Bắc Hưng Hải - Khắc khoải ngày được hồi sinh

Những năm 60, 70 của thế kỷ trước, Bắc Hưng Hải được xây dựng, trở thành niềm tự hào của ngành thủy lợi với sứ mệnh đưa dòng nước ngọt về đánh thức những cánh đồng, góp sức làm nên những mùa vàng trù phú vùng Đồng bằng Bắc Bộ. Tiếc rằng, giờ đây dòng nước mát lành ấy đang bị ô nhiễm, nhiều đoạn chỉ còn một màu nước đen kịt, rác thải bủa vây.

Nhiều đoạn kênh của công trình Bắc Hưng Hải đang bị ô nhiễm nặng. Ảnh: Minh Khang
Nhiều đoạn kênh của công trình Bắc Hưng Hải đang bị ô nhiễm nặng. Ảnh: Minh Khang

Từ đại công trình đến dòng sông ô nhiễm

Tôi tìm về cống Xuân Quan, công trình đầu mối của hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải. Gần bảy thập kỷ đã trôi qua kể từ ngày 1/10/1958, khi Thủ tướng Phạm Văn Đồng phát nhát cuốc mở đầu công cuộc xây dựng đại công trình thủy nông lớn nhất miền bắc. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, công trình có sự tham gia của hàng vạn bộ đội, dân công, học sinh, sinh viên và cán bộ các cơ quan Trung ương, địa phương. Thời điểm cao nhất lên đến 30 nghìn người. Để có được mặt bằng xây dựng công trình, gần 150 hộ gia đình làng cổ Bát Tràng đã tự nguyện di dời nhà ở, hiến đất xây kênh.

Giờ đây, cống Xuân Quan vẫn vững chãi giữa một vùng đồng bằng đã đổi thay. Từ phía cửa lấy nước, dòng phù sa đỏ nặng của sông Hồng lặng lẽ theo những cánh cửa mở dưới chân đê, nhập vào hệ thống kênh dẫn rồi tỏa đi khắp những cánh đồng. Đứng bên dòng nước ấy, thật khó hình dung nơi đây từng là một đại công trường với hàng vạn con người tham gia góp sức. Nhưng ký ức của các nhân chứng từng tham gia lao động, chứng kiến thì vẫn còn nguyên vẹn. Trong câu chuyện của họ có tiếng cuốc, tiếng xẻng, âm hưởng của những đoàn người nối dài gánh đất tiếng hát, tiếng cười ghi dấu những ngày lao động không mệt mỏi.

Ông Lê Ngọc Kỉnh, xã Phụng Công, tỉnh Hưng Yên vẫn nhớ như in những ngày mà các lực lượng tham gia làm việc với không khí khẩn trương, đông như đi hội. “Xưa gọi là kênh, sau này là sông. Người dân từ khắp nơi về làm công trình. Người gánh đất, người đào đất, người xây cống... Trong đó, có nhiều người làng tôi, có cha mẹ tôi... Công trường lúc nào cũng rộn ràng. Công trình hoàn thành chỉ sau bảy tháng, vượt tiến độ trong niềm vui lớn của người dân”, ông Kỉnh kể. Ngày đó, dù là chàng thanh niên mới lớn, ông đã có thể giúp những công việc giản đơn. Theo ông Kỉnh, trước khi có kênh, nhiều cánh đồng thường xuyên khô hạn, việc canh tác phụ thuộc vào mưa nắng, mùa được mùa mất. Rồi con kênh hình thành, nước sông Hồng được dẫn về các cánh đồng, làm nên những mùa vụ bội thu.

Không khí những ngày xây dựng kênh Bắc Hưng Hải cũng lưu dấu trong ký ức ông Nguyễn Hồng Phát, 78 tuổi. Lần giở những bức ảnh đã nhuốm màu thời gian, ông Phát chỉ cho tôi từng gương mặt gắn với công trình mà gia đình ông có một mối duyên đặc biệt. Trong số ấy có ông Hà Kế Tấn, người từng trực tiếp chỉ huy công trường Bắc Hưng Hải, sau này trở thành Bộ trưởng Bộ Thủy lợi, kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Trị thủy và Khai thác sông Hồng. Ông Phát cũng chia sẻ về cha mình - cụ Nguyễn Văn Tuệ, người được giao làm trưởng trạm Quản lý công trình Xuân Quan khi công trình hoàn thành. Với gia đình ông Phát, Bắc Hưng Hải không chỉ là một công trình thủy lợi lớn, mà còn là một phần ký ức gia đình, nơi những con người từng đi qua gian khổ kháng chiến, để rồi tiếp tục gặp nhau trong công cuộc phục vụ sản xuất và chăm lo cuộc sống nhân dân.

