Đi tìm những giả thuyết về nguồn gốc phở Hà Nội

Phở là đề tài hấp dẫn, thôi thúc nhà văn, nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Tiến dành nhiều thời gian, công sức tìm hiểu từ nhiều năm nay. Với ông, phở Hà Nội ẩn chứa bên trong đó nhiều câu chuyện hết sức thú vị.
Đi tìm những giả thuyết về nguồn gốc phở Hà Nội

Phở trong những ghi chép từ lịch sử

Trong dòng chảy ẩm thực Việt, phở là trường hợp đặc biệt nhất khi rất nổi tiếng, được thực khách vô cùng yêu thích, tên tuổi ra cả thế giới, nhưng nguồn gốc của món ăn này lại là một màn sương mờ. Xuất xứ phở ở đâu, Hà Nội hay Nam Định, xuất phát từ món ăn nào của dân tộc nào, quốc gia nào…? Cho đến nay tất cả những câu hỏi này đều chưa thể có câu trả lời, mà chỉ có một vài “manh mối” đến từ một số ghi chép của các học giả rải rác từ thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20.

Trong số nhiều nhà nghiên cứu về Hà Nội, nhà văn, nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Tiến là người dành rất nhiều thời gian và công sức để tìm hiểu về phở.

Trong cuốn “5678 bước chân quanh hồ Gươm”, ông viết, một vài nhà nghiên cứu cho rằng phở có xuất xứ ở Nam Định, bắt đầu từ món bánh phở chan nước xương bán cho công nhân dệt. Và bằng chứng là hiện nay các quán phở Nam Định mọc lên tại nhiều tỉnh thành phía bắc.

Một hàng phở gánh đêm ở Hà Nội.

Một hàng phở gánh đêm ở Hà Nội.

Tuy nhiên nhà văn Nguyễn Siêu Hải lại dẫn nguồn từ những ghi chép của dòng họ Nguyễn Đình sống ở phường Diên Hưng (nay là Hàng Gai) từ thế kỷ XVIII đến năm 1854 chứng minh rằng xuất xứ của phở là từ món xáo trâu bán ở bến tàu Cột Đồng Hồ.

Phở ra thế giới từ thập niên 90 và nhanh chóng được công nhận là món ăn không béo, dễ ăn, vì thế ngày 20-9-2007, Từ điển tiếng Anh giản lược Oxford (Shorter Oxford English Dictionary) đã đưa phở vào từ điển này khi xuất bản.

Phở gánh Hà Nội đầu thế kỷ. (Ảnh tư liệu)

Phở gánh Hà Nội đầu thế kỷ. (Ảnh tư liệu)

Nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến cho biết, trong từ điển của Paulus Huỳnh Tịnh Của xuất bản năm 1895 và của Génibrel năm 1898 cũng như trong bài nghiên cứu Khảo luận về người Bắc Kỳ (Essai sur les Tonkinois) đăng trên tờ Revue Indochinoise số ra ngày 15-9-1907 của nhà Việt Nam học và Hà Nội học đầu tiên Georges Dumoutier giới thiệu nhiều món ăn và thức uống thường thấy ở miền bắc vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX nhưng cũng chưa thấy nhắc đến món phở. Tuy nhiên điều đó không thể khẳng định một cách chắc chắn khi đó phở chưa xuất hiện. Liệu người làm từ điển và người viết báo đã khảo sát hết ẩm thực Bắc Kỳ?

Những giả thuyết khác nhau về phở

Theo nhà nghiên cứu, nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến, có nhiều giả thuyết khác nhau về nguồn gốc của phở. Ông đã khảo cứu nhiều nguồn tư liệu về phở, như nguồn tư liệu tại các thư viện, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia….

Đặc biệt, ông đã tự tìm hiểu cuốn gia sử của gia đình họ Nguyễn Đình ở phố Hàng Ngang, gốc ở Thanh Trì (đã được đề cập đến trong cuốn “5678 bước chân quanh hồ Gươm” kể trên), nhưng lên sinh sống ở Thăng Long từ cuối thế kỷ 17. Cuốn gia sử có nội dung nhắc đến nguồn gốc của phở, bắt nguồn từ món bún xáo trâu.

