỗ và tay nghề của thợ”.

Để tiết kiệm tiền thuê xe chở về nhà, sau khi chốt giá, anh Thật thường nhờ chủ trại mang xuồng ra bến sông, rồi tự bơi 5 km về cách nhà để... thử xuồng.

Cùng tôi đến rạch Bà Đài hôm ấy có ông Lê Thanh Hồng, chuyên viên Phòng Văn hóa-Xã hội xã Hòa Long. Qua từng trại cưa xẻ gỗ, trại đóng xuồng, ghe, ông chỉ cho chúng tôi biết cơ sở nào tồn tại lâu đời, cơ sở nào trước đây từng đông khách, nhưng nay đã chuyển hướng sang nghề khác. Ông Hồng vốn là người quê xã Long Hậu (nay là xã Hòa Long) và từng có thời gian đóng xuồng, ghe, do đó, những công đoạn đóng một chiếc xuồng, hay những bước thăng trầm về nghề ông nắm rất rõ. Ông Hồng kể: Nghề đóng xuồng, ghe tại các xóm ven rạch Bà Đài hình thành và phát triển mạnh từ đầu thế kỷ 20. Người dân nơi đây biết ơn ông Phạm Văn Thuông (1875-1945), thường được gọi là ông Sáu Xuồng Cui là tổ nghề. Rất nhiều người năm xưa là học trò, được ông truyền dạy từ cách chọn gỗ đến kỹ thuật đóng, sơn, sửa chữa. Từ đây, xuồng cui và ghe tam bản rạch Bà Đài dần trở thành sản phẩm đặc trưng, được biết đến rộng rãi trong toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long, góp phần lưu giữ và phát huy giá trị văn hóa nghề truyền thống của vùng sông nước Nam Bộ.

Hướng đi mới cho chiếc xuồng

Thời hoàng kim, nhất là giai đoạn 1978-2000, Làng nghề đóng xuồng, ghe Long Hậu có hơn 200 hộ và cơ sở, tạo việc làm cho hơn 1.000 lao động. Mỗi năm, hàng chục nghìn chiếc xuồng, ghe mang thương hiệu Bà Đài theo những dòng kênh, sông, theo những cánh đồng mùa nước nổi tỏa đi khắp các tỉnh, thành phố miền Tây Nam Bộ.

Từ những năm 2010 đến nay, đường bộ ngày một phát triển, nhu cầu đi lại bằng phương tiện xuồng, ghe ngày một ít dần. Ngoài ra, xuồng ghe gỗ dần bị thay thế bởi phương tiện bằng kim loại, composite. Làng nghề bước vào những mùa khó khăn. Đỉnh điểm là năm 2020-2023, nhiều ghe đóng xong không bán được, phải nằm phơi mưa nắng. Nhiều người bỏ nghề, những xưởng đóng xuồng, ghe ngày một thưa vắng...

Từ hàng trăm hộ, đến nay chỉ còn 23 hộ với hơn 100 lao động bám trụ nghề xưa bằng những hướng đi mới. Những người thợ không chỉ giữ cách đóng xuồng, ghe của cha ông, mà còn tìm cách để sản phẩm truyền thống thích ứng với cuộc sống hôm nay. Ông Nguyễn Văn Tốt (thường gọi Bảy Tốt) là một trong những người như thế.