Ông Phát tự hào: “Những ngày ấy điều kiện thi công còn vô cùng thiếu thốn, nhưng nhân dân ta đã làm nên cả một đại công trình. Sau đó, nhiều công trình thủy lợi quy mô lớn tiếp tục được đầu tư xây dựng trên khắp miền bắc và cả nước. Mỗi công trình một quy mô, địa hình khác nhau, nhưng đều có câu chuyện riêng, góp thêm những mạch nước cho đồng ruộng và đời sống. Tuy vậy, Bắc Hưng Hải vẫn có nét khác biệt”.

Bà Nguyễn Thị Yến, thôn 5 xã Phụng Công giãi bày: “Ngày xưa, ở công trình thân thương này cá tôm đầy ắp. Những đứa trẻ lớn lên bên dòng nước, quen với bến sông như một phần tự nhiên của tuổi thơ. Đến đời cháu chắt, dòng sông vẫn còn đó, nhưng không còn được tắm sông nữa”.

Đứng bên Bắc Hưng Hải, người ta không khỏi chạnh lòng. Dòng nước từng mang phù sa về ruộng đồng nay nhiều nơi đen đặc, mang theo rác thải và nước thải. Một công trình từng làm nên niềm tự hào của cả vùng đang oằn mình dưới sức nặng của ô nhiễm. Theo nhiều người dân, trước kia, mỗi khi nạo vét bùn đất dưới lòng sông, người dân còn mang lớp bùn ấy về cải tạo ruộng, trồng ngô, trồng khoai. Đất ven sông vì thế gắn với từng mùa vụ, từng bữa cơm của người dân. Bây giờ, những triền bờ vẫn xanh ngút mắt. Cây cối, cây cảnh, cây công trình vẫn được trồng dọc theo hành lang sông. Chỉ có một nghịch lý là ngay bên dòng nước ấy, người ta lại phải lấy nước giếng khoan, nước mưa để tưới.

Đâu là lời giải?

Theo tính toán của ngành chức năng, mỗi ngày đêm có khoảng 538.838m³ nước thải xả vào hệ thống Bắc Hưng Hải. Nguồn thải phân bố trên toàn lưu vực, trong đó Hưng Yên chiếm khoảng 31%, Hải Phòng 21%, Hà Nội 13% và Bắc Ninh hơn 9%. Nhiều nguồn xả chưa được kiểm soát hoặc xử lý đạt yêu cầu, khiến ô nhiễm kéo dài.

Những năm qua, không ít lần các cơ quan chức năng, địa phương có kế hoạch xử lý ô nhiễm cho dòng kênh này. Ngày 10/10/2022 Bộ Tài nguyên và Môi trường (cũ) ban hành Quyết định số 2625/QĐ-BTNMT về Kế hoạch kiểm soát, xử lý ô nhiễm nguồn nước hệ thống công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải; Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội từng xây dựng Đề án bảo vệ môi trường lưu vực sông Cầu Bây - Bắc Hưng Hải giai đoạn 2021-2025; ngày 16/7/2024, Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên ban hành Công văn số 1985/UBND-KT2 về việc tăng cường giải pháp kiểm soát, xử lý ô nhiễm môi trường hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải trên địa bàn tỉnh… Thế nhưng vẫn chưa có biện pháp khả thi nhất.

Đầu năm 2026, Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai Nghị quyết số 247/2025/QH15 ngày 10/12/2025 của Quốc hội về tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường. Kế hoạch đặt ra chín nhiệm vụ trong năm 2026 để các bộ, ngành, địa phương liên quan triển khai thực hiện. Trong đó, có việc cải thiện chất lượng môi trường một số đoạn sông bị ô nhiễm nghiêm trọng trên các sông Ngũ Huyện Khê, Tô Lịch và Hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải.

Theo đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ trình Chính phủ đưa việc xử lý ô nhiễm hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải vào danh mục dự án cấp bách, với tổng kinh phí khoảng 38.500 tỷ đồng. Trong đó, Bộ bố trí 6.000 tỷ đồng, phần còn lại do Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên và Hải Phòng chịu trách nhiệm.