Món bún xáo trâu được làm từ nước ninh xương trâu chan với bún, có thêm hành, răm và ít thịt trâu. Món này chủ yếu bán ở bến phà, bãi sống Hồng. Sau đó người bán thay bún bằng bánh cuốn xắt ra, rồi tiến tới thay bằng thịt bò do thịt bò rẻ hơn thịt trâu, xuất phát từ việc bò được người Pháp nuôi rất nhiều ở Ba Vì. Sau này, bánh cuốn Thanh Trì được tráng dày lên gần giống như bánh phở ngày nay.

Cũng có giả thuyết khác cho rằng, món phở xuất phát từ phương pháp chế biến từ món súp thịt bò của Pháp pot-au-feu với chữ feu nghĩa là “lửa”. Món súp này xuất xứ từ năm 1894 ở bệnh viện Bệnh viện De Lanessan, nay là Bệnh viện Quân y 108, chuyên cứu chữa thương binh Pháp, đó là món mà các đầu bếp bệnh viện nấu để bồi dưỡng cho các thương binh. Tuy nhiên theo nhà văn, điều này không chính xác, bởi vì món ăn này mặc dù nấu từ xương bò ninh nhưng lại có các loại rau củ, như cà rốt, củ cải…

Một giả thuyết khác cho rằng món phở xuất phát từ món ngưu nhục phấn của người Quảng Đông ở Hà Nội. Cách nấu cũng khác, nhưng khi người bán rong đi ngoài phố thường rao “phấn ơ” sau đọc trại đi thành “phở”.

Hình minh họa trong sách "Kỹ nghệ của người An Nam" của Henri Oger.

Hình minh họa trong sách "Kỹ nghệ của người An Nam" của Henri Oger.

Nhà văn, nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Tiến cho rằng, từ bốn xuất xứ kể trên, phở có thể xuất hiện từ khoảng cuối thế kỷ 19, và khó xác định cụ thể năm. Sau này, trong cuốn “Kỹ nghệ của người An Nam” năm 1908-1909 của Henri Oger có vẽ hình một gánh phở rong. Còn trong cuốn từ điển của Viện Viễn Đông Bác Cổ soạn từ những năm 1920 nhưng đến năm 1933 mới xuất bản thì có định nghĩa rõ về chữ “phở”, trong đó có phở chín, phở tái. Sau đó có bài thơ “Phở đức tụng” của cụ Tú Mỡ năm 1937. Quán phở đầu tiên xuất hiện là ở phố Cầu Gỗ, của người Hoa, nhưng cũng khó chứng minh đó là ngưu nhục phấn hay bán phở theo kiểu Việt Nam.

Nhà văn, nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Tiến cho rằng, phở có nguồn gốc từ Việt Nam, chứ không phải là món được biến tấu từ các món du nhập từ nước ngoài vào. Bởi vì người Thăng Long - Hà Nội khi đó cũng sáng tạo ra khá nhiều món ăn, bởi vì có khá nhiều thành phần trung lưu, có thời gian, có tiền bạc, và rất tinh tế cầu kỳ trong các thú ăn chơi. Người Hà Nội khi đó đã “biến hóa” khá nhiều món ăn từ các vùng quê trở thành món ăn Hà Nội, có sự “tinh hóa”, cầu kỳ…

Nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến cho biết, ông đã ấp ủ và theo đuổi ý định tìm hiểu nguồn gốc phở Việt Nam từ nhiều năm nay. Hành trình này có nhiều câu chuyện thú vị và cho thấy những cách mà cha ông chúng ta thay đổi như thế nào để có thể tạo nên và giữ được món phở đi qua nhiều thời đại. Đó cũng là lý do mà món phở đến nay đã theo chân người Việt đi khắp nơi trên thế giới, góp phần định hình bản sắc Việt qua ẩm thực, và cũng góp phần gìn giữ những giá trị xưa trong thời đại ngày nay.

Có thể bạn quan tâm

Giới thiệu giá trị văn hóa đặc trưng của cộng đồng các dân tộc tại Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam. (Ảnh: BTC)

Giới thiệu văn hóa Chăm Islam giữa lòng Thủ đô

Trong tháng 10, Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đoài Phương, Hà Nội) tổ chức chuỗi hoạt động văn hóa, du lịch với chủ đề “Sắc hương đại ngàn” quảng bá những giá trị văn hóa đặc trưng, tiêu biểu của cộng đồng các dân tộc. Điểm nhấn là giới thiệu không gian văn hóa Chăm Islam tỉnh An Giang. 

