Để nghề sản xuất tôm giống ở Khánh Hòa phát triển bền vững

Buổi sáng ở khu sản xuất giống thủy sản công nghệ cao An Hải (xã Phước Dinh, tỉnh Khánh Hòa) bắt đầu bằng thứ âm thanh quen thuộc: tiếng máy sục khí rì rầm vang đều trong các dãy trại nối dài. Dưới những mái che bạc màu vì nắng gió miền biển, hàng triệu con tôm giống đang lặng lẽ lớn lên. 

Bộ phận kỹ thuật của Công ty trách nhiệm hữu hạn Sản xuất giống thủy sản Tuấn Hà, xã Vĩnh Hải, tỉnh Khánh Hòa kiểm tra quá trình sinh trưởng của tôm giống trong thời gian ươm dưỡng. (Ảnh: NGUYỄN TRUNG).
Bộ phận kỹ thuật của Công ty trách nhiệm hữu hạn Sản xuất giống thủy sản Tuấn Hà, xã Vĩnh Hải, tỉnh Khánh Hòa kiểm tra quá trình sinh trưởng của tôm giống trong thời gian ươm dưỡng. (Ảnh: NGUYỄN TRUNG).

Ít ai nghĩ rằng, từ những bể ươm chật hẹp ấy đang mang lại sinh kế cho cả một vùng ven biển.

Đứng trầm ngâm trước khu trại đã gắn bó nhiều năm, ông Lê Văn Quê, Chủ tịch Hiệp hội Giống thủy sản Khánh Hòa chậm rãi kể, như nhắc lại một hành trình dài đã in hằn trong ký ức: “Thương hiệu tôm giống Khánh Hòa không tự nhiên mà có. Đó là kết quả của hàng chục năm tích lũy kinh nghiệm, giữ kỷ luật sản xuất và tạo dựng uy tín với người nuôi trên khắp cả nước”.

Giữ thương hiệu từ con giống nhỏ bé

Hơn 30 năm trước, nghề sản xuất giống thủy sản ở khu vực phía nam tỉnh Khánh Hòa khởi đầu từ những cơ sở nhỏ lẻ ven biển. Trong điều kiện còn nhiều thiếu thốn, người làm nghề vừa học hỏi, vừa trả giá bằng những vụ thất bại để rút kinh nghiệm. Cũng từ những mẻ giống ấy, niềm tin dần được gây dựng.

Theo thời gian, bằng sự bền bỉ và chắt chiu, đã hình thành nên “thủ phủ” tôm giống của cả nước. Hiện, các cơ sở sản xuất giống tập trung chủ yếu tại hai khu quy hoạch lớn là An Hải (xã Phước Dinh) và Nhơn Hải (xã Vĩnh Hải), với tổng diện tích hơn 300ha, quy tụ hơn 500 cơ sở. Năng lực cung ứng đạt khoảng 50 tỷ con tôm giống mỗi năm, trong đó có sự tham gia của nhiều doanh nghiệp, tập đoàn lớn trong ngành.

ndo_br_2-2421.jpg
Các cơ sở sản xuất tôm giống ở Khánh Hòa vừa học hỏi, vừa trả giá bằng những vụ thất bại, rút kinh nghiệm để tạo ra những mẻ giống chất lượng, cung ứng cho thị trường nuôi thương phẩm trên cả nước.

Năm 2025, dù thị trường còn nhiều biến động, chi phí đầu vào tăng cao, nhưng qua con số thống kê, phần nào cho thấy sức bền của nghề, đó là sản lượng tôm giống nước lợ của Khánh Hòa vẫn tăng 11,2% so năm trước, đáp ứng hơn 31% nhu cầu tôm giống cả nước. Cụ thể, địa phương sản xuất hơn 9,13 tỷ con tôm sú giống (chiếm 18,6% sản lượng cả nước) và hơn 40,85 tỷ con tôm thẻ chân trắng giống (chiếm 36,8%).

ndo_br_4-9941.jpg
Năm 2025, dù thị trường còn nhiều biến động nhưng sản lượng tôm giống nước lợ của Khánh Hòa vẫn tăng 11,2% so năm trước, đáp ứng hơn 31% nhu cầu tôm giống cả nước.