Tại một tọa đàm gần đây, GS,TS Trần Đức Hạ, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cấp thoát nước và Môi trường đã chia sẻ đầy nhiệt huyết về việc hồi sinh kênh Bắc Hưng Hải. Trong câu chuyện của ông vẫn thấp thoáng một niềm tin rằng con kênh có thể trở lại với hình hài vốn có, nếu toàn hệ thống được nhìn nhận như một chỉnh thể thống nhất. “Dòng nước cứ chảy từ nơi này sang nơi khác, len qua những cánh đồng, những làng quê, những khu dân cư ngày một đông đúc. Vì thế, muốn hồi sinh, trước hết phải có một cơ chế đủ mạnh để các địa phương cùng chia sẻ trách nhiệm”, ông Hạ gợi mở.

Còn theo PGS, TS Đào Trọng Tứ, Trưởng ban điều hành Mạng lưới sông ngòi Việt Nam, cần đánh giá lại nhu cầu sử dụng nước tại hệ thống sông để có phương án cải tạo hữu hiệu. Bởi trong quá trình phát triển, xây dựng khu công nghiệp, khu dân cư, nhu cầu cấp và thoát nước của cả hệ thống đã thay đổi. “Chúng ta có hệ thống di sản sông, kênh rạch nhưng đã không bảo vệ tốt. Để cải thiện ô nhiễm, cần chặn ngay nguồn xả thải bằng quyết tâm cao nhất của các địa phương”, ông Tứ nhấn mạnh.

Đồng quan điểm, PGS, TS Phùng Chí Sỹ, Giám đốc Trung tâm Công nghệ môi trường (Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam), chia sẻ thêm: “Ngoài các biện pháp kiểm soát nguồn xả thải, chúng ta cũng cần tận dụng khả năng tự làm sạch của kênh bằng cách điều tiết dòng chảy”. Cũng theo ông Phùng Chí Sỹ, việc làm sạch sông là bài toán khó, nhưng vẫn phải thực hiện. Ông lấy thí dụ dự án cứu kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè, được các cơ quan chức năng Thành phố Hồ Chí Minh làm khá chặt chẽ, bài bản và khoa học. Bây giờ tuyến kênh này đã sống, có dòng chảy, tôm cá sinh sống được và người dân tận hưởng được những giá trị mà sông đem lại.

Trước một công trình giàu ý nghĩa lịch sử, từng bảo đảm nguồn nước tưới ổn định cho hàng chục nghìn ha lúa, hoa màu, đồng thời nâng cao năng lực tiêu úng cho nhiều tỉnh, thành phố trong lưu vực thì Bắc Hưng Hải không chỉ là câu chuyện làm sạch một dòng kênh. Đó còn là câu chuyện giữ lại một mạch nước đã gắn với cuộc sống của cả một vùng đồng bằng qua nhiều thế hệ ■

Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các địa phương sẽ phối hợp hồi sinh công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải, ưu tiên cải thiện ô nhiễm trong giai đoạn 2027-2028. Theo đề án, cơ quan chức năng sẽ hiện đại hóa hạ tầng thủy lợi, bảo đảm khai thác đa mục tiêu, chủ động cấp nước đủ tiêu chuẩn phục vụ sản xuất, dân sinh và phát triển kinh tế trong vùng theo hướng hiện đại, sinh thái và bền vững.

Có thể bạn quan tâm

Một chiếc ví phủ bùn đất, có thể chứa những manh mối vô giá về các anh hùng liệt sĩ vô danh.

Hành trình kỷ vật từ lòng đất sâu

Ngày 26/7, trưa nắng trên khu vực lô cao-su 97 (xã Minh Đức, thành phố Đồng Nai), Đại tá Nguyễn Thanh Phong, Chính ủy Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố Đồng Nai, thắp hương trước ba hầm mộ, rồi quay ra bảo: “Mong các chú các bác phù hộ cho thêm chỉ dẫn, tìm kiếm được thêm di vật, còn xác minh được danh tính đưa các liệt sĩ về với người thân”.

Nghệ nhân Lê Thị Kề (trái) hướng dẫn cách đan võng ngô đồng.

Thắp lại lửa nghề trên đảo ngọc

Cây ngô đồng, ngày càng sinh sôi, nảy nở quanh đảo Cù Lao Chàm, đã trở thành loài cây đặc hữu của xã đảo Tân Hiệp, thành phố Đà Nẵng. Song, nghề thủ công truyền thống đan võng ngô đồng, được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi tên vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, lại có thể trôi vào quá vãng, nếu không có biện pháp gìn giữ, phát huy.

