Tăng trưởng 2 con số: Lựa chọn lịch sử để Việt Nam bứt phá đến năm 2045

Sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã có bước tăng trưởng “kỳ tích”, vượt qua thời kỳ nghèo đói, lạc hậu để lại với tăng trưởng bình quân 6,4%. Nhưng Việt Nam muốn “sánh vai với cường quốc năm châu”, không con đường nào khác ngoài việc tiếp tục cải cách toàn diện các điểm nghẽn căn bản để bứt phá với tăng trưởng cao bền vững. Đây là thời điểm lịch sử để hiện thực hóa khát vọng “vươn mình” trong kỷ nguyên mới.

VIỆT NAM TRƯỚC
''VẬN MỆNH LỚN''
CỦA DÂN TỘC

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã đặt ra mục tiêu phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân cho giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên; tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Theo cách xác định nước thu nhập cao được thực hiện theo phương pháp phân loại quốc gia dựa trên tổng thu nhập quốc dân (GNI) của WB, tính đến 2026, ngưỡng phân loại nhóm thu nhập trung bình thấp có GNI bình quân đầu người từ 1.176-4.635 USD; nhóm thu nhập trung bình cao từ 4.636-14.375 USD; và nhóm thu nhập cao là trên 14.375USD. Các ngưỡng này sẽ được điều chỉnh theo tác động của lạm phát.

Tại Việt Nam, tổng thu nhập quốc dân (GNI) bình quân đầu người năm 2025 là 4.970 USD (tăng từ 4.490 USD năm 2024). Mức thu nhập này vượt ngưỡng 4.636 USD - và Việt Nam được xếp vào nhóm thu nhập trung bình cao theo phân loại mới của World Bank.

Theo ước tính của nhiều nghiên cứu (có thể xem Đinh Trường Hinh & Nguyễn Trọng Hoài, 2026), cần đạt GNI bình quân đầu người trên 20.000 USD vào năm 2045 để được xếp vào nhóm thu nhập cao.

Theo công bố của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Việt Nam tăng trưởng khoảng 6,4% trong gần 40 năm đổi mới từ 1986 đến nay.

Nhìn lại lịch sử tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong những thập kỷ gần đây cho thấy, tốc độ tăng GDP bình quân giai đoạn 2021-2025 khoảng 6,3%/năm, cao hơn nhiều so với mức bình quân 5,91%/năm giai đoạn 2011-2015 và 6,2%/năm giai đoạn 2016-2020.

Nếu tính giai đoạn 2022-2025 (không tính năm 2021 do tăng trưởng kinh tế toàn thế giới bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi dịch bệnh Covid-19) thì tăng trưởng bình quân đạt 7,2%. Riêng năm 2025, GDP ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng với 8,02%.

Như vậy, những năm qua, Việt Nam có tốc độ tăng trưởng thuộc nhóm các nền kinh tế có mức tăng trưởng cao nhất khu vực và thế giới. Tuy nhiên, bài toán đặt ra là, với mức tăng trưởng bình quân 7%, Việt Nam có đạt được mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045 với GNI bình quân đầu người trên 20.000 USD hay không?

Bàn về vấn đề này, Tiến sĩ Nguyễn Đình Chúc, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, Viện Hàn lâm Khoa học-Xã hội Việt Nam chia sẻ với phóng viên Báo Nhân Dân về tốc độ tăng trưởng trong kinh tế học. Ông cho biết, nếu đạt mức tăng trưởng 10% một năm thì cứ mỗi 7 năm thì sẽ tăng gấp đôi được mức thu nhập bình quân. Trong khi đó, nếu nền kinh tế tăng trưởng chỉ ở mức 7% như hiện tại thì phải mất đến 10 năm mới đạt được kết quả đó.

Với mức tăng trưởng khoảng 7%, thì đến năm 2045 thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam chỉ đạt khoảng dưới $20.000 USD. Mức này hoàn toàn chưa đáp ứng được mục tiêu đề ra.

“Chỉ khi đạt tốc độ tăng trưởng 10% thì chúng ta mới đáp ứng được tiêu chí của một nước có thu nhập cao. Về cơ bản, đây là một mục tiêu mang tính toán học hết sức rõ ràng”, Tiến sĩ Nguyễn Đình Chúc cho biết.