Gia đình ông Bảy Tốt có bốn đời làm nghề đóng xuồng, ghe. Những chiếc xuồng, ghe gỗ ngày càng khó tìm đầu ra, ông Bảy Tốt không khỏi lo lắng nghĩ đến một ngày làng nghề nổi danh miền sông nước dần đến nguy cơ mai một. Chính vì thế, ông đã tiên phong tìm hướng đi mới khi “thu nhỏ” thành sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Từ những mẫu xuồng, ghe được đóng ở rạch Bà Đài như: ghe tam bản, xuồng ba lá, cui, xuồng Cần Thơ đến ghe ngo, thuyền rồng... đã được ông Bảy Tốt kỳ công tái hiện với kích thước nhỏ bằng các loại gỗ phù hợp để trưng bày. Sản phẩm của ông có màu sắc tự nhiên, đẹp và giữ độ bền ở trên khô như: lõi mít, gỗ dầu u, me tây... Hiện, ông Bảy Tốt đã sáng chế 25 mẫu xuồng, ghe mi-ni. Mỗi sản phẩm có giá từ 600 nghìn đồng đến sáu triệu đồng, tùy mẫu mã, kích thước, đã mang lại cho gia đình ông doanh thu hàng trăm triệu đồng mỗi năm.

12-5493.jpg
Để đóng được ghe, xuồng tốt, người nghệ nhân phải lựa chọn các loại gỗ bảo đảm tiêu chuẩn.

“Làng nghề đóng xuồng, ghe đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Giờ đây, nhiệm vụ của chúng tôi là phải gìn giữ nghề mà tổ tiên để lại. Chính vì lẽ đó mà tôi luôn bám nghề và không ngừng tìm tòi, học hỏi để cho ra những sản phẩm mới, có tính thẩm mỹ cao”, ông Bảy Tốt tâm sự.

Ông Nguyễn Văn Tám, chủ cơ sở Tám Xuồng từng không ít lần nhận đóng chiếc ghe lớn tải trọng khoảng 40-50 tấn. Lúc ấy, ông Tám là thợ chính cho một cơ sở có tiếng trong làng. Tuy nhiên, khi thị trường ghe gỗ ngày càng thu hẹp, ông Tám về mở xưởng và chọn đóng xuồng, ghe kích cỡ nhỏ, cỡ vừa để bán cho khách du lịch mua về trang trí phòng, hoặc các cơ quan, đơn vị mua trang trí cho lễ hội. “Xuồng, ghe mi-ni này làm cực hơn so với loại lớn, phải tuân thủ kỹ thuật và giống xuồng ghe lớn, với đầy đủ chi tiết. Bù lại sản phẩm bán được cho nhiều khách”, ông Tám cho biết.

Ông Tám giới thiệu với chúng tôi một chiếc xuồng cui mi-ni dài khoảng 70 cm, mất khoảng hai ngày để hoàn thiện, được bán với giá 600 nghìn đồng. Có loại xuồng mi-ni kích cỡ lớn hơn, kỹ thuật đóng khó nên giá cao hơn. Vào mùa cao điểm, cơ sở Tám Xuồng sản xuất được khoảng 20 chiếc xuồng, ghe mi-ni mỗi tháng, thu nhập đạt 10-20 triệu đồng. “Những sản phẩm nhỏ không chỉ là nguồn thu nhập mà còn là cách để tiếp tục giữ nghề truyền thống”, ông Tám bộc bạch.

Thật mừng, khách du lịch đang ngày càng quan tâm đến các sản phẩm mang tính trang trí, kỷ niệm, đã tạo động lực cho người làm nghề. Người dân cũng vơi dần nỗi ám ảnh, khi chứng kiến nhiều chiếc ghe hàng chục tấn từng được hoàn thiện, tốn công, tốn của nhưng phải vứt bỏ vì mưa nắng.

Nói về chính sách bảo tồn và hỗ trợ người dân ở làng nghề, bà Phạm Thị Hoài, Phó Trưởng Phòng Văn hóa-Xã hội xã Hòa Long cho biết: Trước đây, địa phương từng đề xuất với ngành chức năng về việc mở rộng đường giao thông để phát triển du lịch trải nghiệm tại rạch Bà Đài. Hiện nay, sau khi sáp nhập các đơn vị hành chính, địa phương đang tiếp tục rà soát trên cơ sở quy hoạch tổng thể để có phương án triển khai. Địa phương cũng như các đơn vị chuyên môn có liên quan tham mưu Đảng ủy và Ủy ban nhân dân xã trình tỉnh xây dựng các cơ chế, chính sách ưu đãi nhằm gắn kết việc phát triển làng nghề với chương trình Xây dựng nông thôn mới.

