Trước đó, tại buổi làm việc về phát triển công nghệ lượng tử, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng nhấn mạnh yêu cầu phải có chương trình quốc gia đào tạo nhân lực công nghệ lượng tử, cơ chế đặc thù để thu hút, trọng dụng nhân tài.
Công nghệ lượng tử và bài toán nhân lực quốc gia
Trong các công nghệ chiến lược, công nghệ lượng tử đang nổi lên như một lĩnh vực gắn trực tiếp với tự chủ chiến lược và an ninh dữ liệu của các quốc gia. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước từng nhấn mạnh yêu cầu phải “đặc biệt coi trọng nguồn nhân lực và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo”; có chương trình quốc gia đào tạo nhân lực công nghệ lượng tử, cơ chế đặc thù để thu hút, trọng dụng nhân tài; xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh trong nước; tăng cường hợp tác quốc tế, thu hút các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế tham gia xây dựng năng lực lượng tử cho Việt Nam.
Các ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước trở nên đặc biệt cấp bách trong bối cảnh công nghệ lượng tử đang trở thành một cuộc đua toàn cầu giữa các quốc gia trên thế giới.
Trong cuộc đua này, nhân lực được xem là rào cản lớn nhất. Theo Quantum Index Report 2025 (MIT IDE), tin tuyển dụng về kỹ năng lượng tử đã tăng gấp ba lần từ năm 2011 đến giữa năm 2024 tại Mỹ. Lượng tử đòi hỏi nền tảng giao thoa giữa vật lý, toán học, khoa học máy tính và kỹ thuật hệ thống, yêu cầu đào tạo dài hạn. Những quốc gia đi sau vẫn có cơ hội tham gia nếu chuẩn bị sớm đội ngũ nghiên cứu, kỹ sư và chuyên gia triển khai.
Nghị quyết mở đường, doanh nghiệp “trải thảm đỏ” đón nhân tài trở về
Trong các lĩnh vực công nghệ, điều kiện thu hút nhân tài nên hội tụ “3 cần”: Cần bài toán đủ lớn; Cần các cộng sự đủ mạnh và Cần cơ chế hấp dẫn, ổn định trong dài hạn.
Chủ tịch Hội đồng quản trị FPT Trương Gia Bình từng chia sẻ quan điểm khi thế giới đang bước vào giai đoạn chuyển dịch sâu sắc về quyền lực công nghệ, “không có tài nguyên nào quý hơn con người” và “không có lợi thế cạnh tranh nào bền vững hơn con người”.
Từ định hướng đó, FPT cho biết đang triển khai đồng thời 3 hướng nhằm xây dựng nguồn nhân lực lượng tử. Thứ nhất là chiêu mộ trực tiếp các chuyên gia, tiến sĩ lượng tử trong nước và từ nước ngoài trở về để nghiên cứu các công nghệ lõi.
Thứ hai là ban hành chính sách đào tạo tiến sĩ công nghệ chiến lược trong toàn tập đoàn, hỗ trợ tối đa 500 triệu đồng cho mỗi nghiên cứu sinh lượng tử trong bốn năm trong các lĩnh vực AI, Quantum, Cyber Security, Cloud và các hướng công nghệ trọng điểm khác; trong đó 1/4 là nghiên cứu sinh lượng tử.
Thứ ba là chủ động đào tạo thế hệ kế cận thông qua các chương trình tìm kiếm tài năng trẻ, đưa sinh viên xuất sắc vào các dự án nghiên cứu thực tế ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, dưới sự hướng dẫn của chuyên gia đầu ngành.
Đáng chú ý, FPT không giới hạn hoạt động đào tạo trong phạm vi doanh nghiệp, mà mở rộng hợp tác với các cơ sở đào tạo công nghệ hàng đầu như Trường Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông, Trường Công nghệ Thông tin và Truyền thông - Đại học Bách khoa Hà Nội, Trường Đại học Công nghệ Thông tin - Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh và Trường Đại học FPT.