"Chỉ khi đạt tốc độ tăng trưởng 10% thì chúng ta mới đáp ứng được tiêu chí của một nước có thu nhập cao. Về cơ bản, đây là một mục tiêu mang tính toán học hết sức rõ ràng".

- Tiến sĩ Nguyễn Đình Chúc, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, Viện Hàn lâm Khoa học-Xã hội Việt Nam -

Đồng quan điểm, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Ngọc Tiến, Phó hiệu trưởng Trường đại học Ngoại thương đưa ra phép tính: Nếu chỉ tăng 7%/năm, sau 20 năm, quy mô nền kinh tế tăng chưa tới 4 lần; trừ đi tăng dân số, thu nhập bình quân đầu người năm 2045 chỉ quanh mức 17.000-18.000 USD, không đạt ngưỡng mục tiêu 20.000 USD.

Chia sẻ thêm với phóng viên Báo Nhân Dân, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Ngọc Tiến cho biết, thời kỳ dân số vàng của Việt Nam dự kiến khép lại vào khoảng cuối thập niên 2030, và chúng ta thuộc nhóm quốc gia có tốc độ già hóa nhanh nhất thế giới. Nếu đi với tốc độ tăng trưởng 7%, thời điểm chạm ngưỡng thu nhập cao rơi đúng vào lúc lực lượng lao động đã thu hẹp, tức là rơi vào kịch bản "già trước khi giàu", khi chi phí an sinh và y tế bắt đầu bào mòn nguồn lực dành cho đầu tư phát triển.

Bên cạnh đó, kể từ năm 1990, theo Ngân hàng Thế giới, chỉ trên dưới 30 nền kinh tế đã vượt từ thu nhập trung bình lên thu nhập cao. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy những nước duy trì nhịp 5-7% như Thái Lan, Malaysia, Brazil đều "kẹt" lại ở mức trung bình suốt 30-50 năm; những nước bứt lên được như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore đều có 25-30 năm tăng trưởng 9-10% trong giai đoạn bắt kịp.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Ngọc Tiến khẳng định: “Con số 7% là tốc độ không đủ nhanh để thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình”.

Trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu cấp bách đối với Việt Nam là phải đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026-2030, nếu không thực hiện được, chúng ta sẽ “lỡ hẹn” với mục tiêu thu nhập cao vào năm 2045.

"Con số 7% là tốc độ không đủ nhanh để thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình".

- Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Ngọc Tiến -

KINH NGHIỆM ''HÓA RỒNG''
SAU GẦN BA THẬP KỶ
TĂNG TRƯỞNG CAO

Số liệu tính toán của World Bank và IMF cho thấy, hiện nay có khoảng 86 quốc gia và vùng lãnh thổ đạt mức thu nhập trung bình cao (từ 14.000 USD trở lên). Trong đó, chỉ có 43 nước vượt qua được bẫy thu nhập trung bình, trở thành nước thu nhập cao.

Tại châu Á, nổi lên Hàn Quốc, Singapore với thành quả ấn tượng để học tập. Các quốc gia này đã biến tăng trưởng cao thành một dự án quốc gia được theo đuổi kiên định suốt 25-30 năm, xuyên qua nhiều thế hệ lãnh đạo và vượt qua nhiều cú sốc từ bên ngoài. Hàn Quốc tăng trưởng bình quân gần 10%/năm trong ba thập niên từ đầu những năm 1960; Singapore tăng trưởng bình quân khoảng 9%/năm trong giai đoạn 1965-1990.

Toàn cảnh đô thị hiện đại của Singapore bên cạnh Bảo tàng ArtScience. Ảnh: stb.gov.sg

Toàn cảnh đô thị hiện đại của Singapore bên cạnh Bảo tàng ArtScience. Ảnh: stb.gov.sg

Từ kinh nghiệm của các quốc gia đi trước, Phó Giáo sư Đào Ngọc Tiến cho rằng Việt Nam có thể học hỏi từ những chính sách đặc thù của các nước này.