Theo thời gian, nhiều nghệ nhân giỏi nghề như ông Tám Hay, Năm Nam, Ba Khải (Ba Nhơn)... đã tích cực truyền nghề cho con cháu. Sản phẩm của các nghệ nhân có độ bền chắc, tinh xảo. Ghe xuồng của làng góp mặt ở các chợ nổi, là phương tiện đi lại của nhiều hộ gia đình trong vùng.

Có thể bạn quan tâm

Việc lần đầu “sân khấu hóa” lòng hồ Nà Hang với chương trình nghệ thuật thực cảnh kết hợp công nghệ và văn hóa bản địa cùng sự tham gia của người dân địa phương mở ra hướng mới trong phát triển sản phẩm du lịch cho vùng cao này.

Đánh thức “Long mạch” Nà Hang

Nà Hang (Tuyên Quang), cái tên gợi về một miền cao không còn quá xa vì cách trở địa lý, nhưng cũng chẳng thật gần bởi vẫn còn đó những vỉa tầng nguyên sơ và thu hút mà không dễ gì có thể khám phá trong một khoảng thời gian hữu hạn. Sắc màu văn hóa, cảnh quan kỳ vĩ và chút hư ảo từ truyền thuyết xưa tạo nên chất liệu quý giá để Nà Hang hôm nay kể câu chuyện riêng có theo cách thức kết nối được với thế giới.

Nhiều đoạn kênh của công trình Bắc Hưng Hải đang bị ô nhiễm nặng. Ảnh: Minh Khang

Bắc Hưng Hải - Khắc khoải ngày được hồi sinh

Những năm 60, 70 của thế kỷ trước, Bắc Hưng Hải được xây dựng, trở thành niềm tự hào của ngành thủy lợi với sứ mệnh đưa dòng nước ngọt về đánh thức những cánh đồng, góp sức làm nên những mùa vàng trù phú vùng Đồng bằng Bắc Bộ. Tiếc rằng, giờ đây dòng nước mát lành ấy đang bị ô nhiễm, nhiều đoạn chỉ còn một màu nước đen kịt, rác thải bủa vây.

Một chiếc ví phủ bùn đất, có thể chứa những manh mối vô giá về các anh hùng liệt sĩ vô danh.

Hành trình kỷ vật từ lòng đất sâu

Ngày 26/7, trưa nắng trên khu vực lô cao-su 97 (xã Minh Đức, thành phố Đồng Nai), Đại tá Nguyễn Thanh Phong, Chính ủy Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố Đồng Nai, thắp hương trước ba hầm mộ, rồi quay ra bảo: “Mong các chú các bác phù hộ cho thêm chỉ dẫn, tìm kiếm được thêm di vật, còn xác minh được danh tính đưa các liệt sĩ về với người thân”.

Nghệ nhân Lê Thị Kề (trái) hướng dẫn cách đan võng ngô đồng.

Thắp lại lửa nghề trên đảo ngọc

Cây ngô đồng, ngày càng sinh sôi, nảy nở quanh đảo Cù Lao Chàm, đã trở thành loài cây đặc hữu của xã đảo Tân Hiệp, thành phố Đà Nẵng. Song, nghề thủ công truyền thống đan võng ngô đồng, được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi tên vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, lại có thể trôi vào quá vãng, nếu không có biện pháp gìn giữ, phát huy.

