Doanh nghiệp cao-su trên hành trình tăng trưởng xanh, bền vững

Trước yêu cầu cấp thiết về giảm phát thải và đáp ứng các rào cản kỹ thuật quốc tế như EUDR (Quy định chống phá rừng của Liên minh châu Âu) hay tiêu chuẩn ISO, các doanh nghiệp cao-su và chế biến gỗ ngành cao-su đang chủ động xanh hóa từ vùng nguyên liệu đến nhà máy, tối ưu hóa chuỗi giá trị và khẳng định vị thế trên thị trường.

Công nhân khai thác mủ cao-su trên vườn cây Công ty Cổ phần Cao-su Việt Lào. (Ảnh: Anh Tuấn)
Công nhân khai thác mủ cao-su trên vườn cây Công ty Cổ phần Cao-su Việt Lào. (Ảnh: Anh Tuấn)

Tiên phong chuẩn xanh PEFC, ISO và EUDR

Theo xu hướng phát triển bền vững, các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Công nghiệp Cao-su Việt Nam (VRG) chủ động đáp ứng các tiêu chuẩn truy xuất nguồn gốc, giảm tác động môi trường để giữ vững thị trường truyền thống và mở rộng sang các thị trường khắt khe.

Nằm trong chiến lược hợp tác song phương giữa hai Chính phủ Việt Nam-Lào và định hướng phát triển của VRG, mô hình vận hành của Công ty cổ phần Cao-su Việt Lào tại tỉnh Champasak là minh chứng rõ nét cho định hướng tăng trưởng bền vững

Sau hơn hai mươi năm hoạt động tại nam Lào, Công ty cổ phần Cao-su Việt Lào hiện quản lý 10.032ha cao-su. Năm 2026, dù chịu ảnh hưởng bởi thời tiết mưa bão kéo dài và áp lực biến động chi phí, công ty vẫn ghi nhận kết quả tích cực sau 8 tháng: Sản lượng khai thác đạt hơn 9.210 tấn (tăng 10,7% so với cùng kỳ); doanh thu đạt hơn 886 tỷ đồng; lợi nhuận trước thuế đạt hơn 251 tỷ đồng và duy trì việc làm cho 2.166 lao động với thu nhập bình quân 8 triệu đồng/tháng. Đơn vị đặt mục tiêu hoàn thành toàn bộ 17.800 tấn kế hoạch năm.

dsc09017-661.jpg
Lãnh đạo nhà máy chế biến mủ cao-su Công ty cổ phần Cao-su Việt Lào kiểm tra truy xuất nguồn gốc sản phẩm trước khi xuất kho. (Ảnh: Anh Tuấn)

Song song nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp tập trung triển khai các chuẩn mực phát triển bền vững. Trao đổi về lộ trình này, ông Phan Văn Hiếu, Giám đốc Công ty cổ phần Cao-su Việt Lào cho biết, đơn vị đã tuân thủ tốt các tiêu chuẩn PEFC (Chương trình Chứng nhận chứng chỉ rừng) và tích cực đáp ứng Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR). Doanh nghiệp phối hợp chặt chẽ với Bộ Nông Lâm Lào để xác minh nguồn gốc đất. Đối với diện tích rừng nghèo kiệt cần phục hồi, khi được cơ quan chức năng xác nhận và thổ nhưỡng phù hợp, đơn vị đề xuất phương án trồng cao su để vừa phục hồi thảm thực vật vừa phát triển kinh tế.

Đặc biệt, đơn vị đã hoàn tất áp dụng tiêu chuẩn ISO 14067 để tính toán vết carbon cho sản phẩm. Sau 6 tháng chuẩn bị hồ sơ và làm việc với đơn vị đánh giá độc lập, toàn bộ chuỗi hành trình từ cạo mủ, vận chuyển, tiêu thụ điện nước đến xử lý nước thải đều được đo lường khắt khe. Kết quả cho thấy chỉ số phát thải của công ty ở mức trung bình thấp, đạt khoảng 0,7 đối với mủ SVR3L, SVR5 và 1,1 đối với mủ SVR10 và SVR20.