Trước hết, Phó Giáo sư cho biết, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo được coi là động lực mới cho tăng trưởng kinh tế và nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện để phát huy động lực tăng trưởng đó. Hàn Quốc phổ cập giáo dục kỹ thuật từ trước khi công nghiệp cần đến, và ngày nay chi cho R&D gần 5% GDP - thuộc nhóm cao nhất thế giới; Singapore liên tục nâng cấp kỹ năng lao động và chủ động thu hút nhân tài toàn cầu. Tại Việt Nam, Nghị quyết 57 đã đặt đúng mục tiêu - R&D đạt 2% GDP, kinh tế số đạt 30% GDP vào năm 2030 - vấn đề còn lại là tốc độ thực thi, đặc biệt ở khâu đào tạo hàng chục nghìn kỹ sư bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và cải cách giáo dục đại học.

Busan, Hàn Quốc về đêm với cầu Gwangandaegyo và khu đô thị Marine City. Ảnh: Busan Tourism Organization

Busan, Hàn Quốc về đêm với cầu Gwangandaegyo và khu đô thị Marine City. Ảnh: Busan Tourism Organization

Một điểm đáng chú ý khác, các quốc gia này xây dựng năng lực nội sinh và hấp thụ ngoại lực chứ không chỉ dựa vào nguồn lực bên ngoài. Singapore dùng các tập đoàn đa quốc gia làm bệ phóng nhưng song song xây dựng năng lực nội địa và các quỹ đầu tư quốc gia; Hàn Quốc bảo hộ có thời hạn nhưng buộc doanh nghiệp phải cạnh tranh sòng phẳng trên thị trường thế giới. Ông Tiến nhận định, Việt Nam đã đi qua "chặng thu hút FDI"; chặng tiếp theo phải là nội địa hóa năng lực - thúc đẩy liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước, nâng cao giá trị gia tăng trong nước thay vì chỉ thúc đẩy kim ngạch xuất nhập khẩu.

Cùng với đó, các quốc gia này đã xây dựng bộ máy tinh hoa cho nhà nước kiến tạo phát triển. Đằng sau kỳ tích Hàn Quốc là Ủy ban Kế hoạch Kinh tế, quy tụ những nhà kỹ trị giỏi nhất, được trao quyền và được bảo vệ khỏi các nhóm lợi ích; đằng sau Singapore là nền công vụ liêm chính, tuyển chọn theo năng lực và trả lương cạnh tranh so với khu vực tư. Đặt tương quan với trong nước, vị chuyên gia chỉ ra, cuộc cải cách bộ máy năm 2025 của Việt Nam - sắp xếp còn 34 tỉnh, thành và vận hành chính quyền địa phương hai cấp - đã đi đúng hướng "tinh, gọn"; bước tiếp theo phải là "mạnh": chất lượng công chức, đánh giá theo KPI, và cơ chế thực chất bảo vệ người dám nghĩ, dám làm.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Ngọc Tiến - Phó hiệu trưởng Trường đại học Ngoại thương

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Ngọc Tiến - Phó hiệu trưởng Trường đại học Ngoại thương

Thêm một chính sách quyết liệt khác, đó là áp dụng kỷ luật thị trường vào chính sách hỗ trợ. Hàn Quốc hỗ trợ doanh nghiệp rất mạnh tay, nhưng luôn có điều kiện: ưu đãi gắn với kết quả xuất khẩu, có thời hạn rõ ràng, và ai không đạt sẽ bị loại khỏi cuộc chơi. Chính kỷ luật đó đã sinh ra các chaebol như Samsung, Hyundai. Vì vậy, khi Việt Nam triển khai Nghị quyết 68, xây dựng lực lượng doanh nghiệp dân tộc quy mô lớn, cần có cơ chế tương tự: hỗ trợ dựa trên các chỉ số đo đếm được (kim ngạch, tỷ lệ nội địa hóa, chi cho R&D), có lộ trình rút ưu đãi, công khai, minh bạch.