Chợ cá Tam Tiến, xã Tam Xuân nhộn nhịp nhờ nguồn lợi hải sản dồi dào. Ảnh: Anh Quân

Rạn Bà Đậu đang hồi sinh

Năm 2022, Tổ cộng đồng bảo vệ nguồn lợi thủy sản rạn Bà Đậu ở xã Tam Xuân, thành phố Đà Nẵng được thành lập theo cơ chế đồng quản lý của Luật Thủy sản 2017. Qua hơn bốn năm hoạt động, với sự tham gia chủ yếu của người dân địa phương, Tổ đã cùng chung tay bảo vệ, giữ gìn hơn 64 ha mặt nước. Nhờ thành quả ấy, đến nay, các bãi san hô nơi đây dần phục hồi và đón nhận sự trở lại cư ngụ của nhiều loại hải sản có giá trị.

Ông Hoàng Ngọc Bích bên tấm bia ghi danh sách các đồng đội ngã xuống tại chiến trường Quảng Trị. Ảnh: NVCC

Kỳ 2: Những đôi chân không mỏi

Hành trình trả lại tên tuổi cho những anh hùng, liệt sĩ hy sinh vì Tổ quốc đang được thực hiện gấp gáp, với tinh thần và trách nhiệm cao nhất. Trong nhiều năm, không ít thương, bệnh binh trực tiếp tham gia chiến đấu ở chiến trường cũng đã âm thầm tìm kiếm thông tin, kết nối, phối hợp cơ quan chức năng trả lại tên cho đồng đội, góp sức đưa hài cốt liệt sĩ về với quê hương, gia đình.

Quy tập hài cốt liệt sĩ được tìm thấy tại Công viên Lê Thị Riêng (Thành phố Hồ Chí Minh).

Kỳ I: Thần tốc với tất cả tấm lòng

Hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2027), với quy mô quốc gia, “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” (Chiến dịch 500 ngày đêm) đã và đang huy động sự vào cuộc đồng bộ từ quân đội, chính quyền địa phương và sự tham gia đông đảo của các chuyên gia, nhà khoa học, cựu chiến binh, thân nhân liệt sĩ…

Đà Nẵng triển khai Chiến dịch 500 ngày đêm tại Nghĩa trang liệt sĩ Hòa Tiến.

Hành trình đưa các anh trở về đất mẹ

Tháng 7, giữa những ngày nắng như đổ lửa ở Đà Nẵng, lực lượng thu nhận mẫu sinh phẩm thân nhân liệt sĩ vẫn miệt mài làm việc tại các nghĩa trang liệt sĩ. Mỗi mẫu ADN được thu nhận là thêm một niềm hy vọng xác định danh tính các liệt sĩ còn thiếu thông tin, đưa các anh trở về với gia đình, quê hương. Đó cũng là ý nghĩa nhân văn sâu sắc của “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”, góp phần tri ân những người đã hy sinh vì Tổ quốc.

Du khách nhí bên đầm sen ở Sơn Mỹ hôm nay. Ảnh: Hạnh Đỗ

Sen trên đất lửa

Mỗi sớm hè, đầm sen ở xóm Khê Thuận (xã Tịnh Khê, tỉnh Quảng Ngãi) lại rộn rã tiếng nói, cười. Người đến chụp ảnh. Người ngồi lặng bên bờ hít hương thơm còn vấn vít hơi sương. Thi thoảng có khách đường xa ngạc nhiên hỏi vì sao giữa vùng đất cát ven biển lại có một đầm sen rộng đến vậy. Rồi bất ngờ khi biết những bông sen đang xòe cánh này chỉ cách Khu chứng tích Sơn Mỹ chừng 1 km. Hơn nửa thế kỷ trước, trên vùng đất này là tiếng súng, tiếng khóc ai oán. Hôm nay, ở nơi từng là đất chết ấy, sen đang nở.

Người dân luôn phải đối mặt tình trạng được mùa mất giá. Ảnh: THANH SANG

Trăn trở vùng xoài

Nhiều xóm làng yên bình ở các xã Cam Lâm, Suối Dầu… được bao bọc bởi sự mát xanh của những vườn xoài. Từ nhiều năm nay, xoài là thứ quả ngọt ngào mang dấu ấn riêng khi nhắc đến Khánh Hòa, nhưng hiện nay việc tiêu thụ gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống nông dân.

