Tận dụng CPTPP để mở rộng xuất khẩu, đa dạng hóa thị trường

Trong bối cảnh thương mại toàn cầu biến động, tận dụng Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đang mở thêm dư địa để doanh nghiệp Việt Nam đa dạng hóa thị trường, đối tác và mở rộng xuất khẩu, qua đó nâng cao sức chống chịu của chuỗi cung ứng.

Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đang mở thêm dư địa để doanh nghiệp Việt Nam đa dạng hóa thị trường, đối tác và mở rộng xuất khẩu, qua đó nâng cao sức chống chịu của chuỗi cung ứng. (Ảnh: KIM DUNG)
Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đang mở thêm dư địa để doanh nghiệp Việt Nam đa dạng hóa thị trường, đối tác và mở rộng xuất khẩu, qua đó nâng cao sức chống chịu của chuỗi cung ứng. (Ảnh: KIM DUNG)

Theo số liệu thống kê năm 2025, thương mại hai chiều giữa Việt Nam và các thành viên CPTPP đạt 124,5 tỷ USD, trong đó xuất khẩu của Việt Nam đạt 70,6 tỷ USD, tăng 11,5% so với năm 2024. Đáng chú ý, xuất khẩu sang những thị trường Việt Nam chưa có quan hệ FTA trước CPTPP như Canada, Mexico và Peru tiếp tục tăng trưởng tích cực.

Từ chuyển hướng thị trường đến tái cấu trúc chuỗi cung ứng

Chia sẻ tại tọa đàm “Từ biến động thương mại toàn cầu đến cơ hội thị trường: Tận dụng CPTPP để chuyển hướng và mở rộng xuất khẩu” được tổ chức ngày 28/9, ông Ngô Chung Khanh, Phó Vụ trưởng Phát triển thị trường nước ngoài và Thương mại đa biên (Bộ Công thương) cho biết, trong bối cảnh các chuỗi cung ứng toàn cầu đang được cấu trúc lại, Việt Nam với vị thế là một trung tâm sản xuất trở thành đối tác tiềm năng đối với những thị trường có nhu cầu đa dạng hóa nguồn cung.

ndo_br_1-ngo-chung-khanh.jpg
Ông Ngô Chung Khanh, Phó Vụ trưởng Phát triển thị trường nước ngoài và Thương mại đa biên (Bộ Công thương).

Theo ông Ngô Chung Khanh, tổng kim ngạch nhập khẩu của các nước CPTPP, không tính Việt Nam, năm 2025 vào khoảng 4.250 tỷ USD, trong khi xuất khẩu của Việt Nam sang các nước còn lại trong khối mới ở mức hơn 70 tỷ USD, tương đương thị phần hơn 1%. Riêng Canada và Mexico, hai thị trường mới có FTA với Việt Nam, cũng mới chiếm hơn 1% thị phần xuất khẩu của Việt Nam.

Những con số này cho thấy không gian khai thác vẫn còn rộng, song dư địa của từng thị trường không đồng nghĩa với cơ hội tự động chuyển thành đơn hàng. Doanh nghiệp phải xác định được sản phẩm nào phù hợp, phân khúc nào có nhu cầu và lợi thế của mình nằm ở đâu.

Mexico là một thí dụ rõ về khả năng mở rộng không gian xuất khẩu thông qua CPTPP. Năm 2025, thương mại hai chiều Việt Nam-Mexico đạt 8,17 tỷ USD, tăng 27%; xuất khẩu của Việt Nam sang Mexico đạt hơn 7 tỷ USD, tăng gần 29%. Đến tháng 8/2026, thương mại song phương đạt 7,2 tỷ USD, tăng gần 40%, trong đó xuất khẩu của Việt Nam đạt gần 6,3 tỷ USD, cũng tăng gần 40%. Các nhóm hàng tăng trưởng tập trung gồm máy vi tính, điện tử và linh kiện, máy móc, thiết bị, giày dép, dệt may, phương tiện vận tải và phụ tùng.