“Việc nhận chứng nhận ISO 14067 được xem là tấm hộ chiếu xanh quan trọng giúp sản phẩm của công ty mở rộng sang các thị trường khó tính ngoài Trung Quốc và Việt Nam”, ông Phan Văn Hiếu nhấn mạnh.

Tương tự, sau 20 năm đầu tư trên đất nước bạn, Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Quasa Geruco Lào tại tỉnh Savannakhet tiếp tục khẳng định vị thế trụ cột phát triển bền vững tại khu vực Trung Lào. Doanh nghiệp hiện quản lý khai thác khoảng 7.369ha cao-su với sản phẩm chủ lực SVL10 luôn duy trì uy tín trên thị trường. Để nâng cao năng lực cạnh tranh, đơn vị áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO, ISO 14001:2015 về môi trường, phòng thử nghiệm VILAS và các chứng nhận sản phẩm xanh.

1790600533028-1860464688361341886-3712688295557922537-c08047c83661c712c81ec6ad11c47e85-8039.jpg
Công nhân chế biến mủ cao-su xuất khẩu tại Nhà máy chế biến cao-su Se Pon. (Ảnh: Anh Tuấn)

Chia sẻ về chuẩn mực xuất khẩu sang thị trường châu Âu, ông Phạm Trường Sang, Phó Tổng Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Quasa Geruco Lào nhấn mạnh: “Doanh nghiệp đang ráo riết xúc tiến chứng nhận EUDR. Lợi thế lớn nhất của đơn vị là toàn bộ diện tích hiện hữu đều được khai phá và trồng mới từ trước năm 2016, do đó hoàn toàn không gặp vướng mắc về thời điểm chuyển đổi đất và nguồn gốc rừng. Đơn vị đặt mục tiêu hoàn thành các chứng nhận ngay trong năm nay để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sản phẩm thông quan sang thị trường quốc tế”.

Cải tiến kỹ thuật, tối ưu hóa nguồn lực

Nhằm đáp ứng xu hướng sản xuất xanh, việc cải tiến quy trình công nghệ tại các nhà máy chế biến đóng vai trò quyết định đến việc giảm chi phí và nâng cao chất lượng sản phẩm. Tại Nhà máy chế biến cao-su Se Pon thuộc Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Quasa-Geruco Lào, với công suất 15.000 tấn/năm, nhiều giải pháp kỹ thuật đã được triển khai hiệu quả. Điển hình là sáng kiến cải tiến hệ thống quạt làm nguội thành phẩm sau khi ra lò và cải tiến công tác vệ sinh rửa sàn.

Quản đốc Nhà máy chế biến cao-su Se Pon Nguyễn Tuấn An cho biết, sáng kiến cải tiến hệ thống quạt làm nguội giúp tăng năng suất lao động rõ rệt. Trước đây, một ca làm việc 8 giờ công nhân đạt khoảng 15-16 tấn sản phẩm, sau khi cải tiến công suất được nâng lên, giúp thu nhập bình quân của công nhân tăng từ mức 180.000-200.000 đồng/ngày lên 250.000-270.000 đồng/ngày.

Về mặt vận hành, giải pháp này giúp sản lượng của nhà máy tăng từ 1.600 tấn lên hơn 1.000 tấn/mỗi tháng trong các giai đoạn cao điểm, duy trì sự ổn định ngay cả khi lượng mủ nguyên liệu biến động giữa mùa khô và mùa mưa tại Lào. Quan trọng hơn, hệ thống làm nguội nhanh rút ngắn thời gian chờ của mủ sau khi ra khỏi lò từ nhiệt độ 50-60 độ C xuống mức thích hợp để chuyển sang công đoạn ép bành, thay vì phải chờ 15-20 phút như trước.