Chợ cá Tam Tiến, xã Tam Xuân nhộn nhịp nhờ nguồn lợi hải sản dồi dào. Ảnh: Anh Quân

Rạn Bà Đậu đang hồi sinh

Năm 2022, Tổ cộng đồng bảo vệ nguồn lợi thủy sản rạn Bà Đậu ở xã Tam Xuân, thành phố Đà Nẵng được thành lập theo cơ chế đồng quản lý của Luật Thủy sản 2017. Qua hơn bốn năm hoạt động, với sự tham gia chủ yếu của người dân địa phương, Tổ đã cùng chung tay bảo vệ, giữ gìn hơn 64 ha mặt nước. Nhờ thành quả ấy, đến nay, các bãi san hô nơi đây dần phục hồi và đón nhận sự trở lại cư ngụ của nhiều loại hải sản có giá trị.

Ông Hoàng Ngọc Bích bên tấm bia ghi danh sách các đồng đội ngã xuống tại chiến trường Quảng Trị. Ảnh: NVCC

Kỳ 2: Những đôi chân không mỏi

Hành trình trả lại tên tuổi cho những anh hùng, liệt sĩ hy sinh vì Tổ quốc đang được thực hiện gấp gáp, với tinh thần và trách nhiệm cao nhất. Trong nhiều năm, không ít thương, bệnh binh trực tiếp tham gia chiến đấu ở chiến trường cũng đã âm thầm tìm kiếm thông tin, kết nối, phối hợp cơ quan chức năng trả lại tên cho đồng đội, góp sức đưa hài cốt liệt sĩ về với quê hương, gia đình.

Quy tập hài cốt liệt sĩ được tìm thấy tại Công viên Lê Thị Riêng (Thành phố Hồ Chí Minh).

Kỳ I: Thần tốc với tất cả tấm lòng

Hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2027), với quy mô quốc gia, “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” (Chiến dịch 500 ngày đêm) đã và đang huy động sự vào cuộc đồng bộ từ quân đội, chính quyền địa phương và sự tham gia đông đảo của các chuyên gia, nhà khoa học, cựu chiến binh, thân nhân liệt sĩ…

Đà Nẵng triển khai Chiến dịch 500 ngày đêm tại Nghĩa trang liệt sĩ Hòa Tiến.

Hành trình đưa các anh trở về đất mẹ

Tháng 7, giữa những ngày nắng như đổ lửa ở Đà Nẵng, lực lượng thu nhận mẫu sinh phẩm thân nhân liệt sĩ vẫn miệt mài làm việc tại các nghĩa trang liệt sĩ. Mỗi mẫu ADN được thu nhận là thêm một niềm hy vọng xác định danh tính các liệt sĩ còn thiếu thông tin, đưa các anh trở về với gia đình, quê hương. Đó cũng là ý nghĩa nhân văn sâu sắc của “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”, góp phần tri ân những người đã hy sinh vì Tổ quốc.

Du khách nhí bên đầm sen ở Sơn Mỹ hôm nay. Ảnh: Hạnh Đỗ

Sen trên đất lửa

Mỗi sớm hè, đầm sen ở xóm Khê Thuận (xã Tịnh Khê, tỉnh Quảng Ngãi) lại rộn rã tiếng nói, cười. Người đến chụp ảnh. Người ngồi lặng bên bờ hít hương thơm còn vấn vít hơi sương. Thi thoảng có khách đường xa ngạc nhiên hỏi vì sao giữa vùng đất cát ven biển lại có một đầm sen rộng đến vậy. Rồi bất ngờ khi biết những bông sen đang xòe cánh này chỉ cách Khu chứng tích Sơn Mỹ chừng 1 km. Hơn nửa thế kỷ trước, trên vùng đất này là tiếng súng, tiếng khóc ai oán. Hôm nay, ở nơi từng là đất chết ấy, sen đang nở.

Người dân luôn phải đối mặt tình trạng được mùa mất giá. Ảnh: THANH SANG

Trăn trở vùng xoài

Nhiều xóm làng yên bình ở các xã Cam Lâm, Suối Dầu… được bao bọc bởi sự mát xanh của những vườn xoài. Từ nhiều năm nay, xoài là thứ quả ngọt ngào mang dấu ấn riêng khi nhắc đến Khánh Hòa, nhưng hiện nay việc tiêu thụ gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống nông dân.