Theo các cơ quan chuyên môn, chất lượng con giống là “điểm tựa sinh tử” của nghề. Do đó, từ khâu nhập khẩu tôm bố mẹ, cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện ươm dưỡng, đến kiểm soát thức ăn, chế phẩm xử lý môi trường và quan trắc nước sản xuất đều được siết chặt. Chính sự nghiêm ngặt ấy đã tạo nên uy tín cho thương hiệu tôm giống Khánh Hòa không chỉ bằng sản lượng, mà bằng niềm tin của người nuôi thương phẩm suốt nhiều năm qua.

ndo_br_img-2029-948.jpg
Các cơ sở sản xuất tôm giống ở Khánh Hòa luôn tuân thủ việc kiểm soát, xử lý môi trường và quan trắc nước, cho nên sản phẩm luôn bảo đảm chất lượng, góp phần xây dựng thương hiệu tôm giống Khánh Hòa ngày càng lan tỏa.

Những nỗi lo phía sau tăng trưởng

Tuy nhiên, phía sau bức tranh tăng trưởng là không ít gam màu trầm. Nhiều chủ cơ sở sản xuất thẳng thắn cho biết, sau hơn 20 năm vận hành, hạ tầng tại khu An Hải đã xuống cấp rõ rệt. Ở Nhơn Hải, hệ thống giao thông, cấp thoát nước, thu gom và xử lý nước thải vẫn chưa được đầu tư đồng bộ, gây áp lực ngày càng lớn cho sản xuất.

ndo_br_6-5.jpg
Nhiều cơ sở sản xuất giống ốc hương và nuôi thương phẩm không tuân thủ nghiêm các quy định về bảo vệ môi trường, tự lắp đặt hệ thống xả thải trực tiếp ra biển, khiến môi trường nước suy giảm chất lượng, dễ nảy sinh mầm bệnh, ảnh hưởng đến các cơ sở sản xuất tôm giống.

Đáng lo hơn, dọc ven biển gần các khu sản xuất tôm giống xuất hiện nhiều cơ sở sản xuất ốc hương giống và nuôi thương phẩm không tuân thủ nghiêm các quy định về bảo vệ môi trường. Việc tự lắp đặt hệ thống xả thải trực tiếp ra biển khiến môi trường nước suy giảm chất lượng, trong khi các trại giống lại đặc biệt nhạy cảm với biến động môi trường và mầm bệnh.

ndo_br_7-3241.jpg
Một hệ thống mương xả nước thải không tuân thủ quy định về môi trường từ các trại sản xuất giống ốc hương ra biển nhiều năm qua vẫn chưa được xử lý, ngăn chặn.

Ngoài khơi, hàng trăm lồng bè nuôi thương phẩm các loại hải sản khác cũng góp phần gia tăng áp lực. Chất thải từ thức ăn sống tích tụ mỗi ngày khiến vùng nước ven bờ ngày càng “nặng gánh”, vì thế rủi ro dịch bệnh luôn thường trực.

ndo_br_10-1808.jpg
Hàng trăm lồng bè nuôi thương phẩm các loại hải sản khác xả chất thải là thức ăn sống tích tụ mỗi ngày khiến vùng nước ven bờ ngày càng ô nhiễm nặng, ảnh hưởng tiêu cực đến các cơ sở xuất tôm giống ở địa phương.

Một bài toán mang tính chiến lược khác là nguồn tôm bố mẹ. Dù Khánh Hòa được quy hoạch trở thành trung tâm sản xuất giống thủy sản quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn 2045, nhưng hiện nay, nguồn tôm bố mẹ vẫn chủ yếu phụ thuộc vào nhập khẩu, giá cả đầu vào thiếu ổn định. Không ít doanh nghiệp tâm huyết với mục tiêu nghiên cứu, chọn tạo tôm bố mẹ mang thương hiệu Khánh Hòa, song con đường này vẫn còn nhiều rào cản.

ndo_br_3-5505.jpg
Nguồn tôm bố mẹ chủ yếu phụ thuộc vào nhập khẩu, khiến cho chi phí sản xuất của doanh nghiệp tăng, ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh sản phẩm trên thị trường.