Việc kiểm soát chính xác nhiệt độ giúp sản phẩm đáp ứng ổn định các chỉ tiêu kỹ thuật của TCVN 3769. Việc rút ngắn thời gian xử lý và nâng cao hiệu suất thiết bị cũng góp phần giảm mức tiêu thụ năng lượng trên mỗi đơn vị sản phẩm, hướng tới mục tiêu giảm phát thải carbon trong nhà máy.

Tại khu vực miền trung Việt Nam, Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Cao su Quảng Trị, cũng ghi nhận những chuyển biến mạnh mẽ về hiệu quả quản trị và định hướng phát triển. Sau khi tinh gọn bộ máy và bỏ cấp trung gian để lập 5 đội sản xuất, Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Cao-su Quảng Trị đã ghi nhận những chuyển biến mạnh mẽ về hiệu quả quản trị. Hiện, doanh nghiệp đang quản lý 4.203ha đất với 417 lao động. Dù chịu ảnh hưởng bởi hạn hán, sản lượng khai thác mủ cao-su vẫn đạt 1.631 tấn, đứng thứ ba Tập đoàn VRG về tiến độ kế hoạch.

dsc09033-2329.jpg
Công nhân trút mủ cao-su tại đội sản xuất Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Cao-su Quảng Trị. (Ảnh: Anh Tuấn)

Đến tháng 9/2026, kết quả kinh doanh tăng trưởng vượt bậc so với cùng kỳ. Doanh thu ước đạt 325 tỷ đồng, tiệm cận mục tiêu cả năm (350 tỷ đồng); lợi nhuận đạt hơn 28 tỷ đồng (bằng 113% kế hoạch) và phấn đấu cả năm vượt 40 tỷ đồng. Nhờ uy tín thương hiệu, giá bán bình quân sản phẩm đạt khoảng 56 triệu đồng/tấn, thuộc nhóm cao trong tập đoàn.

Nói về định hướng tăng trưởng xanh, ông Nguyễn Đại Dương, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Cao-su Quảng Trị cho biết, phương án phát triển bền vững của công ty đã được tập đoàn phê duyệt từ tháng 8. Doanh nghiệp đang hoàn thiện hồ sơ đấu thầu, hoàn tất các thủ tục liên quan phòng cháy chữa cháy, chuẩn mực EUDR và dự kiến hoàn thành tiêu chuẩn ISO 14067 trong thời gian tới.

Bên cạnh đó, địa phương đã quy hoạch một khu công nghiệp trên diện tích của công ty và được tập đoàn chấp thuận chủ trương đầu tư. Doanh nghiệp cũng đang chuẩn bị phương án đầu tư phát triển khoảng 320ha cây trồng mới phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu vùng.

dsc09107-3830.jpg
Công nhân vận chuyển xuất kho sản phẩm cao-su từ nhà máy chế biến Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Cao-su Quảng Trị. (Ảnh: Anh Tuấn)

Trong công tác vận hành thực tế tại Nhà máy chế biến của Cao-su Quảng Trị, Quản đốc Lê Tư Thông cho biết nhà máy vận hành hai dây chuyền gồm SVR3L (chiếm 68% công suất, sử dụng nguyên liệu từ cao su công ty) và SVR10 (chiếm 40% công suất, thu mua từ tiểu điền và gia công cho các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa). Việc duy trì sản lượng chế biến 8.000-9.000 tấn/năm giúp bảo đảm việc làm ổn định cho người lao động.

Trước yêu cầu về tiêu chuẩn xanh, nhà máy tập trung nâng cao công nghệ, kiểm soát chặt chẽ tính pháp lý và chất lượng nguồn nguyên liệu đầu vào, đáp ứng các tiêu chuẩn của tập đoàn và chứng chỉ FSC. Đồng thời, nhà máy linh hoạt điều chỉnh các chỉ tiêu kỹ thuật theo yêu cầu cụ thể của từng khách hàng truyền thống tại Quảng Ngãi và Đà Nẵng để tối ưu hóa sản xuất.