Những “bà thím” vốn tự ti nay đã tự tin giới thiệu, chia sẻ kinh nghiệm làm du lịch. Ảnh: Hợp tác xã du lịch cộng đồng Gò Cỏ

Lời của đá

Là vùng lõi của Văn hóa Sa Huỳnh - một trong ba nền văn minh cổ lớn của nước ta với niên đại hơn 2.500 năm - làng di sản Gò Cỏ (phường Sa Huỳnh, tỉnh Quảng Ngãi) mang một bí mật không được viết thành chữ,...

Hai kiện tướng Phạm Quang Thành (trái) và Đinh Đức Huy chia sẻ về nghề lái tàu. Ảnh: Diên Khánh

Tinh thần thép của tài xế hỏa xa

Người lái tàu được giao sứ mệnh là những người “cầm cương”, giúp cho mỗi hành trình dù gần hay xa được an toàn. Ngoài kinh nghiệm, sự tinh nhạy, họ phải có tinh thần thép để đối mặt với nhiều tình huống khẩn cấp.

Vẻ đẹp Lý Sơn, Quảng Ngãi. (Ảnh THÀNH ĐẠT)

QUA MIỀN CỬA BIỂN

Người ta ví miền trung nước ta như cái ban-công của bán đảo Đông Dương nhìn ra biển, nơi có tuyến hàng hải đông đúc thứ nhì thế giới.

Tổng Tư lệnh, Ðại tướng Võ Nguyên Giáp thăm Bộ đội Trường Sơn. Ði bên cạnh là Tư lệnh Ðồng Sỹ Nguyên. (Ảnh tư liệu).

Lời thừa nhận từ đối phương

Kho lưu trữ tại Đại học Texas Tech chứa hàng triệu trang tài liệu giải mật về Đường Trường Sơn, trong đó phía Mỹ thừa nhận đây là “kỳ tích hậu cần” và “một trong những thành tựu vĩ đại nhất của kỹ thuật quân sự thế kỷ 20”, bất khả chiến bại trước sức mạnh công nghệ hiện đại của họ.

Ông Vũ Kim Điều, chiến sĩ Điện Biên kể về trận đánh mở màn vào “cánh cửa thép Him Lam” trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Nén tâm hương dưới trời Tây Bắc

Cách trung tâm chỉ huy của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ 2,5 km về phía Đông Bắc, chính là nơi ghi dấu trận đánh mở màn của bộ đội ta trong Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh - nơi lưu dấu người đi mở cõi. (Ảnh: HÀ ANH CHIẾN)

Thành phố phía đông

Tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, trong chương trình làm việc, Quốc hội cho ý kiến để tỉnh Đồng Nai trở thành thành phố Đồng Nai. Đây là một cột mốc rất quan trọng, đáng nhớ của đất và người Đồng Nai khi hội đủ các yếu tố trở thành thành phố trực thuộc Trung ương.

Các cựu tù trong một lần ra thăm Côn Đảo.

“Địa ngục trần gian” và vùng ký ức bi tráng

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng trong tâm trí những cựu tù Côn Đảo (nay thuộc Đặc khu Côn Đảo, Thành phố Hồ Chí Minh) ký ức về những năm tháng đói khổ, đớn đau vì bị giam cầm, tra tấn nơi “địa ngục trần gian” vẫn còn nguyên vẹn.

Anh Duyệt chia sẻ về hành trình sưu tầm những vỏ bom lớn.

Kể chuyện hòa bình bằng kỷ vật chiến tranh

Rất nhiều người đã lặng lẽ, dày công sưu tầm các hiện vật gắn với thời “mưa bom bão đạn”. Đó không chỉ là cách gìn giữ ký ức về tinh thần của cha ông ta trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại, mà còn hướng đến giáo dục thế hệ hôm nay biết trân trọng giá trị của hòa bình.

Sinh viên Đại học Sư phạm Hà Bắc trao đổi quà lưu niệm với sinh viên Việt Nam.

Hào khí thanh xuân trên dặm dài Hành trình đỏ

“Sui, sui, sui sui sui, suiii”… Cho tới thời điểm bước lên máy bay rời khỏi Côn Minh (Trung Quốc), trong đầu tôi vẫn âm vang tiếng hô của đoàn sinh viên Việt Nam, hòa cùng những người bạn dân tộc Di. Hào sảng, gắn kết và tràn ngập tiếng cười.