Các hợp tác này hướng tới một mục tiêu chung: gắn đào tạo với nghiên cứu, gắn giảng đường với bài toán thực tế và tạo điều kiện để sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh tiếp cận sớm với lượng tử.
Trong đó, với Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, FPT tham gia tư vấn, thẩm định nội dung chuyên môn cho chương trình đào tạo lượng tử; đồng thời hỗ trợ kết nối chuyên gia của Tập đoàn để định hướng xây dựng phòng thí nghiệm phục vụ hoạt động nghiên cứu - thực hành. Theo kế hoạch, phòng thí nghiệm này là một trong những phòng thí nghiệm lượng tử đầu tiên trong hệ thống đại học tại Việt Nam.
“Cửa sổ cơ hội” cho trí thức lượng tử Việt
Một trong những nhân sự tiêu biểu trong lĩnh vực lượng tử của Tập đoàn FPT là TS Võ Văn Tuấn, Giám đốc Quantum Lab. Sau hơn một thập kỷ học tập và nghiên cứu tại Nhật Bản, với nhiều công trình về vật lý thống kê và cơ học lượng tử được công bố trên các tạp chí khoa học uy tín như Physical Review Letters và Physical Review Research, ông đã quyết định trở về Việt Nam và gia nhập FPT.
TS Tuấn cho rằng đang thấy "cửa sổ cơ hội đặc biệt" của đất nước: công nghệ lượng tử đang ở giai đoạn chuyển tiếp giữa khoa học nền tảng và kỹ thuật hệ thống, khi nhiều lớp công nghệ như phần mềm, mô phỏng, mật mã hậu lượng tử, cảm biến đã đủ trưởng thành để các quốc gia đi sau bắt đầu xây dựng năng lực.
Theo ông, bài toán lớn nhất của Việt Nam là xây dựng năng lực tự chủ công nghệ, có khả năng hiểu công nghệ, đánh giá độc lập, lựa chọn đúng, tích hợp vào hạ tầng quốc gia và từng bước tạo ra tài sản trí tuệ của chính mình.
"Nếu chờ đến khi công nghệ đã hoàn toàn trưởng thành, Việt Nam có thể mua được sản phẩm, nhưng sẽ khó có được năng lực làm chủ", ông nhấn mạnh.
Ông cho rằng các chuyên gia, lý do các tiến sĩ lượng tử trở về Việt Nam không chỉ để tiếp tục làm nghiên cứu cá nhân, mà để cùng tham gia những bài toán lớn của quốc gia như an toàn thông tin và chủ quyền dữ liệu trong thời kỳ hậu lượng tử, năng lực tính toán lượng tử, thiết kế thuật toán, tối ưu mạch, biên dịch, kiểm soát sai số đến tích hợp với hạ tầng tính toán cổ điển.
Việc các tiến sĩ, chuyên gia trở về còn có thể trở thành cầu nối giữa doanh nghiệp, đại học, viện nghiên cứu với mạng lưới chuyên gia quốc tế, giúp các bên tiếp cận tiêu chuẩn và cộng đồng khoa học toàn cầu.
Các chuyên gia, nhà khoa học người Việt trong mạng lưới trí thức toàn cầu khác cũng cho rằng đây là thời điểm phù hợp để trở về quê hương đóng góp, khi công nghệ này trên thế giới vẫn đang trong giai đoạn đặt nền móng.
TS Vũ Thành Long, người nhận bằng Tiến sĩ từ Đại học quốc gia Singapore với luận án về điều khiển hệ lượng tử và vướng víu lượng tử, đã có thời gian nghiên cứu tại Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) và hiện đang công tác tại Phòng thí nghiệm quốc gia Tây bắc Thái bình dương (PNNL), Hoa Kỳ, cũng hoàn toàn đồng tình với quan điểm của TS Tuấn về bài toán xây dựng năng lực tự chủ cho Việt Nam.