Những “bà thím” vốn tự ti nay đã tự tin giới thiệu, chia sẻ kinh nghiệm làm du lịch. Ảnh: Hợp tác xã du lịch cộng đồng Gò Cỏ

Lời của đá

Là vùng lõi của Văn hóa Sa Huỳnh - một trong ba nền văn minh cổ lớn của nước ta với niên đại hơn 2.500 năm - làng di sản Gò Cỏ (phường Sa Huỳnh, tỉnh Quảng Ngãi) mang một bí mật không được viết thành chữ,...

Hai kiện tướng Phạm Quang Thành (trái) và Đinh Đức Huy chia sẻ về nghề lái tàu. Ảnh: Diên Khánh

Tinh thần thép của tài xế hỏa xa

Người lái tàu được giao sứ mệnh là những người “cầm cương”, giúp cho mỗi hành trình dù gần hay xa được an toàn. Ngoài kinh nghiệm, sự tinh nhạy, họ phải có tinh thần thép để đối mặt với nhiều tình huống khẩn cấp.

Vẻ đẹp Lý Sơn, Quảng Ngãi. (Ảnh THÀNH ĐẠT)

QUA MIỀN CỬA BIỂN

Người ta ví miền trung nước ta như cái ban-công của bán đảo Đông Dương nhìn ra biển, nơi có tuyến hàng hải đông đúc thứ nhì thế giới.

Tổng Tư lệnh, Ðại tướng Võ Nguyên Giáp thăm Bộ đội Trường Sơn. Ði bên cạnh là Tư lệnh Ðồng Sỹ Nguyên. (Ảnh tư liệu).

Lời thừa nhận từ đối phương

Kho lưu trữ tại Đại học Texas Tech chứa hàng triệu trang tài liệu giải mật về Đường Trường Sơn, trong đó phía Mỹ thừa nhận đây là “kỳ tích hậu cần” và “một trong những thành tựu vĩ đại nhất của kỹ thuật quân sự thế kỷ 20”, bất khả chiến bại trước sức mạnh công nghệ hiện đại của họ.

Ông Vũ Kim Điều, chiến sĩ Điện Biên kể về trận đánh mở màn vào “cánh cửa thép Him Lam” trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Nén tâm hương dưới trời Tây Bắc

Cách trung tâm chỉ huy của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ 2,5 km về phía Đông Bắc, chính là nơi ghi dấu trận đánh mở màn của bộ đội ta trong Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh - nơi lưu dấu người đi mở cõi. (Ảnh: HÀ ANH CHIẾN)

Thành phố phía đông

Tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, trong chương trình làm việc, Quốc hội cho ý kiến để tỉnh Đồng Nai trở thành thành phố Đồng Nai. Đây là một cột mốc rất quan trọng, đáng nhớ của đất và người Đồng Nai khi hội đủ các yếu tố trở thành thành phố trực thuộc Trung ương.

Các cựu tù trong một lần ra thăm Côn Đảo.

“Địa ngục trần gian” và vùng ký ức bi tráng

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng trong tâm trí những cựu tù Côn Đảo (nay thuộc Đặc khu Côn Đảo, Thành phố Hồ Chí Minh) ký ức về những năm tháng đói khổ, đớn đau vì bị giam cầm, tra tấn nơi “địa ngục trần gian” vẫn còn nguyên vẹn.

Anh Duyệt chia sẻ về hành trình sưu tầm những vỏ bom lớn.

Kể chuyện hòa bình bằng kỷ vật chiến tranh

Rất nhiều người đã lặng lẽ, dày công sưu tầm các hiện vật gắn với thời “mưa bom bão đạn”. Đó không chỉ là cách gìn giữ ký ức về tinh thần của cha ông ta trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại, mà còn hướng đến giáo dục thế hệ hôm nay biết trân trọng giá trị của hòa bình.