Cuối cùng, Phó Giáo sư nhắc đến việc duy trì tỷ lệ tiết kiệm - đầu tư cao nhưng phải hiệu quả, đi kèm với kỷ luật tài chính. Các nền kinh tế Đông Á thành công đều đầu tư 35-40% GDP với hiệu quả sử dụng vốn cao. Việt Nam đang bước vào chu kỳ đầu tư hạ tầng lớn nhất trong lịch sử - đường sắt tốc độ cao Bắc-Nam, điện hạt nhân, cảng biển, hạ tầng số. Nhưng bài học khủng hoảng 1997 của chính Hàn Quốc nhắc rằng tăng trưởng dựa trên đòn bẩy thiếu kiểm soát có thể xóa sạch thành quả của cả một thập kỷ: Kỷ luật tài chính là điều kiện bắt buộc đi kèm với tham vọng.

Mỗi quốc gia có một bối cảnh phát triển khác biệt, dù không thể áp dụng tuyệt đối mô hình tăng trưởng của bất kỳ quốc gia nào vào Việt Nam nhưng có thể tham khảo bài học thành công từ những nước phát triển để từ đó tìm ra con đường riêng cho chính mình.

“Hiện nay Việt Nam phải tăng trưởng kinh tế nhanh trong bối cảnh quốc tế phi toàn cầu hóa, bảo hộ thương mại đang quay trở lại, chuỗi cung ứng phân mảnh và các cam kết xanh, bền vững như CBAM, EUDR trở thành tiêu chuẩn bắt buộc của thị trường. Vì vậy đòi hỏi Việt Nam phải có cam kết chính trị của toàn xã hội và xuyên suốt thời gian kèm theo một bộ máy đủ năng lực biến cam kết thành kết quả”, Phó Giáo sư Đào Ngọc Tiến nhận định.

"Hiện nay Việt Nam phải tăng trưởng kinh tế nhanh trong bối cảnh quốc tế phi toàn cầu hóa, bảo hộ thương mại đang quay trở lại, chuỗi cung ứng phân mảnh và các cam kết xanh, bền vững như CBAM, EUDR trở thành tiêu chuẩn bắt buộc của thị trường. Vì vậy đòi hỏi Việt Nam phải có cam kết chính trị của toàn xã hội và xuyên suốt thời gian kèm theo một bộ máy đủ năng lực biến cam kết thành kết quả".

- Phó Giáo sư Đào Ngọc Tiến -

CÔNG THỨC ĐỘT PHÁ

Như đã phân tích ở trên, Hàn Quốc hay Singapore đều sở hữu những đặc trưng rất riêng về con đường phát triển, cũng như về vai trò của Chính phủ và thị trường. Về phía Việt Nam, với bối cảnh đặc trưng của mình, theo phân tích của ông Shantanu Chakraborty, Giám đốc quốc gia Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam, để đạt mục tiêu thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam cần xử lý một số điểm nghẽn lớn, đó là chất lượng thực thi chính sách, thủ tục đầu tư, tiếp cận đất đai, hạ tầng, năng lượng, logistics, kỹ năng lao động, thị trường vốn và năng lực đổi mới sáng tạo. Một thách thức quan trọng khác là năng suất của khu vực doanh nghiệp trong nước còn thấp và liên kết với FDI chưa đủ sâu.

Ông Bùi Minh Giáp, chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam

Ông Bùi Minh Giáp, chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam

Trao đổi với phóng viên Báo Nhân Dân, ông Bùi Minh Giáp, chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam cũng chỉ rõ, đối với Việt Nam, kinh tế đang duy trì đà tăng trưởng mạnh trong nửa đầu năm 2026, kết quả tích cực này cũng cần được nhìn nhận một cách thận trọng nhất định bởi môi trường bên ngoài và các sức ép vĩ mô trong nước cũng đang hiện ra rõ nét hơn.

Ông Bùi Minh Giáp lý giải, Việt Nam là nền kinh tế có độ mở lớn, nên các biến động về thương mại toàn cầu, thuế quan, rào cản thương mại, giá năng lượng, tỷ giá và nhu cầu từ các thị trường xuất khẩu lớn có thể tác động nhanh tới tăng trưởng. Tác động có thể đi qua nhiều kênh: xuất khẩu, nhập khẩu đầu vào, chi phí logistics, dòng vốn đầu tư và tâm lý của doanh nghiệp.

Trên hành trình bước tới tăng trưởng cao, Việt Nam cần phải giải quyết "trúng" vào điểm nghẽn thực tế của nền kinh tế.