Bứt phá nhờ công nghệ hiện đại và chiến lược ESG

Bên cạnh ngành cao-su, công nghiệp chế biến gỗ nhân tạo cũng đóng vai trò trụ cột trong chiến lược tăng trưởng xanh và phát triển kinh tế tuần hoàn của Tập đoàn VRG tại khu vực miền trung Việt Nam.

Công ty cổ phần Gỗ MDF Quảng Trị hiện là đơn vị chế biến ván nhân tạo có quy mô lớn và lâu đời nhất trong vùng, nằm trong nhóm 10 doanh nghiệp đóng góp ngân sách hàng đầu của tỉnh Quảng Trị. Với công suất bình quân 18.000 tấn ván/tháng (tương đương 200.000m³ ván/năm), nhà máy tiêu thụ khoảng 400.000 tấn gỗ nguyên liệu mỗi năm.

dsc09146-9496.jpg
Dây chuyền sản xuất ván ép hoàn toàn tự động tại Công ty cổ phần Gỗ MDF Quảng Trị. (Ảnh: Anh Tuấn)

Sản phẩm của MDF VRG Quảng Trị chinh phục nhiều thị trường khó tính nhờ kết hợp công nghệ hiện đại và năng lực con người. Hiện công ty vận hành đồng bộ hai dây chuyền sản xuất tiên tiến từ Đức và Italia, tự động hóa toàn bộ quy trình qua hệ thống SCADA.

Ông Dương Tấn Thanh, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Gỗ MDF Quảng Trị, cho biết: “Toàn bộ quy trình, từ khâu băm dăm, nghiền hấp tạo sợi gỗ, phun phối trộn keo, sấy khô, tạo thảm đến ép nóng áp lực cao và chà bóng bề mặt, đều được tự động hóa hoàn toàn. Tuy nhiên, máy móc hiện đại đến đâu thì con người vẫn là yếu tố quyết định. Đội ngũ kỹ sư của đơn vị có năng lực giỏi, có nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật như tối ưu hệ thống phun hơi và lắp biến tần tiết kiệm điện. Những cải tiến này giúp nhà máy giảm 5-7% điện năng tiêu thụ cùng 15-20% nhiên liệu đốt”.

Xác định ESG (tiêu chuẩn Môi trường, Xã hội và Quản trị) là lợi thế cạnh tranh cốt lõi, doanh nghiệp thực thi đồng bộ trên cả ba trụ cột. Trong sản xuất, nhà máy cắt giảm hơn 60% lượng phát thải CO2 nhờ lò hơi sinh khối từ vỏ cây và bụi gỗ, đồng thời đáp ứng 30% nhu cầu điện bằng hệ thống mặt trời áp mái và tái sử dụng 35% lượng nước qua hệ thống xử lý tuần hoàn.

Bên cạnh đó, các dòng ván ép đều sử dụng keo đạt chuẩn phát thải Formaldehyde siêu thấp như E0 và CARB P2 của Mỹ, bảo đảm tối đa an toàn sức khỏe cho người tiêu dùng.

dsc09148-8940.jpg
Dây chuyền sản xuất ván MDF theo tiêu chuẩn quốc tế tại Công ty cổ phần Gỗ MDF Quảng Trị. (Ảnh: Anh Tuấn)

Ở trụ cột xã hội, công ty cam kết toàn bộ nguồn gỗ thu mua đạt chứng nhận quản lý rừng bền vững FSC, giúp nâng cao giá trị cây trồng và bảo đảm sinh kế cho hàng chục nghìn hộ dân. Về quản trị, đơn vị áp dụng các chuẩn mực ISO 9001, ISO 14001, đạt chứng nhận BIS sang Ấn Độ và chuẩn bị dữ liệu định vị vùng trồng nhằm đáp ứng quy định chống mất rừng EUDR của châu Âu.