Theo bà Nguyễn Thị Trang, Tham tán thương mại, Thương vụ Việt Nam tại Mexico, không nên chỉ nhìn Mexico như một thị trường hơn 130 triệu dân. Với vị trí kết nối giữa Bắc Mỹ và không gian thị trường Mỹ Latinh, Mexico đồng thời có nhu cầu phục vụ tiêu dùng trong nước và nhu cầu về nguyên liệu, linh kiện, máy móc, thiết bị cho các chuỗi sản xuất gắn với Bắc Mỹ. Tuy nhiên, “có thị trường và có ưu đãi thuế quan chưa đồng nghĩa với có đơn hàng”, bà Nguyễn Thị Trang nhấn mạnh. CPTPP tạo lợi thế thuế quan khi doanh nghiệp đáp ứng đúng quy tắc xuất xứ và các quy định nhập khẩu, nhưng khả năng biến cơ hội thành hợp đồng vẫn phụ thuộc lớn vào năng lực của doanh nghiệp.

Đối với ngành điện tử, việc chuyển hướng xuất khẩu càng không thể diễn ra trong ngày một ngày hai. Bà Đỗ Thị Thúy Hương, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam cho rằng, doanh nghiệp không nên đợi đến khi thị trường truyền thống xuất hiện biến động mới bắt đầu tìm kiếm thị trường thay thế. Mỗi thị trường có yêu cầu riêng về tiêu chuẩn kỹ thuật, điều kiện cung ứng và yêu cầu của khách hàng. Do đó, chuyển hướng thị trường kéo theo sự điều chỉnh phức tạp của cả chuỗi cung ứng. Những điểm nghẽn doanh nghiệp thường gặp gồm thiếu thông tin thị trường, khó xác thực đối tác, yêu cầu kỹ thuật, quy tắc xuất xứ và khả năng xây dựng chuỗi cung ứng phù hợp.

ndo_br_3-ba-do-thi-thuy-huong.jpg
Bà Đỗ Thị Thúy Hương, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam.

Đáng chú ý, với doanh nghiệp vừa và nhỏ, CPTPP không nhất thiết chỉ mở ra cơ hội xuất khẩu một sản phẩm hoàn chỉnh. Doanh nghiệp có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng với vai trò nhà cung cấp linh kiện, vật liệu, mô-đun hoặc một công đoạn sản xuất. Như vậy, cơ hội từ CPTPP không chỉ nằm ở xuất khẩu trực tiếp mà còn ở khả năng tham gia vào hệ sinh thái sản xuất khu vực.

"Để làm được điều đó, doanh nghiệp phải thay đổi cả cách quản trị. Với ngành điện tử, yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, nguồn nguyên liệu, linh kiện, nhà cung cấp, hồ sơ và chứng từ đòi hỏi doanh nghiệp đầu tư vào hệ thống quản trị dữ liệu, quản trị nhà cung cấp và minh bạch chuỗi cung ứng. CPTPP vì thế có thể được nhìn như một không gian kết nối từ nhà cung cấp nguyên liệu, linh kiện, doanh nghiệp sản xuất đến nhà mua hàng, đối tác công nghệ và logistics" , bà Đỗ Thị Thúy Hương khẳng định.

Biến ưu đãi thành năng lực cạnh tranh

Để tận dụng CPTPP hiệu quả, yêu cầu trước hết vẫn là tuân thủ. Theo ông Ngô Chung Khanh, quy tắc xuất xứ là điều kiện tiên quyết để được hưởng thuế ưu đãi. Bên cạnh đó, CPTPP là một hiệp định tiêu chuẩn cao, bao gồm cả những yêu cầu về lao động, môi trường và các vấn đề khác ngoài thuế quan, đặt ra không ít thách thức, nhất là đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Từ thực tế tại Mexico, bà Nguyễn Thị Trang cho rằng doanh nghiệp cần tiếp cận việc mở rộng thị trường theo cả vòng đời của một giao dịch. Trước khi giao dịch phải xác định đúng mã HS, quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật, nhãn hàng hóa, kiểm dịch hoặc an toàn thực phẩm nếu có, đồng thời tìm hiểu kỹ đối tác. Khi giao dịch bắt đầu, các vấn đề về hợp đồng, thanh toán, chứng từ, logistics và thông quan tiếp tục cần được kiểm soát. Khi kim ngạch tăng, doanh nghiệp còn phải lưu ý các thay đổi chính sách và biện pháp phòng vệ thương mại của nước sở tại.