Trước hết, là vấn đề khai phóng nguồn lực. Rõ ràng, nguồn lực của Việt Nam không thiếu mà đang bị đóng băng ở các dự án tồn đọng, quỹ đất chưa phát huy, vốn nhà nước tại doanh nghiệp, lượng vàng và ngoại tệ trong dân, cùng dòng kiều hối mỗi năm …

Tiến sĩ Nguyễn Đình Chúc, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, Viện Hàn lâm Khoa học-Xã hội Việt Nam.

Tiến sĩ Nguyễn Đình Chúc, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, Viện Hàn lâm Khoa học-Xã hội Việt Nam.

Tiến sĩ Nguyễn Đình Chúc, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, Viện Hàn lâm Khoa học-Xã hội Việt Nam chỉ ra, khi bước vào thời kỳ Đổi mới năm 1986, chính sách quan trọng là cho phép cơ chế thị trường vận hành và giải phóng nguồn lực từ sản xuất, bắt đầu ngay từ người nông dân để trở thành nước xuất khẩu lúa gạo. Ngày nay, với nguồn lực lớn chưa được giải phóng, cần thiết lập ra những thể chế mang tính đột phá nhằm khai thác nguồn lực, để thu hút đầu tư, nâng cao năng suất và hấp thụ các công nghệ mới.

Một vấn đề lớn khác được gọi tên "điểm nghẽn của điểm nghẽn" là câu chuyện thể chế, bản chất là "Giải phóng sức sản xuất". Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Ngọc Tiến chỉ ra, các nghị quyết chiến lược đã dựng xong khung, giờ là lúc thực thi đến cùng các mục tiêu cắt giảm ít nhất 30% điều kiện kinh doanh và chi phí tuân thủ, hướng tới 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030. Trong quá trình này, cần chú ý đến sự song hành giữa chính sách: Vừa phát triển nhóm doanh nghiệp lớn, dẫn dắt, vừa nâng cao năng lực hấp thụ rộng rãi của toàn bộ doanh nghiệp.

Tính toán sơ bộ của nhóm nghiên cứu của Trường Đại học Ngoại thương cho thành phố Hà Nội cho thấy, tăng trưởng hai con số chỉ khả thi khi khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực chi phối, đóng góp 4–8 điểm phần trăm mỗi năm (35-65% tổng tăng trưởng). Tránh bẫy thu nhập trung bình, một trong những yếu tố quyết định là "đột phá đổi mới sáng tạo" - theo ông Shantanu Chakraborty. Đây chính là biến số quyết định của mô hình tăng trưởng mới để đạt mục tiêu hai con số một cách bền vững.

Một góc thành phố Hà Nội. ảnh: Thành Đạt

Một góc thành phố Hà Nội. ảnh: Thành Đạt

Thành tố quan trọng khác trong quá trình tiến lên thu nhập cao, đòi hỏi Việt Nam phải phát triển được "thị trường kép" tức là phát triển song song thị trường trong nước với hơn 100 triệu dân và thị trường quốc tế thông qua mạng lưới 17 FTA, nhằm bảo đảm sự bền vững trong bối cảnh bất định trên thế giới. Bên cạnh đó, hiểu theo một nghĩa khác của “thị trường kép” là thị trường vốn. Việt Nam bắt buộc phải phát triển một thị trường vốn dài hạn và các cấu phần thị trường khác, thay vì chỉ phụ thuộc vào dòng vốn từ hệ thống ngân hàng thương mại, ông Chúc phân tích.

Quan trọng hơn trong bối cảnh hiện nay là cần nhấn mạnh đến “quản trị thực thi” như là thành tố đặc biệt quan trọng. Những thành tố nêu trên dù được thiết kế tốt như chính sách tốt, nguồn lực dồi dào, có năng lực sản xuất cao, nhưng nếu khâu thực thi không hiệu quả thì kết quả cũng bằng không; ngược lại, thực thi tốt sẽ khuếch đại tất cả các thành tố còn lại, Phó Giáo sư Đào Ngọc Tiến nhắc đến vai trò của “quản trị thực thi” khi nói đến điều kiện để Việt Nam đạt tăng trưởng cao.