Vở diễn mang đến sự gặp gỡ ấn tượng giữa nghệ thuật và công nghệ. (Ảnh: Ban tổ chức)

“Sơn Thần Thủy Quái” - Sự gặp gỡ của nghệ thuật xiếc và công nghệ

Công diễn từ ngày 25/9 tại Hà Nội, vở kịch xiếc “Sơn Thần Thủy Quái” liên tục lấp kín hơn 1.200 chỗ ngồi tại Rạp Xiếc Trung ương. Sức hút ấy không chỉ đến từ những màn trình diễn kỹ thuật xiếc đặc sắc, mà còn ở cách công nghệ được kết hợp với chất liệu văn hóa dân gian để mở rộng ngôn ngữ biểu đạt của sân khấu.

Vương Thị Trang (bên trái) học nghề dệt vải, nhuộm chàm từ mẹ và các chị em trong bản.

Giữ sắc chàm bản địa trên trang phục truyền thống

Bao đời nay, sắc chàm đen huyền trên trang phục truyền thống là một vẻ đẹp riêng của người Nùng An - một nhánh của dân tộc Nùng ở Cao Bằng. Khi nghề dệt vải, nhuộm chàm đứng trước nguy cơ mai một, dự án Nùng Indigo của những người trẻ Cao Bằng đang nỗ lực tạo thêm không gian để gìn giữ và lan tỏa các giá trị văn hóa dân tộc.

Đại diện Ban tổ chức, Ban Giám khảo chụp ảnh kỷ niệm cùng các thí sinh tham gia cuộc thi. (Ảnh: Khánh Lan)

Hơn 700 thiếu nhi Việt Nam và quốc tế tham gia Cuộc thi vẽ tranh “Em yêu Hà Nội - Thành phố vì hòa bình”

Cuộc thi vẽ tranh quốc tế góp phần quảng bá hình ảnh Hà Nội - Thành phố vì hòa bình, Thành phố sáng tạo, “Văn hiến - Văn minh - Hiện đại - Hạnh phúc”, đồng thời giáo dục thiếu nhi về tình yêu quê hương, đất nước, tình yêu hòa bình và tinh thần đoàn kết, hữu nghị giữa thiếu nhi Việt Nam với bạn bè quốc tế.

Di tích quốc gia đặc biệt Tháp Pô Klong Garai (phường Đô Vinh) - nơi diễn ra nghi thức chính của Lễ hội Katê hằng năm. (Ảnh: NGUYỄN TRUNG)

Khánh Hòa: Sẵn sàng vui đón Lễ hội Katê 2026

Những ngày đầu tháng 10, không khí đón Lễ hội Katê đã rộn ràng khắp các làng Chăm ở phía nam tỉnh Khánh Hòa. Từ những con đường làng rực rỡ sắc màu đến các đền, tháp cổ kính, mọi công việc chuẩn bị đang khẩn trương hoàn tất. 

Kể chuyện phố phường và con người Hà Nội qua triển lãm “Mơ về nơi bắt đầu”

Kể chuyện phố phường và con người Hà Nội qua triển lãm “Mơ về nơi bắt đầu”

Ba họa sĩ, ba phong cách nghệ thuật, nhưng có một điểm chung là tình yêu và những miền ký ức gắn với Hà Nội. Triển lãm chung mang tên “Mơ về nơi bắt đầu” tại Trung tâm Nghệ thuật Area 75 – Art & Auction là nơi các họa sĩ Bùi Tuấn Thanh, Đỗ Doãn Châu và Doãn Hoàng Lâm kể chuyện về con người và thành phố qua hội họa.

Hàng chục nghìn người dân Lai Châu tham dự đêm nhạc Viettel Y-Fest vào tối 3/10 tại Quảng trường nhân dân tỉnh Lai Châu.

Một đêm nhạc, nhiều điểm chạm ở Lai Châu

Chương trình Viettel Y-Fest 2026 lần đầu tiên được tổ chức tại Lai Châu không chỉ mang đến một đêm nhạc sôi động, mà còn mở ra không gian kết nối văn hóa, cảnh quan, ẩm thực và sản phẩm địa phương, góp phần lan tỏa hình ảnh Lai Châu đến với nhiều du khách.