Một quy trình được Thương vụ Việt Nam tại Mexico khuyến nghị cho doanh nghiệp bắt đầu khai thác thị trường là nghiên cứu sản phẩm và yêu cầu nhập khẩu; đánh giá khả năng cạnh tranh của chính doanh nghiệp; đưa sản phẩm ra thị trường để kiểm chứng nhu cầu; gặp trực tiếp nhà mua hàng và đi sâu vào giao dịch; sau đó tiếp tục theo dõi, chăm sóc để biến kết nối thành quan hệ thương mại lâu dài. Như vậy, tận dụng CPTPP không phải là câu chuyện “đổi” một thị trường lấy một thị trường khác. Đó là quá trình doanh nghiệp chủ động xây dựng một cấu trúc kinh doanh đa dạng hơn, từ thị trường, nguồn cung đến đối tác.

Theo đó, doanh nghiệp không nên chờ thị trường biến động mới tìm kiếm phương án thay thế. Đa dạng hóa cần được chuẩn bị ngay khi thị trường đang thuận lợi, đồng thời vẫn duy trì và phát triển các thị trường truyền thống. Theo bà Đỗ Thị Thúy Hương, giá trị lớn hơn của FTA không chỉ nằm ở thuế suất mà ở việc tạo ra không gian thị trường và chuỗi cung ứng rộng hơn. Doanh nghiệp cần đồng thời đa dạng hóa thị trường, nguồn nguyên liệu, linh kiện, công nghệ, nhà cung cấp và mạng lưới đối tác.

Để hỗ trợ doanh nghiệp, Bộ Công thương cũng đang hướng tới xây dựng hệ thống quản trị thực thi FTA với ba trụ cột gồm thông tin; đánh giá kết quả thực thi FTA tại địa phương; và xây dựng hệ sinh thái tận dụng FTA, kết nối các nguồn lực từ Trung ương, địa phương, hiệp hội, doanh nghiệp, logistics và các tổ chức liên quan. CPTPP vì thế đang đặt ra một cách tiếp cận mới cho doanh nghiệp Việt Nam, vừa tìm nơi bán hàng, vừa tìm thêm phương án kinh doanh; đa dạng đầu ra và đầu vào; đồng thời, tận dụng ưu đãi thuế quan, biến các cam kết của FTA thành năng lực cạnh tranh thực tế.

Trong một thế giới thương mại nhiều biến động, giá trị của CPTPP nằm ở khả năng mở thêm những cánh cửa, phân tán rủi ro, tái cấu trúc chuỗi cung ứng và xây dựng năng lực để hiện diện lâu dài. Khi doanh nghiệp xác định đúng sản phẩm, tìm đúng đối tác, đáp ứng đúng quy tắc xuất xứ và chủ động quản trị chuỗi cung ứng, CPTPP sẽ không chỉ là một hiệp định với những mức thuế ưu đãi, mà trở thành một công cụ kinh doanh cụ thể, giúp hàng Việt Nam mở rộng không gian xuất khẩu và nâng cao sức chống chịu trước những biến động của thương mại toàn cầu.

Có thể bạn quan tâm

(Ảnh: THÀNH ĐẠT)

Giá vàng ngày 28/9: Vàng miếng, vàng nhẫn tiếp tục “bốc hơi” cả triệu đồng/lượng

Giá vàng thế giới hôm nay (28/9) giảm mạnh, giao dịch ở mức 4.210 USD/ounce khi lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ tăng cao, chính sách lãi suất thắt chặt từ FED và những lo ngại liên quan lạm phát, giá năng lượng, căng thẳng địa chính trị. Trong nước, giá vàng miếng SJC “bốc hơi” 1 triệu đồng, bán ra ở mức 143,4 triệu đồng/lượng.

Xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh là chiến lược phát triển đất nước lâu dài, gắn chặt với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Mạnh mẽ vươn khơi, khai mở không gian phát triển mới

Nghị quyết 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 Hội nghị lần thứ 3, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đã nhấn mạnh: “Xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh là chiến lược phát triển đất nước lâu dài, gắn chặt với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,…”.

Khát vọng "2 con số" và lựa chọn lịch sử của Việt Nam

Khát vọng "2 con số" và lựa chọn lịch sử của Việt Nam

Sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã có bước tăng trưởng “kỳ tích”, vượt qua thời kỳ nghèo đói, lạc hậu để lại với tăng trưởng bình quân 6,4%. Nhưng Việt Nam muốn “sánh vai với cường quốc năm châu”, không con đường nào khác ngoài việc tiếp tục cải cách toàn diện các điểm nghẽn căn bản để bứt phá với tăng trưởng cao bền vững. 

Khu vực nuôi cá chẽm công nghệ cao ở vùng nước sâu của Công ty trách nhiệm hữu hạn Thủy sản Australis Việt Nam trên vịnh Vân Phong, tỉnh Khánh Hòa. (Ảnh: QUỐC VIỆT-LÊ QUÂN)

Khai mở không gian phát triển mới

Thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, nuôi biển công nghệ cao, chúng ta đang đứng trước cơ hội lớn để bứt phá từ biển, làm giàu từ biển, nâng cao sức cạnh tranh trong khu vực và trên thế giới.

Dự án mở rộng Quốc lộ 13, 1 trong các dự án giao thông "cửa ngõ" thực hiện theo hình thức đối tác công-tư. (Ảnh: VÕ LÊ)

Huy động các nguồn lực phát triển hạ tầng giao thông

Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh vừa lấy ý kiến góp ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với dự thảo Nghị quyết về chính sách ưu đãi, huy động các nguồn lực để xây dựng, phát triển, bảo trì đồng bộ hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng giao thông, phát triển vùng, logistics trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

Kiểm tra, đánh giá khả năng giảm chất hữu cơ và dinh dưỡng của mô hình nuôi IMTA. (Ảnh: NAM MINH)

Nâng cao hiệu quả kinh tế trong nuôi trồng thủy sản

Những năm gần đây, nghề nuôi thủy sản trên biển bằng lồng, giàn bè tại thành phố Quảng Ninh phát triển nhanh, mang lại giá trị kinh tế đáng kể và góp phần nâng cao thu nhập cho người dân. Tuy nhiên, sự gia tăng về số lượng, mật độ lồng, giàn bè đang tạo áp lực ngày càng lớn lên môi trường và hệ sinh thái tại các vùng nuôi.

Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị Vương Quốc Tuấn cùng lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị kiểm tra tiến độ dự án Khu bến cảng quốc tế Mỹ Thủy. (Ảnh: LÂM QUANG HUY)

Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị Vương Quốc Tuấn yêu cầu đẩy nhanh, không để lùi thêm mốc thời gian nào các dự án động lực, trọng điểm

Ngày 26/9, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh trực tiếp kiểm tra các dự án động lực, trọng điểm yêu cầu đẩy nhanh tiến độ, không để lùi thêm bất kỳ mốc thời gian nào của các dự án nhằm sớm đưa vào khai thác, sử dụng.

Việc theo dõi tiến độ từng dự án là cơ sở để đăng ký kế hoạch giải ngân phù hợp. (Ảnh: KC)

Chuẩn hóa dữ liệu trước kỳ chấm điểm giải ngân đầu tư công chính thức

Sau 2 kỳ chấm điểm thử, Bộ Tài chính đề nghị các bộ, cơ quan trung ương và địa phương rà soát từ vốn đăng ký giải ngân đến phạm vi nguồn vốn, kết quả thanh toán và những vướng mắc. Yêu cầu đặt ra trước kỳ chấm điểm chính thức là dữ liệu phải phản ánh đúng tiến độ thực hiện, thống nhất giữa các hệ thống và được cập nhật đúng hạn.