Ông Lê Văn Quê nhìn nhận thẳng thắn: “Chỉ khoảng 10% cơ sở sản xuất giống có quy mô lớn, đủ sức chủ động thị trường. Phần còn lại chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ, sản xuất theo mùa vụ. Vì vậy, câu chuyện ‘được mùa, mất giá’ vẫn lặp đi lặp lại. Nếu không có giải pháp căn cơ, rất khó nói đến phát triển bền vững”.

Con đường dài phía trước

Theo đại diện lãnh đạo Chi cục Thủy sản và Biển đảo tỉnh Khánh Hòa đặt mục tiêu đến năm 2030 sản xuất đạt sản lượng hơn 60 tỷ con tôm giống mỗi năm; chủ động sản xuất 60% tôm thẻ chân trắng và 80% tôm sú bố mẹ gia hóa chất lượng cao. Chìa khóa nằm ở nghiên cứu, gia hóa và chọn tạo các dòng tôm bố mẹ có tốc độ tăng trưởng nhanh, khả năng kháng bệnh tốt,… là nền tảng để giảm phụ thuộc nhập khẩu và nâng cao sức cạnh tranh cho toàn chuỗi ngành hàng.

Ở tầm quản lý, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa Lê Huyền cho biết, tỉnh tập trung vào ba nhóm nhiệm vụ trọng tâm: chủ động nguồn tôm bố mẹ trong nước; nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước; và áp dụng nghiêm ngặt các giải pháp an toàn sinh học. Theo đó, các cơ sở sản xuất được khuyến khích xây dựng mô hình “cơ sở an toàn dịch bệnh”, kiểm soát chặt nguồn nước, môi trường sản xuất, đồng thời tổ chức sản xuất luân phiên giữa các phân khu độc lập để ngắt mạch lây lan dịch bệnh, nâng cao chất lượng và sản lượng.

5-7329.jpg
Thương hiệu tôm giống của các cơ sở tại Khánh Hòa luôn được thị trường nuôi thương phẩm đánh giá đạt chất lượng cao.

Giữa những dãy trại giống lấp lánh nước dưới cái nắng miền biển, những con tôm giống bé nhỏ vẫn ngày ngày được ươm dưỡng, mang theo kỳ vọng của người làm nghề. Tuy nhiên, để giữ vững thương hiệu tôm giống Khánh Hòa, không chỉ là câu chuyện của hiện tại, mà là hành trình dài hơi, đòi hỏi cần có sự đầu tư căn cơ từ con giống, hạ tầng, môi trường đến niềm tin của người nuôi trên khắp mọi miền.

Đặc biệt, cần có quy hoạch cụ thể vùng sản xuất tôm giống riêng biệt với vùng sản xuất và nuôi thương phẩm các loài thủy sản khác để tránh hệ lụy ô nhiễm môi trường nước do thức ăn thừa từ các lồng bè nuôi thải bừa bãi xuống biển.

Có thể bạn quan tâm

Phân luồng giao thông trục đường Nguyễn Thị Minh Khai phục vụ thi công tuyến Metro số 2. (Ảnh: QUÝ HIỀN)

TP Hồ Chí Minh: Thi công tuyến Metro số 2 Bến Thành-Tham Lương theo phương châm “làm đến đâu gọn đến đó”

Tại cuộc họp báo thường kỳ chiều 15/10, Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh nhận định, việc điều tiết, phân luồng giao thông phục vụ thi công Metro số 2 trên tinh thần “làm đến đâu gọn đến đó”, nhằm bảo đảm giao thông thông suốt và giảm thiểu thấp nhất ảnh hưởng đến việc đi lại của người dân.

