Khoa học - công nghệ ở Lai Châu từng bước vươn lên

ND - Trong khi ở một số tỉnh, các viện, trung tâm đã chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115 của Chính phủ đang "sống khỏe" nhờ đáp ứng được nhu cầu phát triển của thị trường thì đối với tỉnh Lai Châu  việc thu hút những người làm khoa học còn nhiều bất cập.

Nghị định 115 được xem là bước đột phá về "hành lang pháp lý" cho hoạt động khoa học, được kỳ vọng sẽ xóa bỏ tư duy thụ động, hướng các nhà khoa học tới những nghiên cứu phục vụ cuộc sống.

Trước đây, khi chưa chia tách tỉnh, nhiều cán bộ của tỉnh Lai Châu cũng có định hướng phát triển vấn đề này. Nhưng sau năm năm thành lập tỉnh mới, Lai Châu có  bảy huyện, thì năm huyện nằm trong diện nghèo. Cơ sở vật chất của tỉnh xây dựng lại hoàn toàn. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bùi Từ Thiện cho biết: Trong điều kiện hiện nay, Lai Châu chưa dám đặt vấn đề tự chủ cho các trung tâm, viện nghiên cứu khoa học.

Lai Châu là một tỉnh có nhiều tiềm năng để đưa các vấn đề đặt ra vào nghiên cứu khoa học công nghệ (KHCN), đem lại hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất. Nhưng cái khó ở Lai Châu là đội ngũ những người làm khoa học ở địa phương còn quá yếu và mỏng. Cả tỉnh chỉ có một tiến sĩ nông học, còn cán bộ thạc sĩ đếm trên đầu ngón tay. Với đội ngũ cán bộ làm khoa học như vậy thì vấn đề tiếp nhận khoa học kỹ thuật cấp Bộ cũng hết sức khó khăn, nói gì đến việc đưa các Trung tâm nghiên cứu ra "ở riêng" để tự thân vận động.

Hiện nay, Lai Châu chưa có thị trường tiếp nhận việc chuyển giao KHCN. Cán bộ làm khoa học của tỉnh phải tìm đến người sản xuất để vận động, tuyên truyền, giúp họ tiếp nhận những tiến bộ khoa học. Tuy nhiên, để biến khoa học thành công cụ sản xuất của người lao động còn gặp nhiều khó khăn. Người dân chưa quen chủ động tiếp cận những người làm khoa học, đặt hàng, mua sản phẩm đầu tư cho phát triển kinh tế.

Có những dự án, các nhà khoa học thực hiện ba cùng (cùng ăn, cùng ở, cùng làm) với người dân, hiệu quả của dự án tác động tích cực đến việc thay đổi tập quán canh tác, đến năng suất lao động, đời sống kinh tế của người dân. Nhưng khi dự án kết thúc một thời gian, nhiều vùng quay lại phương thức sản xuất cũ. Ðồng chí Thiện giải thích: "Nguồn vốn thu được từ dự án người dân không quay vòng đầu tư tái sản xuất, mà vẫn ỷ vào sự trợ cấp của Nhà nước. Ðặc biệt, thói quen tra lỗ bỏ hạt đã trở thành tập quán sản xuất của người bản địa. Chính vị trí địa lý khó khăn, phức tạp cũng cản trở không nhỏ đến thị trường cung ứng nguồn giống, vật tư nông nghiệp, đặc biệt là việc tiêu thụ sản phẩm cũng không có lợi thế cạnh tranh. Ðiều này ảnh hưởng không nhỏ đến việc tái sản xuất sau dự án".

Với những khó khăn, thách thức của một tỉnh miền núi  còn nghèo như Lai Châu, hiện tại tỉnh chỉ đặt ra mục tiêu cho các Trung tâm khoa học hoàn thành đúng chức năng chuyển tải chính sách, tiếp cận và chuyển giao những tiến bộ khoa học kỹ thuật của các bộ, ban, ngành đến với người sản xuất sao cho hiệu quả nhất. Trước mắt, Nhà nước vẫn phải là "bà đỡ" về kinh tế cho các Trung tâm khoa học để đội ngũ những người làm khoa học yên tâm hoàn thành mục tiêu của mình.

Từ nay đến năm 2020, chiến lược phát triển của tỉnh là cần phải thay đổi năng lực lãnh đạo, phương pháp nghiên cứu, ứng dụng của cán bộ khoa học. Ðể làm được điều đó, Lai Châu lựa chọn, cử cán bộ của địa phương, nhất là con em đồng bào các dân tộc thiểu số đi học tại các trường, viện nghiên cứu. Ðồng thời, tỉnh cũng đưa ra những chính sách thu hút trí thức về Lai Châu công tác bằng việc đãi ngộ về đất ở, kinh tế, sắp xếp công việc phù hợp với chuyên môn đào tạo, phù hợp với nguyện vọng. Lai Châu cũng luôn tranh thủ mời các nhà khoa học đến với tỉnh để họ tư vấn, định hướng phát triển khoa học phù hợp với điều kiện của tỉnh.

Ðồng chí Thiện cho rằng: "Muốn chuyển đổi các viện, trung tâm nhằm đáp ứng sự phát triển của thị trường phải giải quyết hai yếu tố, thứ nhất đó là vấn đề về con người, và yếu tố thứ hai đó là đầu tư tiềm lực theo hướng thị trường. Và chỉ khi nào người lao động (bà con dân tộc thiểu số) từ chỗ thụ động tiến đến chủ động tiếp nhận tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, mới bắt đầu đặt vấn đề tự chủ cho các Trung tâm nghiên cứu khoa học ở Lai Châu".