Sinh viên Đại học Sư phạm Hà Bắc trao đổi quà lưu niệm với sinh viên Việt Nam.

Hào khí thanh xuân trên dặm dài Hành trình đỏ

“Sui, sui, sui sui sui, suiii”… Cho tới thời điểm bước lên máy bay rời khỏi Côn Minh (Trung Quốc), trong đầu tôi vẫn âm vang tiếng hô của đoàn sinh viên Việt Nam, hòa cùng những người bạn dân tộc Di. Hào sảng, gắn kết và tràn ngập tiếng cười.

Nhà giàn thế hệ đầu tiên thiết kế dạng pông-tông đóng trên bãi cạn Phúc Tần. (Ảnh tư liệu)

Nhà giàn DK1 - Biểu tượng tinh thần thép

Gần 40 năm qua, hệ thống Nhà giàn DK1 sừng sững giữa biển trời như cột mốc khẳng định chủ quyền thềm lục địa thiêng liêng của Việt Nam. Trong chuyến vượt biển trước thềm xuân, chúng tôi đã có cơ hội tìm gặp những nhân chứng để ngược thời gian trở về giai đoạn ban đầu xây dựng nên “thành đồng” trên thềm lục địa phía nam Tổ quốc.

Người dân thực hiện thủ tục hành chính tại Trung tâm phục vụ hành chính công phường Lâm Viên - Đà Lạt.

Tết năm nay sẽ lưu vào ký ức

Lễ hội hoa Mai anh đào Đà Lạt vào dịp cuối năm nay có thêm nhiều cư dân mới của tỉnh Lâm Đồng cùng gia đình dạo phố, chụp ảnh lưu dấu lần đầu với loài thảo mộc đặc trưng phố núi.

Đoàn tàu giữa không gian hùng vĩ, nên thơ của "thiên hạ đệ nhất hùng quan" Hải Vân. (Ảnh Trần Ngọc Tiến, Xí nghiệp Đầu máy Sài Gòn)

Trên hành trình hạnh phúc

Một hành khách đứng lặng trên sân ga, dõi theo đoàn tàu vừa lăn bánh. Trên thân tàu, sắc đỏ và vàng của cờ Tổ quốc nổi bật, hòa cùng sắc xanh rừng núi mây trời với những họa tiết cách điệu thanh nhã và logo Báo Nhân Dân nổi bật chạy dài theo từng toa.

Du khách tham gia chương trình du lịch học tập trên đồng muối Sa Huỳnh.

Tình người làng muối

Dọc ven biển, nơi nước gặp đất, sóng gặp phù sa, hàng vạn diêm dân vẫn lặng lẽ chắt chiu từng chút nước, lấy cái khắc nghiệt của thiên nhiên mà hóa thành hạt mặn cho đời. Không đơn thuần là một nghề, với họ muối là sự tiếp nối, là tình yêu và cách tri ân vùng đất đã nuôi dưỡng gia đình qua bao thế hệ.

GS Hồ Ngọc Đại và nhà giáo Nguyễn Trung Chính (bên phải) - hai người thầy tóc bạc vẫn hết lòng hướng về trẻ thơ.

Những người thầy tóc bạc

Mới đây, Nhân Dân cuối tuần nhận được một lá thư dài viết tay với nét bút gọn, khẳng khái của một nhà giáo ở thành phố Hải Phòng.

Chương trình văn nghệ Kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh tại Quảng trường Ba Đình sáng 2/9/2025.

Vinh quang mãi mãi thuộc về Nhân dân!

Đó là câu cuối trong bài diễn văn súc tích, ý nghĩa của Tổng Bí thư Tô Lâm trên Quảng trường Ba Đình lịch sử tại Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 vừa qua. Cũng tại nơi đây, lời Quốc ca vang lên cùng những hình ảnh cờ hoa, những gương mặt ngời lên rạng rỡ của vạn người sẽ mãi mãi ghi vào tâm khảm nhân dân.