[Infographic] Chứng khoán ngày 15/10: VN-Index giảm 14,55 điểm, khối ngoại tiếp tục bán ròng

[Infographic] Chứng khoán ngày 15/10: VN-Index giảm 14,55 điểm, khối ngoại tiếp tục bán ròng

Thị trường tiếp tục giảm điểm phiên thứ 5 liên tiếp. Kết phiên 15/10, VN-Index giảm 14,55 điểm (-0,85%) về mức 1.704,87 điểm. Độ rộng trên HoSE tiêu cực. Thanh khoản thị trường tăng nhẹ, khối lượng giao dịch khớp lệnh giảm 2,9% so phiên trước. Khối ngoại tiếp tục bán ròng với giá trị 772,7 tỷ đồng trên HoSE.

Ứng dụng công nghệ và đổi mới phương thức quản lý hải quan góp phần giảm thời gian, chi phí cho doanh nghiệp. (Ảnh: Cục Hải quan)

Giảm chi phí cho doanh nghiệp từ đổi mới quản lý hải quan

Cải cách hải quan đang chuyển từ cắt giảm thủ tục sang đổi mới quy trình xử lý hồ sơ, phân bổ nguồn lực kiểm tra và khai thác dữ liệu. Kết quả bước đầu của mô hình thông quan tập trung cùng việc số hóa chứng từ đặt ra yêu cầu triển khai đồng bộ về thể chế, công nghệ và nhân lực để giảm thời gian, chi phí cho doanh nghiệp.

Cát thi công san lấp là nguồn vật liệu khan hiếm tại các công trình trọng điểm của Thành phố. (Ảnh: QUÝ HIỀN)

Gỡ điểm nghẽn vật liệu, đẩy nhanh tiến độ các công trình trọng điểm

Thành phố Hồ Chí Minh dự kiến huy động 55 triệu m³ cát biển làm vật liệu san lấp, mở thêm nguồn cung cho các công trình hạ tầng trọng điểm trong bối cảnh nhu cầu vật liệu tăng cao. Tuy nhiên, từ nguồn tài nguyên đến công trường là cả chuỗi công việc liên quan đến thủ tục, chất lượng, vận chuyển và điều phối...

Thiết bị, công nghệ tinh luyện vonfram hàng đầu thế giới được kỹ sư Việt Nam tiếp nhận, vận hành hoàn hảo và cải tiến để tối ưu trong vận hành. (Ảnh: THẾ BÌNH)

Từ thu hút FDI đến làm chủ công nghệ

Vượt qua mục tiêu vốn đầu tư và giải quyết việc làm, yêu cầu then chốt đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) hiện nay là chuyển giao công nghệ, phát triển R&D (Nghiên cứu và Phát triển), đồng thời, thúc đẩy doanh nghiệp trong nước tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu. 

Kinh tế sinh học đang vươn lên trở thành một trụ cột chiến lược cốt lõi định hình lại mô hình tăng trưởng của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. (Ảnh: HNV)

Kinh tế sinh học và thương mại hóa công nghệ sinh học, động lực tăng trưởng mới trong kỷ nguyên số

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi xanh, kinh tế sinh học đang vươn lên trở thành một trụ cột chiến lược cốt lõi định hình lại mô hình tăng trưởng của nhiều quốc gia. Việt Nam cũng không nằm ngoài bối cảnh đó, nhất là khi nước ta đang đẩy nhanh tiến độ đáp ứng cam kết phát thải ròng bằng 0 (net-zero) vào năm 2050.

Lãnh đạo Trung ương và tỉnh Tây Ninh ấn nút khởi động hai dự án thành phần đường Vành đai 4 Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: THANH PHONG)

Tây Ninh khởi động hai dự án thành phần đường Vành đai 4 Thành phố Hồ Chí Minh

Ngày 15/10, tỉnh Tây Ninh tổ chức lễ khởi động Dự án thành phần 2-4 và 2-5 thuộc Dự án đường Vành đai 4 Thành phố Hồ Chí Minh, với tổng chiều dài khoảng 78,3km, tổng mức đầu tư khoảng 43.298 tỷ đồng. Công trình kỳ vọng mở rộng không gian phát triển, tăng cường kết nối vùng và tạo động lực tăng trưởng mới cho địa phương.