Nghệ sĩ Nhân dân Đồng Văn Minh biểu diễn đàn tre lắc tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam. (Ảnh nhân vật cung cấp)

Không gian âm nhạc dân tộc

Theo đề án được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phê duyệt thì đến năm 2031 Dàn nhạc Dân tộc quốc gia Việt Nam được định hướng trở thành một “không gian nghệ thuật âm nhạc truyền thống Việt Nam”, phục vụ các hoạt động văn hóa trong nước và quốc tế.

Sự kiện nằm trong chuỗi hoạt động của Lễ hội văn hóa thế giới tại Hà Nội lần thứ hai, diễn ra từ ngày 1-4/10 với chủ đề “Hội tụ di sản-Kiến tạo tương lai”. (Ảnh: MINH DUY)

[Ảnh] Gặp gỡ văn hóa, giao lưu nhân dân và kết nối quốc tế tại "Sắc màu năm châu"

Chiều 3/10, phố đi bộ hồ Hoàn Kiếm trở thành không gian giao lưu văn hóa sôi động khi hàng nghìn nghệ sĩ, nghệ nhân và người dân cùng tham gia Lễ hội đường phố “Sắc màu năm châu”. Những trang phục truyền thống, tiết mục nghệ thuật và vũ điệu sôi nổi đến từ nhiều quốc gia đã tạo nên một bức tranh văn hóa đa dạng giữa lòng Thủ đô.

Một buổi dạy đàn Chapi của nghệ nhân xã Phước Hà, tỉnh Khánh Hòa cho học sinh Trường Phổ thông Dân tộc bán trú trung học cơ sở Phước Hà. (Ảnh: NGUYỄN TRUNG)

Khánh Hòa: Học sinh Raglai nối dài tiếng đàn Chapi giữa núi rừng

Từ năm học 2026-2027, đàn Chapi được đưa vào giảng dạy tại Trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở Phước Hà, xã Phước Hà, tỉnh Khánh Hòa. Qua từng nhịp đàn còn vụng về của học trò, âm thanh mộc mạc của núi rừng đang được đánh thức, góp phần gìn giữ và trao truyền di sản văn hóa của đồng bào Raglai cho thế hệ mai sau.

Tổ đình Thiền Tôn đang lưu giữ nhiều di sản tư liệu Hán Nôm cổ. (Ảnh: PHÙNG QUỐC ANH)

Đánh thức tư liệu cổ từ di sản Phật giáo Huế

Giữa sương sớm núi Thiên Thai, tiếng chuông Tổ đình Thiền Tôn ngân lên từ không gian đã hơn ba thế kỷ. Trong ngôi cổ tự gắn với dòng thiền Liễu Quán, những mộc bản, kinh sách và tư liệu Hán Nôm vẫn âm thầm lưu giữ dấu tích Phật giáo Huế, vừa chứa đựng những lớp ký ức về lịch sử, văn hóa và văn hiến vùng đất Cố đô.

Đội biểu diễn Taekwondo quốc gia trực thuộc Hiệp hội Taekwondo Hàn Quốc. (Ảnh: Ban tổ chức cung cấp)

Ngày văn hóa Việt Nam-Hàn Quốc tại Phú Quốc năm 2026

Hướng tới kỷ niệm 35 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Hàn Quốc (1992-2027) và Hội nghị cấp cao APEC 2027 tại đặc khu Phú Quốc, Đại sứ quán Hàn Quốc tại Việt Nam và Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang đồng chủ trì tổ chức chương trình “Ngày văn hóa Việt Nam-Hàn Quốc tại Phú Quốc năm 2026” từ ngày 3-4/10.

Các đại biểu và diễn giả tại Hội thảo. (Ảnh: Ban tổ chức)

Đưa di sản, tài nguyên văn hóa trở thành tài sản sở hữu trí tuệ

Hội thảo “Culture Tech 2026: From Culture to IP” trong khuôn khổ iTECH EXPO 2026 đã đặt ra những gợi mở về việc đưa di sản, tài nguyên văn hóa trở thành những tài sản sở hữu trí tuệ mang giá trị kinh tế cao, theo định hướng của Nghị quyết 80-NQ/TW, chuyển văn hóa thành nguồn lực, đóng góp vào phát triển kinh tế.