Ông cho rằng: “Việt Nam nên lựa chọn chiến lược phát triển hạ tầng công nghệ lượng tử đi đôi với đào tạo nguồn nhân lực để tiến tới làm chủ công nghệ lượng tử”.
Việc đầu tư vào hạ tầng công nghệ lượng tử sẽ chưa thể mang lại giá trị kinh tế ngay lập tức, nhưng trong bối cảnh nhiều quốc gia đang siết kiểm soát xuất khẩu công nghệ lượng tử, việc sớm phát triển hạ tầng công nghệ lượng tử sẽ “giúp Việt Nam tránh rủi ro chiến lược trong việc phụ thuộc vào công nghệ lõi của nước ngoài ở cả khâu đào tạo và nghiên cứu”, TS Long phân tích.
Hướng đi này cũng dựa trên khung tham chiếu của các chương trình đào tạo nghiên cứu hàng đầu trên thế giới về công nghệ lượng tử đều gắn chặt với phòng lab, kết hợp đào tạo nghiên cứu lý thuyết với thực hành trên phần cứng.
TS Nguyễn Ngọc Tú, Giáo sư tại Kennesaw State University (KSU), Hoa Kỳ, người có nhiều năm kinh nghiệm nghiên cứu về tính toán lượng tử, truyền thông lượng tử, và mã hóa hậu lượng tử, cho rằng trong giai đoạn hiện nay, khi công nghệ lượng tử vẫn đang ở giai đoạn đặt nền móng, Việt Nam cần tham gia ngay từ bây giờ, đồng hành cùng thế giới trong nghiên cứu, thử nghiệm và đánh giá công nghệ.
GS. TS Nguyễn Ngọc Tú cho biết, ông mong muốn đóng góp nhiều hơn cho đất nước trong việc xây dựng nguồn nhân lực và hệ sinh thái công nghệ lượng tử. Với kinh nghiệm nghiên cứu trong lĩnh vực tính toán lượng tử và truyền thông lượng tử tại Hoa Kỳ, ông kỳ vọng có thể hỗ trợ kết nối giữa các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp trong nước với mạng lưới chuyên gia quốc tế nhằm thúc đẩy hợp tác nghiên cứu, chuyển giao tri thức và đào tạo nhân lực chất lượng cao.
Theo ông, Việt Nam hoàn toàn có thể xây dựng một cộng đồng lượng tử mạnh nếu sớm hình thành được mạng lưới liên kết chặt chẽ giữa Nhà nước, doanh nghiệp, giới học thuật và cộng đồng chuyên gia người Việt toàn cầu. Đây sẽ là nền tảng quan trọng để tạo dựng lực lượng nòng cốt cho công nghệ lượng tử, phục vụ các mục tiêu dài hạn về tự chủ công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
GS, TS Nguyễn Ngọc Tú đánh giá cao việc một số doanh nghiệp công nghệ trong nước, trong đó có FPT, đã chủ động đầu tư nghiên cứu, đào tạo nhân lực và kết nối với viện trường trong lĩnh vực lượng tử. Theo ông, những nỗ lực này sẽ góp phần tạo môi trường đủ hấp dẫn để thu hút và giữ chân chuyên gia Việt Nam từ nước ngoài trở về, từ đó giúp phát triển mạnh cộng đồng nhân lực lượng tử Việt Nam.
Công nghệ lượng tử là cuộc đua dài hạn, khó và đòi hỏi nguồn lực lớn. Nhưng chính vì khó, lĩnh vực này càng cần sự chuẩn bị sớm về nhân lực, có trọng tâm và kiên trì. Khi Nhà nước xác lập định hướng chiến lược, các viện trường tạo nền tảng đào tạo - nghiên cứu, doanh nghiệp đầu tư nguồn lực và chuyên gia người Việt toàn cầu trở về đóng góp, Việt Nam có cơ hội từng bước tham gia vào chuỗi giá trị lượng tử toàn cầu, thay vì chỉ đứng ngoài quan sát một làn sóng công nghệ mới.