Nhờ kiên định với chiến lược xanh và dịch chuyển sang các dòng ván kỹ thuật cao như HDF, HMR chống ẩm, kết quả kinh doanh 8 tháng năm 2026 công ty tăng trưởng ấn tượng. Sản lượng tiêu thụ đạt hơn 127.000m³, mang về doanh thu hơn 778 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế đạt 9,73 tỷ đồng, tiệm cận 89% kế hoạch năm và gấp hơn 5 lần so với cùng kỳ năm 2025…

Những nỗ lực chuyển đổi từ khâu quản lý vùng nguyên liệu, cải tiến kỹ thuật vận hành nhà máy đến việc chủ động đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế như PEFC, FSC, ISO 14067 và EUDR của các doanh nghiệp cao su, gỗ cho thấy bước đi bài bản trong chiến lược tăng trưởng bền vững. Sự kết hợp giữa hiệu quả kinh tế, trách nhiệm môi trường và an sinh xã hội chính là nền tảng quan trọng giúp các doanh nghiệp khẳng định vị thế và phát triển vững chắc trong giai đoạn mới.

Có thể bạn quan tâm

NASICO ký hợp đồng đóng mới tàu hàng 65.000DWT, ký hiệu thiết kế S650-01 cho đối tác Công ty cổ phần Vận tải biển Hoà Phát. (Ảnh: HỒNG TRÂM).

Ký hợp đồng đóng mới tàu hàng 65.000DWT

NASICO ký hợp đồng đóng mới tàu hàng 65.000DWT, ký hiệu thiết kế S650-01 cho đối tác Công ty cổ phần Vận tải biển Hòa Phát, thiết kế theo hướng ứng dụng công nghệ xanh, tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải carbon.

Quang cảnh hội nghị chuyên đề chiều 28/9 tại Cà Mau. (Ảnh: HỮU TÙNG)

Kinh tế tập thể Cà Mau trước yêu cầu làm mới chính mình

Chiều 28/9, Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau tổ chức "Hội nghị chuyên đề về phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn mới”. Hội nghị là diễn đàn quan trọng nhằm tháo gỡ điểm nghẽn, định hình tư duy phát triển bền vững cho khu vực kinh tế hợp tác tại địa phương.

Hoàn thiện cơ chế giá điện, tháo gỡ điểm nghẽn để thúc đẩy thị trường điện cạnh tranh

Hoàn thiện cơ chế giá điện, tháo gỡ điểm nghẽn để thúc đẩy thị trường điện cạnh tranh

Thảo luận dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực, các đại biểu Quốc hội đề nghị tiếp tục hoàn thiện cơ chế giá điện theo hướng minh bạch, kiểm soát chi phí và phân bổ rủi ro hợp lý; đồng thời tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế nhằm khơi thông nguồn lực đầu tư và thúc đẩy thị trường điện cạnh tranh.

Lực lượng quản lý thị trường tỉnh Lạng Sơn kiểm tra hàng hóa vi phạm trên địa bàn. (Ảnh: LS)

Quản lý thị trường xử lý hơn 9.300 vụ vi phạm trong quý III/2026

Trong quý III/2026, lực lượng quản lý thị trường cả nước đã xử lý hơn 9.300 vụ vi phạm, trong đó 108 vụ được chuyển cơ quan điều tra. Kết quả này cho thấy tình trạng hàng giả, hàng nhập lậu, hàng không rõ nguồn gốc vẫn tiềm ẩn nhiều diễn biến phức tạp, đòi hỏi công tác kiểm soát thị trường phải ngày càng chủ động hơn.

Toàn cảnh Hội nghị tiếp xúc cử tri trước Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI tại xã Phú Xuyên, thành phố Hà Nội. (Ảnh: KHÁNH ANH)

Agribank cùng Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội trao 1 tỷ đồng hỗ trợ xây dựng Nhà Đại đoàn kết

Ngày 28/9, tại xã Phú Xuyên (Thành phố Hà Nội), đồng chí Tô Huy Vũ, đại biểu Quốc hội khóa XVI, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng thành viên Agribank cùng các đại biểu Quốc hội thuộc Đơn vị bầu cử số 8, Đoàn đại biểu Quốc hội Thành phố Hà Nội đã tiếp xúc cử tri trước Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI.

