Ðể Quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp hoạt động hiệu quả

Ðể Quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp hoạt động hiệu quả

Hằng năm, Quốc hội phân bổ 2% tổng chi ngân sách (tương đương khoảng 0,5% GDP) cho KH và CN, nhằm đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu và áp dụng thành tựu KH và CN phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. So với nhiều nước trên thế giới, nguồn chi cho KH và CN ở Việt Nam rất thấp. Trong điều kiện ngân sách còn hạn hẹp, việc huy động các nguồn vốn đầu tư cho KH và CN từ khu vực doanh nghiệp là giải pháp cần thiết để phát triển KH và CN nước nhà, mà Quỹ phát triển KH và CN trong doanh nghiệp là một phương thức quan trọng.

Hiện nay, tỷ trọng đầu tư cho KH và CN của doanh nghiệp chỉ khoảng 1% GDP và tập trung vào các doanh nghiệp lớn, chủ yếu là doanh nghiệp nhà nước. Với khoảng 400 nghìn doanh nghiệp (năm 2010), có thể huy động được khoảng 20 nghìn tỷ đồng mỗi năm đầu tư cho KH và CN. Vấn đề là cần có một cơ chế huy động, quản lý và sử dụng thích hợp để nguồn lực đầu tư cho KH và CN tại doanh nghiệp phát huy hiệu quả.

Theo các nghiên cứu tại Việt Nam, đầu tư cho nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ tại các doanh nghiệp chiếm một tỷ lệ rất hạn chế, nhất là trong lĩnh vực công nghiệp. Theo số liệu của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, các doanh nghiệp cơ khí - điện tử chỉ dành chưa đến 1% doanh thu cho các hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, cao nhất là các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành chế biến thực phẩm với 2,9% doanh thu (số liệu năm 2003).

Thực tế cho thấy, mức đầu tư bình quân cho nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của một tập đoàn lớn của Nhà nước chỉ đạt từ 5,8 tỷ đồng (năm 2005) đến 8,5 tỷ đồng (năm 2007), trong khi mức lợi nhuận trước thuế là hàng nghìn tỷ đồng. Như vậy, tỷ suất đầu tư cho KH và CN trên lợi nhuận trước thuế là không đáng kể. Ðây là rào cản lớn cho việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói riêng, của quốc gia nói chung, cũng như việc cải thiện chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Do vậy, đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ là yếu tố then chốt quyết định sự phát triển lâu dài, bền vững của Việt Nam. Ngoài đầu tư cho nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ tại các viện nghiên cứu, trường đại học thì đầu tư cho nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ tại các doanh nghiệp là rất quan trọng, trong đó việc tạo lập, quản lý và sử dụng có hiệu quả Quỹ phát triển KH và CN trong doanh nghiệp là yếu tố đặc biệt quan trọng.

Về pháp lý, Nhà nước khuyến khích doanh nghiệp thành lập Quỹ phát triển KH và CN để đầu tư cho hoạt động KH và CN, nhằm nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua nghiên cứu, ứng dụng, đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm, hợp lý hóa sản xuất của doanh nghiệp.

Ðể có thể khai thông nguồn vốn của doanh nghiệp đầu tư cho KH và CN thông qua quỹ này, chúng tôi kiến nghị các cấp có thẩm quyền cần sớm xem xét và ban hành các quy định có liên quan.

Một là, cần sớm sửa đổi, bổ sung các quy định tại Quyết định số 36/2007/QÐ-BTC ngày 16-5-2007 của Bộ Tài chính ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của quỹ phát triển KH và CN của các tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp cho phù hợp với các quy định hiện hành cũng như thực tế hoạt động của doanh nghiệp.

Hai là, ban hành sửa đổi, bổ sung các quy định về chế độ kế toán, quản lý tài chính doanh nghiệp, thuế có liên quan đến quỹ phát triển KH và CN trong doanh nghiệp.