Nhà giàn thế hệ đầu tiên thiết kế dạng pông-tông đóng trên bãi cạn Phúc Tần. (Ảnh tư liệu)

Nhà giàn DK1 - Biểu tượng tinh thần thép

Gần 40 năm qua, hệ thống Nhà giàn DK1 sừng sững giữa biển trời như cột mốc khẳng định chủ quyền thềm lục địa thiêng liêng của Việt Nam. Trong chuyến vượt biển trước thềm xuân, chúng tôi đã có cơ hội tìm gặp những nhân chứng để ngược thời gian trở về giai đoạn ban đầu xây dựng nên “thành đồng” trên thềm lục địa phía nam Tổ quốc.

Người dân thực hiện thủ tục hành chính tại Trung tâm phục vụ hành chính công phường Lâm Viên - Đà Lạt.

Tết năm nay sẽ lưu vào ký ức

Lễ hội hoa Mai anh đào Đà Lạt vào dịp cuối năm nay có thêm nhiều cư dân mới của tỉnh Lâm Đồng cùng gia đình dạo phố, chụp ảnh lưu dấu lần đầu với loài thảo mộc đặc trưng phố núi.

Đoàn tàu giữa không gian hùng vĩ, nên thơ của "thiên hạ đệ nhất hùng quan" Hải Vân. (Ảnh Trần Ngọc Tiến, Xí nghiệp Đầu máy Sài Gòn)

Trên hành trình hạnh phúc

Một hành khách đứng lặng trên sân ga, dõi theo đoàn tàu vừa lăn bánh. Trên thân tàu, sắc đỏ và vàng của cờ Tổ quốc nổi bật, hòa cùng sắc xanh rừng núi mây trời với những họa tiết cách điệu thanh nhã và logo Báo Nhân Dân nổi bật chạy dài theo từng toa.

Du khách tham gia chương trình du lịch học tập trên đồng muối Sa Huỳnh.

Tình người làng muối

Dọc ven biển, nơi nước gặp đất, sóng gặp phù sa, hàng vạn diêm dân vẫn lặng lẽ chắt chiu từng chút nước, lấy cái khắc nghiệt của thiên nhiên mà hóa thành hạt mặn cho đời. Không đơn thuần là một nghề, với họ muối là sự tiếp nối, là tình yêu và cách tri ân vùng đất đã nuôi dưỡng gia đình qua bao thế hệ.

GS Hồ Ngọc Đại và nhà giáo Nguyễn Trung Chính (bên phải) - hai người thầy tóc bạc vẫn hết lòng hướng về trẻ thơ.

Những người thầy tóc bạc

Mới đây, Nhân Dân cuối tuần nhận được một lá thư dài viết tay với nét bút gọn, khẳng khái của một nhà giáo ở thành phố Hải Phòng.

Chương trình văn nghệ Kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh tại Quảng trường Ba Đình sáng 2/9/2025.

Vinh quang mãi mãi thuộc về Nhân dân!

Đó là câu cuối trong bài diễn văn súc tích, ý nghĩa của Tổng Bí thư Tô Lâm trên Quảng trường Ba Đình lịch sử tại Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 vừa qua. Cũng tại nơi đây, lời Quốc ca vang lên cùng những hình ảnh cờ hoa, những gương mặt ngời lên rạng rỡ của vạn người sẽ mãi mãi ghi vào tâm khảm nhân dân.

Nhà báo Hồng Châu, tức Thép Mới (bên phải) và nhà báo Cao Kim, tức Kim Toàn - hai nhà báo của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam từng bí mật hoạt động báo chí tại Sài Gòn - Gia Định trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968.

Nhà báo Kim Toàn - Người truyền cảm hứng

Câu chuyện bắt đầu từ giữa năm 2024, khi Bảo tàng Báo chí Việt Nam “nhận lệnh” của lãnh đạo Hội Nhà báo Việt Nam, chính thức khởi động việc xây dựng kế hoạch hoạt động cho năm 2025 - một năm đặc biệt vì có rất nhiều ngày lễ lớn trọng đại của đất nước.

Cổng đình Phú Gia.

Làng Chăm nghìn tuổi giữa đất Hà thành

Chuyện mà tôi đang kể là về vùng đất Phú Gia, một ngôi làng đặc biệt. Làng nằm cách trung tâm Hà Nội hơn mười cây số về phía tây bắc. Phú Gia xưa tên Nôm là làng Gạ, tục gọi làng Già rồi Bà Già hương; đến thời Minh Mạng là tổng Phú Gia, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, trấn Sơn Tây.