Doanh nghiệp cần đối chiếu mã hàng khi làm thủ tục nhập khẩu. (Ảnh: CHQ)

Xác định đúng hàng nhập khẩu phải làm thủ tục tại cửa khẩu

Làm thủ tục ngay tại cửa khẩu hay được lựa chọn địa điểm khác là vấn đề doanh nghiệp phải xác định trước khi hàng về. Việc rà soát Danh mục hàng hóa nhập khẩu phải làm thủ tục hải quan tại cửa khẩu nhập đặt ra yêu cầu nhận diện đúng những mặt hàng cần kiểm soát, tránh áp dụng rộng hơn phạm vi cần thiết.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Trọng Lâm, Giám đốc - Tổng Biên tập Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật và Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Đức Thọ, Giám đốc Đại học Kinh tế Quốc dân đồng chủ trì hội thảo. (Ảnh: BTC)

Khơi thông và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển kinh tế trong kỷ nguyên mới

Trong kỷ nguyên kinh tế số, lợi thế phát triển không chỉ được quyết định bởi vốn, đất đai, tài nguyên hay số lượng lao động. Khả năng tạo ra, hấp thụ và làm chủ tri thức, công nghệ mới cùng chất lượng nguồn nhân lực đang trở thành yếu tố quyết định năng suất và vị thế cạnh tranh quốc gia.

Vẽ hoa văn trên gốm tại một xưởng sản xuất gốm xã Bát Tràng, thành phố Hà Nội. (Ảnh: HÀ ANH)

Làng nghề tạo lực đẩy xây dựng nông thôn mới

Từ một làng nghề truyền thống, Bát Tràng đang hình thành một hệ sinh thái sản xuất, thương mại, dịch vụ và du lịch, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân. Khi sinh kế tạo dựng ngay trên quê hương, làng nghề vừa được bảo tồn vừa trở thành nguồn lực xây dựng nông thôn mới.

Xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh là chiến lược phát triển đất nước lâu dài, gắn chặt với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Mạnh mẽ vươn khơi, khai mở không gian phát triển mới

Nghị quyết 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 Hội nghị lần thứ 3, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đã nhấn mạnh: “Xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh là chiến lược phát triển đất nước lâu dài, gắn chặt với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,…”.

Khát vọng "2 con số" và lựa chọn lịch sử của Việt Nam

Khát vọng "2 con số" và lựa chọn lịch sử của Việt Nam

Sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã có bước tăng trưởng “kỳ tích”, vượt qua thời kỳ nghèo đói, lạc hậu để lại với tăng trưởng bình quân 6,4%. Nhưng Việt Nam muốn “sánh vai với cường quốc năm châu”, không con đường nào khác ngoài việc tiếp tục cải cách toàn diện các điểm nghẽn căn bản để bứt phá với tăng trưởng cao bền vững. 

Khu vực nuôi cá chẽm công nghệ cao ở vùng nước sâu của Công ty trách nhiệm hữu hạn Thủy sản Australis Việt Nam trên vịnh Vân Phong, tỉnh Khánh Hòa. (Ảnh: QUỐC VIỆT-LÊ QUÂN)

Khai mở không gian phát triển mới

Thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, nuôi biển công nghệ cao, chúng ta đang đứng trước cơ hội lớn để bứt phá từ biển, làm giàu từ biển, nâng cao sức cạnh tranh trong khu vực và trên thế giới.

Dự án mở rộng Quốc lộ 13, 1 trong các dự án giao thông "cửa ngõ" thực hiện theo hình thức đối tác công-tư. (Ảnh: VÕ LÊ)

Huy động các nguồn lực phát triển hạ tầng giao thông

Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh vừa lấy ý kiến góp ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với dự thảo Nghị quyết về chính sách ưu đãi, huy động các nguồn lực để xây dựng, phát triển, bảo trì đồng bộ hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng giao thông, phát triển vùng, logistics trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.