QUANG PHONG

Có thể bạn quan tâm

Các đại biểu tham dự hội thảo quốc tế do Trường đại học Intracom phối hợp các đơn vị tổ chức. (Ảnh: NHẬT MINH)

Ứng dụng khoa học và công nghệ vào cuộc sống - Từ lý luận đến thực tiễn

Ngày 28/1, tại Hà Nội, Trường đại học Intracom phối hợp Tạp chí Pháp luật và Phát triển, Viện khoa học và Bổ trợ Tư pháp (Liên hiệp Hội Người khuyết tật Việt Nam), Tạp chí Vận động, Nghiên cứu và Giáo dục (JARE)… tổ chức hội thảo quốc tế “Thúc đẩy ứng dụng khoa học và công nghệ vào cuộc sống - Từ lý luận đến thực tiễn”.

Người dân đến giải quyết thủ tục hành chính tại Trung tâm Phục vụ Hành chính công-Chi nhánh số 3-phường Đống Đa, Hà Nội. (Ảnh: nhandan.vn)

Khai thác hiệu quả cơ sở dữ liệu quốc gia

Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức có vai trò thống nhất và chuẩn hóa thông tin nhân sự trong toàn bộ hệ thống cơ quan nhà nước, từ đó có cái nhìn toàn diện về số lượng, chất lượng, cơ cấu đội ngũ nhằm đưa ra các quyết định quản lý và sử dụng nhân sự một cách khoa học, hợp lý.

Sinh viên Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh thực hành nghiên cứu khoa học.

Đổi mới nghiên cứu liên ngành trong lĩnh vực khoa học xã hội

Trong thời đại ngày nay, nhiều vấn đề không chỉ là sự quan tâm của một quốc gia đơn lẻ, mà trở thành vấn đề chung của cả khu vực và thế giới. Theo đó, thúc đẩy nghiên cứu đa ngành là con đường tất yếu để giải quyết các vấn đề thực tiễn một cách toàn diện và hiệu quả.

100% cử tri có mặt tại Hội nghị nhất trí giới thiệu đồng chí Vũ Hải Quân, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Thường trực Bộ Khoa học và Công nghệ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI.

Bộ Khoa học và Công nghệ giới thiệu Thứ trưởng Thường trực Vũ Hải Quân ứng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI

150/150 cử tri có mặt tại hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác đối với người được dự kiến giới thiệu ứng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI của Bộ Khoa học và Công nghệ đã nhất trí giới thiệu Thứ trưởng Thường trực Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân ứng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI.

Đông đảo người dân tham dự triển lãm.

Đẩy mạnh ứng dụng khoa học tiên tiến để bảo tồn và phát triển dược liệu

Sáng 23/1, Viện Dược liệu phối hợp UBND phường Cửa Nam (Hà Nội) tổ chức Triển lãm Sách và Dược liệu Việt Nam với chủ đề “Kết nối tri thức vì sức khỏe cộng đồng” tại Phố Sách Hà Nội. Triển lãm nhằm chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng và 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam.

Người dân cần kiểm tra kỹ thông tin trước khi nộp tiền phạt qua mã QR để tránh bị lừa.

Nhận diện chiêu thức lừa đảo nộp phạt “nguội” qua Zalo

Lợi dụng việc mã QR được sử dụng rộng rãi trong các thủ tục hành chính, nhiều đối tượng xấu đã giả mạo thông báo “phạt nguội”, yêu cầu người dân chuyển tiền qua mã QR trên Zalo. Người dân cần nhận diện rõ quy trình nộp phạt hợp pháp và nâng cao cảnh giác để tránh bị lừa.

Cán bộ Sở Khoa học và Công nghệ Thái Nguyên khảo sát để cấp chỉ dẫn địa lý cho gạo nếp Khẩu Nua Lếch. (Ảnh: THU HIỀN)

Đổi mới sáng tạo ở Thái Nguyên

Tỉnh Thái Nguyên đã và đang khẳng định quyết tâm biến khoa học, công nghệ trở thành khâu đột phá để thúc đẩy kinh tế-xã hội. Với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, Thái Nguyên từng bước đẩy nhanh phát triển kinh tế số, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước tham quan các khu vực bên lề lễ khởi công nhà máy chế tạo chip bán dẫn Hòa Lạc.

Việt Nam sẽ bước vào nhóm số ít quốc gia sở hữu năng lực chế tạo chip bán dẫn

Chip bán dẫn hiện là “đòn bẩy” của những nước chi phối công nghệ sản xuất, sử dụng như công cụ chính trị để kiểm soát, kìm hãm kinh tế, công nghiệp an ninh quốc phòng. Việt Nam xác định bán dẫn là một trong những công nghệ chiến lược cần làm chủ, với mắt xích then chốt vừa được công bố: nhà máy sản xuất chip tại Hòa Lạc.

Ứng dụng khoa học, công nghệ là giải pháp hiệu quả để quản lý, bảo vệ tài nguyên biển.

Ứng dụng công nghệ trong quản lý các khu bảo tồn biển

Đến năm 2030, Việt Nam có 27 khu bảo tồn biển, trong đó có 16 khu bảo tồn biển cấp quốc gia, 11 cấp tỉnh với khoảng 20 hệ sinh thái, 11.000 loại thủy sản, khoảng 3.000 đảo. Đây là địa điểm lý tưởng để thực hiện nhiệm vụ lưu giữ, bảo tồn giống, nguồn gen, đa dạng sinh học; phát triển kinh tế, du lịch; phục vụ nghiên cứu khoa học…