Thành tố quan trọng khác trong quá trình tiến lên thu nhập cao, đòi hỏi Việt Nam phải phát triển được "thị trường kép" tức là phát triển song song thị trường trong nước với hơn 100 triệu dân và thị trường quốc tế thông qua mạng lưới 17 FTA, nhằm bảo đảm sự bền vững trong bối cảnh bất định trên thế giới. Trong ảnh: Siêu cảng Cái Mép-Thị Vải.

Thành tố quan trọng khác trong quá trình tiến lên thu nhập cao, đòi hỏi Việt Nam phải phát triển được "thị trường kép" tức là phát triển song song thị trường trong nước với hơn 100 triệu dân và thị trường quốc tế thông qua mạng lưới 17 FTA, nhằm bảo đảm sự bền vững trong bối cảnh bất định trên thế giới. Trong ảnh: Siêu cảng Cái Mép-Thị Vải.

Đối với quản trị thực thi cần chú ý đến năng lực giám sát dựa trên dữ liệu. Mỗi thành tố nên được gắn với các chỉ số được đo lường và giám sát liên tục: ICOR giảm từ khoảng 6 xuống 4-4,5; tỷ trọng đóng góp của TFP; tỷ lệ giá trị gia tăng trong xuất khẩu; tỷ lệ giải ngân đầu tư công. Ngoài ra, điểm quan trọng nhất trong quản trị thực thi là quản trị rủi ro kinh tế vĩ mô để bảo đảm nền tảng ổn định vĩ mô và an toàn tài chính. Tỷ lệ tín dụng/GDP của nước ta đã vượt 130%; nếu dồn gánh nặng tăng trưởng lên vai tín dụng và bất động sản thì rủi ro lặp lại chu kỳ 2007-2011 là hiện hữu. Đồng thời, điện năng phải tăng 10-12%/năm mới "nuôi" nổi tăng trưởng hai con số.

Vị chuyên gia cho biết, thực tiễn nửa đầu năm 2026 đã minh chứng, việc vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp và phân cấp mạnh theo tinh thần "địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm" đã tạo đòn bẩy quan trọng đưa tăng trưởng lên 8,18%.

"Thực tiễn nửa đầu năm 2026 đã minh chứng, việc vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp và phân cấp mạnh theo tinh thần "địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm" đã tạo đòn bẩy quan trọng đưa tăng trưởng lên 8,18%".

- Ông Bùi Minh Giáp, chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam -

Trong đánh giá của ông Giám đốc Ngân hàng Phát triển châu Á tại Việt Nam cũng đưa ra quan điểm tương tự nêu trên. Theo ông, các nghị quyết và cải cách chiến lược chỉ tạo ra tác động nếu được triển khai nhất quán, có đo lường kết quả và có trách nhiệm giải trình rõ ràng. Việt Nam đã có định hướng phát triển phù hợp; tuy nhiên thách thức lớn là biến định hướng đó thành cải thiện thực tế cho doanh nghiệp, người lao động và nhà đầu tư.

Với nhận định của các nhà nghiên cứu, có thể thấy công thức đột phá để tạo ra tăng trưởng cao, bền vững được đúc rút ra, đó là:

Tăng GDP 2 con số = Khai phóng nguồn lực + Giải phóng sức sản xuất + Đột phá đổi mới sáng tạo + Phát triển thị trường kép + Quản trị thực thi hiệu quả.

Công thức trên đã bao quát cả phía cung (nguồn lực, sức sản xuất, đổi mới sáng tạo), phía cầu (thị trường kép) lẫn khâu quản trị thực thi.

Nếu vận hành thành công công thức này, tháo gỡ được những điểm nghẽn căn bản của kinh tế Việt Nam, kỳ vọng mục tiêu tăng trưởng hai con số sẽ khả thi, và giai đoạn 2026-2030 sẽ là giai đoạn cất cánh của nền kinh tế Việt Nam như Cuộc Đổi mới 2.0, đưa nước ta trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045.

Thiết kế có sự hỗ trợ của AI

Thiết kế có sự hỗ trợ của AI

Ngày xuất bản: 9/2026
Thực hiện: Hồng Vân - Quỳnh Trang - Minh Phương - Bảo Minh - Khánh Giang