Muốn tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, doanh nghiệp cần xây dựng hệ sinh thái liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước. (Ảnh: KIM DUNG)

Nâng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt Nam

Gia tăng tỷ lệ nội địa hóa là bài toán thay thế nguồn hàng nhập khẩu, đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực công nghệ, quản trị chất lượng và khả năng cung ứng ổn định. Muốn tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, doanh nghiệp cần xây dựng hệ sinh thái liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước.

Lãnh đạo EVN, TKV, Tổng Công ty Đông Bắc chủ trì cuộc họp Ban Chỉ đạo điều hành cấp than cho sản xuất điện, phiên 2 năm 2026. (Ảnh: EVN cung cấp)

Bảo đảm cung cấp đủ than cho sản xuất điện cuối năm 2026 và năm 2027

Trong bối cảnh nhu cầu điện tiếp tục tăng, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) phối hợp các đơn vị cung cấp than chủ động nguồn nhiên liệu, bảo đảm hoạt động của các nhà máy nhiệt điện trong những tháng cuối năm 2026 và năm 2027. Dự kiến nhu cầu than cho các nhà máy thuộc EVN trong 3 tháng cuối năm khoảng 9,68 triệu tấn. 

Quang cảnh hội nghị (Ảnh: ITPC)

Kết nối doanh nghiệp Việt với kênh HORECA

Ngày 15/10, Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh (ITPC) phối hợp Hiệp hội Doanh nghiệp Trung và Đông Âu tại Việt Nam (ECCE) tổ chức Hội nghị Kết nối với hệ thống kênh nhà hàng, khách sạn với chủ đề “HORECA-Hiểu đúng để đi xa”.

Ảnh: THÀNH ĐẠT

Giá vàng ngày 15/10: Thế giới lấy lại đà tăng, trong nước đi ngang

Giá vàng thế giới hôm nay (15/10) bật tăng trở lại lên mức 4.140,8 USD/ounce nhờ lực cầu bắt đáy, bất chấp áp lực từ lạm phát Mỹ và lợi suất trái phiếu tăng. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn SJC chững lại sau phiên giảm sâu trước đó, niêm yết lần lượt ở mức 143,3 triệu đồng/lượng và 142,8 triệu đồng/lượng.

Tuyến tàu điện nhẹ (LRT) được vận hành trên trục đường ĐT.975 là những "mắt xích" trong chuỗi hạ tầng đang được triển khai đồng thời tại Phú Quốc. (Ảnh phối cảnh minh họa: Sun Group)

Tham vọng “thanh toán không chạm” khi vận hành tuyến tàu điện nhẹ (LRT) tại Phú Quốc

Hướng tới Hội nghị cấp cao APEC 2027, trước yêu cầu của “bài toán” đón dòng khách quốc tế dài hạn, tuyến tàu điện nhẹ (LRT) Phú Quốc được định hướng đáp ứng những tiêu chuẩn quốc tế khắt khe về an toàn, dịch vụ và trải nghiệm, từ khâu tổ chức vận hành đến phương thức “thanh toán không chạm”.

Khai mạc Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Đà Nẵng lần thứ 5. (Ảnh: ANH ĐÀO)

Khai mạc Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Đà Nẵng lần thứ 5

Sáng 15/10, Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Đà Nẵng tổ chức khai mạc Hội nghị lần thứ 5 nhằm đánh giá toàn diện kết quả thực hiện nhiệm vụ công tác 9 tháng đầu năm, bàn phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm 3 tháng cuối năm 2026 và cho ý kiến các nội dung theo Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố.

Các diễn giả tham dự Hội thảo “Chính sách tín dụng và thị trường Carbon: Khơi thông dòng vốn xanh”. (Ảnh: PV)

Doanh nghiệp phải chuẩn hóa lộ trình chuyển đổi để đón dòng vốn xanh

Các tổ chức tài chính Việt Nam đã sẵn sàng nguồn lực lớn để phân bổ cho các dự án xanh, tuy nhiên dòng vốn tín dụng xanh vẫn khó đến tay doanh nghiệp. Bài toán đặt ra hiện nay không nằm ở sự thiếu hụt nguồn cung, mà đòi hỏi doanh nghiệp phải xây dựng lộ trình chuẩn hóa việc chuyển đổi xanh trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.