Ba là, Nhà nước cần sớm ban hành các quy định xác lập cơ chế quản lý đối với sự hoạt động của quỹ, hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng của quỹ phát triển KH và CN trong doanh nghiệp cũng như trong nền kinh tế. Ðồng thời, Nhà nước cũng sớm đưa các chính sách hỗ trợ để đẩy mạnh phát triển thị trường công nghệ, chính sách tài chính, đất đai..., nhằm khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào KH và CN, tạo nên một sức mạnh đột phá cho nền KH và CN nước nhà trong giai đoạn mới.

Có thể bạn quan tâm

Tiến sĩ Lê Xuân Huy, Phó Tổng Giám đốc VNSC và ông Yasuo Ishii, Phó Chủ tịch cấp cao JAXA trao thỏa thuận hợp tác. (Ảnh: VNSC)

Trung tâm Vũ trụ Việt Nam ký thỏa thuận hợp tác với Cơ quan Hàng không Vũ trụ Nhật Bản

Ngày 2/5, tại Hà Nội, lãnh đạo Trung tâm Vũ trụ Việt Nam (VNSC) và lãnh đạo Cơ quan Hàng không vũ trụ Nhật Bản (JAXA) đã ký kết, trao đổi “Văn bản Sửa đổi thỏa thuận giữa Trung tâm Vũ trụ Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam với Cơ quan Hàng không vũ trụ Nhật Bản về trao đổi dữ liệu vệ tinh”.

Đào tạo an ninh mạng tại CyRadar giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực phòng thủ.

Tăng năng lực phòng vệ của doanh nghiệp

Chuyển đổi số đang mở ra nhiều cơ hội tăng trưởng cho doanh nghiệp Việt Nam nhưng cũng kéo theo những rủi ro an ninh mạng phức tạp. Khi dữ liệu trở thành tài sản chiến lược, khả năng bảo vệ hệ thống và thông tin không còn là vấn đề kỹ thuật mà trở thành năng lực phòng vệ quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp.

UAV được thử nghiệm phun thuốc cho cây cà-phê tại xã Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.

Cơ chế sandbox đã sang giai đoạn triển khai thực tế

Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết, bên cạnh chuẩn bị cấp phép mô hình thử nghiệm có kiểm soát đầu tiên về phát triển kinh tế tầm thấp, ứng dụng phương tiện bay không người lái (UAV) tại tỉnh Điện Biên, một số địa phương, doanh nghiệp cũng bày tỏ quan tâm đến việc triển khai thử nghiệm mô hình sandbox.

Định vị vị thế Việt Nam trên bản đồ sở hữu trí tuệ toàn cầu

Định vị vị thế Việt Nam trên bản đồ sở hữu trí tuệ toàn cầu

Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, sở hữu trí tuệ ngày càng khẳng định vai trò là một trụ cột quan trọng của nền kinh tế tri thức. Những năm qua, Việt Nam đã chủ động hoàn thiện thể chế, từng bước xây dựng hệ thống sở hữu trí tuệ tương thích với chuẩn mực quốc tế và đạt được nhiều kết quả tích cực.

Bảo đảm pháp lý khi chuyển chất xám trí tuệ thành dòng vốn trên thị trường

Bảo đảm pháp lý khi chuyển chất xám trí tuệ thành dòng vốn trên thị trường

Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025 được thông qua cho thấy những vấn đề pháp lý sở hữu trí tuệ đã được điều chỉnh gần và sát thực tiễn hiện nay. Trong đó, việc định giá tài sản sở hữu trí tuệ làm tài sản bảo đảm đang là nội dung thu hút sự quan tâm của đông đảo dư luận, nhất là với giới khởi nghiệp liên quan đổi mới sáng tạo.

Các sản phẩm của Hợp tác xã sản xuất và tiêu thụ dược liệu Yên Sơn (thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình) tăng mạnh về số lượng bán ra thị trường nhờ thực hiện truy xuất nguồn gốc. (Ảnh: Hà An)

Hạ tầng số nông nghiệp và môi trường

Việc nhanh chóng xây dựng hạ tầng số cho ngành nông nghiệp và môi trường không chỉ để đáp ứng các điều kiện cần của thị trường mà còn là cơ sở cho quá trình chuẩn hóa kỹ thuật, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và nâng cao chất lượng cuộc sống của con người.